Hôm nay44
Tháng này1588
Năm này31628
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
HUYỆN BẢO LÂM
(Trích từ báo cáo kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2024
của Chi cục Thống kê khu vực Bảo Lộc - Bảo Lâm)
1. Đánh giá chung
Trong 9 tháng năm 2024, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn huyện Bảo Lâm tiếp tục có sự phát triển. Tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp tăng trưởng ổn định; hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu cho công tác chăm sóc và bảo vệ rừng; thương mại - dịch vụ và có sự tăng trưởng khá.
2. Tình hình hoạt động SX kinh doanh một số ngành, lĩnh vực chủ yếu
2.1. Tài chính, tín dụng
Lũy kế 9 tháng năm 2024, thu NSNN địa phương ước đạt 771,69 tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ; trong đó, thu thuế, phí trên địa bàn ước đạt 552,4 tỷ đồng, giảm 21,6% so với cùng kỳ. Phần huyện quản lý ước đạt 336,3 tỷ đồng, tăng 43% so với cùng kỳ; trong đó, thu thuế, phí ước đạt 118 tỷ đồng, giảm 5,7% so với cùng kỳ, thu phần huyện quản lý đạt khá, chủ yếu ở phần bán và cho thuê đất tăng cao so với năm 2023.
Lũy kế 9 tháng đầu năm, chi ngân sách địa phương ước đạt 650 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ. Trong tổng số chi ngân sách địa phương, chi đầu tư thực hiện 179,2 tỷ đồng, chiếm 27,6%; chi sự nghiệp kinh tế 11,9 tỷ đồng, chiếm 1,8%; chi sự nghiệp giáo dục đạt 266,8 tỷ đồng, chiếm 41%; chi sự nghiệp y tế 28 tỷ đồng, chiếm 4,3%; chi quản lý hành chính cấp huyện 108,3 tỷ đồng, chiếm 16,7% tổng chi ngân sách.
Ước 9 tháng năm 2024, các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng trên địa bàn đã cho 11.363 lượt hộ vay, với doanh số 9.690 tỷ đồng, tăng 8,16% so với cùng kỳ; thu nợ 9.182 tỷ đồng, tăng 12,05% so với cùng kỳ. Tổng số dư nợ của các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng trên địa bàn đến thời điểm hiện nay là 9.372 tỷ đồng, tăng 10,27% so cùng kỳ.
2.2. Đầu tư, xây dựng
Lũy kế 9 tháng năm 2024, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 183 tỷ đồng, đạt 55,12% kế hoạch năm; trong đó, nguồn vốn từ ngân sách tỉnh 77,5 tỷ đồng, đạt 44,91% kế hoạch năm, vốn từ ngân sách huyện 105,5 tỷ đồng, đạt 66,19% kế hoạch năm.
Các công trình đầu tư thực hiện năm 2024 tập trung vào GTNT, trường học và các công trình QLNN& ANQP, đa số đều là các công trình chuyển tiếp của năm 2023; trong đó, các công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn huyện gồm có chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được chú trọng hơn cả.
2.3. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.3.1. Sản xuất nông nghiệp
* Cây hàng năm: Trong tháng 9, bà con nông dân trên địa bàn huyện Bảo Lâm tiếp tục thu hoạch cây hàng năm vụ hè thu ước đạt 740 ha, tăng 1,07% so với cùng kỳ; trong đó, diện tích ngô thu hoạch 218,3 ha, sản lượng ước đạt 986,7 tấn; nhóm cây chất bột lấy củ 26,6 ha; nhóm cây lấy hạt chứa dầu 14,3 ha, chủ yếu đậu tương, đậu phộng. Nhóm cây rau các loại thu hoạch được 358,5 ha, tăng 2,05% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 5.431 tấn.
Trong tháng, bà con nông dân tiếp tục xuống giống gieo trồng vụ Mùa được 510,4 ha, tăng 1,03% so với cùng kỳ. Diện tích cây lương thực có hạt (chủ yếu là cây ngô) gieo trồng được 104,4 ha, tăng 0,87% so với cùng kỳ; cây chất bột lấy củ 32,1 ha, so với cùng kỳ diện tích tăng 0,63%. Diện tích rau, đậu và hoa các loại gieo trồng ước đạt là 274,3 ha, tăng so với cùng kỳ năm trước 1,74%.
Như vậy, trong 9 tháng năm 2024 diện tích gieo trồng ước đạt 1.802,3 ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ; trong đó, diện tích ngô gieo trồng được 421,7 ha, bằng 99,86% so với cùng kỳ; cây chất bột lấy củ là 86,5 ha; rau, đậu và hoa các loại gieo trồng 1.002,5 ha, tăng so với cùng kỳ năm trước 3,1%.
* Cây lâu năm:
Diện tích gieo trồng cây lâu năm trên địa bàn đến nay ước đạt 55.141,6 ha, tăng 0,54% so với năm 2023. Trong đó, chiếm phần lớn diện tích là cây cà phê, cây chè và cây ăn quả các loại.
Diện tích cà phê hiện có 37.015,5 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ, trong đó diện tích cà phê cho sản phẩm 34.750 ha, bằng 93% tổng diện tích. Cây cà phê là cây công nghiệp chủ lực của huyện nên các cơ quan chuyên môn của huyện luôn có chủ trương, chương trình hỗ trợ kinh phí cho việc chuyển đổi giống cho các hộ dân ở các xã khó khăn để phát triển sản xuất. Người dân đã chuyển đổi những vườn cây cà phê già, cằn cỗi, cho năng suất thấp sang trồng giống cà phê ghép, cao sản có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Cây chè diện tích ước đạt 5.845,6 ha, chiếm 10,6% tổng diện tích và bằng 99,28% so với cùng kỳ, diện tích chè có xu hướng giảm trong các năm gần đây, do công chăm sóc nhiều, giá cả thấp, lợi nhuận mang lại không cao so với các cây trồng khác. Sản lượng ước đạt 58.120 tấn, giảm 0,69% so cùng kỳ.
Diện tích cây ăn quả ước đạt 6.386,91 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ, chủ yếu tăng cây sầu riêng và cây bơ.
Công tác trồng mới, cải tạo và tái cánh cây lâu năm đến tháng 9 ước đạt 2.477,9 ha, tăng 7,38% so cùng kỳ; trong đó, cây chè 40,8 ha, cây cà phê 1.313 ha, bằng 109,81 % so cùng kỳ, cây ăn quả các loại 945,7 ha.
* Chăn nuôi:
- Tổng đàn heo đến nay ước đạt 16.954 con, giảm 4,33% so với cùng kỳ. Trong đó, đàn heo thịt 14.376 con, giảm 3,64% so cùng kỳ; đàn heo nái 916 con, giảm 14,31% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng 9 tháng đạt 3.044,5 tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ.
- Tổng đàn gia cầm hiện có 1.786,96 ngàn con, tăng 2,27% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó, đàn gà đạt 764,13 ngàn con, tăng 5,52% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 1.586 tấn, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Sản lượng trứng đạt 44.687 ngàn trứng, giảm 1,53% so với cùng kỳ. Số lượng đàn gà duy trì ổn định so với kỳ 1/7 kể cả đàn gà thịt và gà đẻ trứng.
2.3.2. Lâm nghiệp
Tổng số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp phát hiện đến nay là 09 vụ, so với năm 2023 giảm 06 vụ; trong đó, khai thác rừng trái phép 3 vụ, vi phạm các vấn đề về quản lý lâm sản 3 vụ, phá rừng trái phép 3 vụ với diện tích rừng thiệt hại 1,66 ha, lâm sản thiệt hại 290,7 m3 gỗ các loại. Kết quả xử lý 9 vụ, thu nộp ngân sách 293 triệu đồng.
2.3.3. Thủy sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn ước đạt 297,8 ha, tăng 1,53% so cùng kỳ; sản lượng ước 9 tháng đạt 671,6 tấn, tăng 2,47% so với cùng kỳ, các loại cá thường nuôi phù hợp với môi trường nước trên địa bàn: như cá rô phi, trắm cỏ, cá diêu hồng…
2.4. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất lũy kế 9 tháng năm 2024 (theo giá so sánh) ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 4,39% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất, chế biến thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 62,39% giá trị ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ước đạt 103,7 tỷ đồng, tăng 6,19% so với cùng kỳ; ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn ước đạt 27,7 tỷ đồng, chiếm 16,64% giá trị ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và tăng 8,71% so với cùng kỳ.
Giá trị sản xuất lũy kế 9 tháng (theo giá hiện hành) ước đạt 309,6 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cùng kỳ. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như: Ngành sản xuất, chế biến thực phẩm ước đạt 192,5 đồng, chiếm 62,73% toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo và tăng 12,42% so với cùng kỳ; ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn ước đạt 50,7 tỷ đồng, chiếm 16,57% toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo và tăng 8,65% so với cùng kỳ; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế đạt 24,4 tỷ đồng, tăng 2,15%; ngành sản xuất trang phục đạt 11,9 tỷ đồng, giảm 0,27% so với cùng kỳ.
2.5. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước 9 tháng năm 2024 đạt 2.625 tỷ đồng, tăng 18,51% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm tăng cao nhất 29,2% do ảnh hưởng của lương tối thiểu tăng nên giá cả một số mặt hàng tăng theo, nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 27,54% do giá của nguyên vật liệu xây dựng như cát, đá, sắt thép... tăng so với cùng kỳ. Các nhóm hàng khác gồm có đồ dùng trang thiết bị gia đình, vật phẩn văn hóa giáo dục, hàng hóa khác… tăng từ 3,12-9,3% so với cùng kỳ. Riêng nhóm phương tiện đi lại giảm 7,65% và hàng hóa khác giảm 2% so với cùng kỳ.
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 9 tháng năm 2024 đạt 405 tỷ đồng, tăng 7,23% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 46,5 tỷ đồng, tăng 7,12%; khối lượng hành khách đạt 625 nghìn hành khách, tăng 6,54% và luân chuyển đạt 56.356 ngàn hành khách.km, tăng 6,58% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 358,68 tỷ đồng, tăng 7,24%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 705 nghìn tấn, tăng 6,19% và luân chuyển đạt 117.729 ngàn tấn.km, tăng 6,35% so với cùng kỳ.
2.6. Các vấn đề xã hội
- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng việc thực hiện Kết luận số 01- KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị, Kế hoạch 99-KH/TU ngày 12/12/2023 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 05- CT/TW ngày 15/5/2016 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2024 gắn với chủ đề học tập của tỉnh: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về trách nhiệm nêu gương; kỷ cương, hiệu quả, khơi dậy khát vọng xây dựng tỉnh Lâm Đồng trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước”.
- Lũy kế 9 tháng năm 2024, nhà máy nước Bảo Lâm sản xuất 473.723 m3. Phục vụ nhu cầu sử dụng nước sạch của 4.564 hộ dân trên địa bàn, tăng 51 hộ so với cùng kỳ năm trước. Công tác thu gom rác thải và giữ gìn vệ sinh môi trường được đảm bảo; kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường đối với các đơn vị, cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện.
- Huyện Bảo Lâm đã tổ chức khám chữa bệnh tổng cộng 86.281 lượt khám. Số người điều trị tại các CSYT là 500 người; trong đó, điều trị nội trú 464 người, điều trị ngoại trú 36 người. Số trẻ em được tiêm chủng đầy đủ 932 trẻ em.
- Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung sau: Triển khai nhiệm vụ công tác trọng tâm, chủ yếu trong năm học 2024 - 2025 của toàn ngành Giáo dục và Đào tạo: “"Kỷ cương trách nhiệm, đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo"; Các trường tổ chức Lễ Khai giảng năm học mới và ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường”.
- Kết quả trong 9 tháng năm 2024, lực lượng CSGT Công an huyện đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính 1.547 trường hợp, nộp ngân sách nhà nước 3,2 tỷ đồng; đăng kí mới xe ô tô và mô tô 2.089 trường hợp./.