Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 7 năm 2019

              1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Sản xuất vụ hè thu

Tính đến ngày 10/7/2019 toàn tỉnh đã tiến hành xuống giống, gieo trồng vụ hè thu đạt 40.489,1 ha cây hàng năm các loại, đạt 95,55% kế hoạch, tăng 2,87% (+1.130,3 ha) so với cùng kỳ. Trong đó:

Lúa gieo cấy 5.820 ha, đạt 98,15% kế hoạch, giảm 1,71% so với cùng kỳ, tập trung ở Cát Tiên 3.532 ha, chiếm 60,69%, giảm 2,14%; Đạ Tẻh 2.202,2 ha, chiếm 37,84%, giảm 0,64%; Đạ Huoai 85,5 ha, chiếm 1,47%, giảm 10,75% diện tích gieo cấy toàn tỉnh.

Ngô gieo trồng 4.747 ha, đạt 61,81% kế hoạch, giảm 2,11% so với cùng kỳ, do diện tích trồng thuần cây ngô ngày càng thu hẹp, diện tích ngô trồng xen trong vườn cây cà phê, cây lâm nghiệp đến nay đã khép tán hoặc chuyển sang cây trồng ngô cây làm thức ăn cho bò.

Khoai lang gieo trồng 872,7 ha, đạt 92,84% kế hoạch, tăng 4,89% so với cùng kỳ.

Rau các loại gieo trồng 22.385,7 ha, đạt 92,71% kế hoạch, tăng 4,83%, các loại rau gieo trồng chủ yếu là bắp sú, cải thảo, cà rốt, khoai tây, cà chua, hành tây; tập trung ở Đơn Dương, Đức Trọng, Đà Lạt, Lạc Dương.

Đậu các loại gieo trồng 598,8 ha, giảm 0,21% so với cùng kỳ.

Hoa các loại gieo trồng 2.399,9 ha, tăng 5,73% so với cùng kỳ, chủng loại hoa được trồng nhiều có giá trị kinh tế cao như hoa ly, hồng, cúc vạn thọ.

Cây hàng năm khác diện tích gieo trồng 3.475,7 ha, tăng 3,68% so với cùng kỳ, chủ yếu là diện tích cỏ chăn nuôi 2.569 ha, tăng 1,86%, chiếm 73,91% do nhiều hộ mở rộng chăn nuôi bò sữa.


Tiến độ sản xuất nông nghiệp vụ hè thu

Ha, %

 

Thực hiện cùng kỳ năm trước

Thực hiện kỳ báo cáo

Cùng kỳ

Tổng diện tích gieo trồng

39.358,8

40.489,1

102,87

Diện tích gieo cấy lúa

5.921,5

5.820,0

98,29

Diện tích gieo trồng các loại cây khác

     

Ngô

4.849,4

4.747,0

97,89

Khoai lang

832,0

872,7

104,89

Rau các loại

21.355,0

22.385,7

104,83

Đậu các loại

600,0

598,8

99,80

Hoa các loại

2.269,8

2.399,9

105,73

b. Sản xuất vụ mùa

Tiến độ gieo trồng đến ngày 10/7/2019 thực hiện 7.689,3 ha, tăng 2,29% so với cùng kỳ. Trong đó, lúa gieo trồng 5.882 ha, đạt 43,28% kế hoạch, giảm 1,75% so với cùng kỳ, tập trung ở Đức Trọng 2.550 ha, Đơn Dương 1.827 ha, Di Linh 1.155 ha, Lâm Hà 350 ha; sắn (mỳ) 517 ha, tăng 4,09% tập trung ở Đam Rông, Bảo Lâm, Đạ Tẻh.

c. Cây lâu năm

Tính từ đầu năm đến nay trồng mới, chuyển đổi giống cây lâu năm 5.821,4 ha, giảm 1,93% so với cùng kỳ. Thời tiết thuận lợi, mưa sớm bà con nông dân tranh thủ gieo trồng, chăm sóc, tập trung cải tạo chuyển đổi giống cây trồng già cỗi năng suất thấp, trồng xen và chăm sóc tốt để tăng năng suất. Trong đó, Di Linh 1.850 ha; Lâm Hà 1.369 ha; Bảo Lâm 1.352,1 ha; Đam Rông 550 ha; Đức Trọng 137 ha; Bảo Lộc 127 ha; Cát Tiên 121,4 ha.

             Diện tích cà phê trồng mới, ghép cải tạo giống thực hiện 3.643,9 ha, giảm 14,49% so với cùng kỳ, tiếp tục thực hiện chủ trương tái canh cà phê của tỉnh, trong đó: Trồng mới làm tăng diện tích 343,9 ha, chiếm 9,44%; diện tích tái canh chuyển đổi giống, ghép cành 3.300 ha, chiếm 90,56%. Tập trung ở Bảo Lâm 1.146,5 ha; Di Linh 1.000 ha; Lâm Hà 870 ha; Đam Rông 400 ha; Đức Trọng 100 ha; Bảo Lộc 70 ha. Diện tích trồng mới chủ yếu do chuyển đổi một số diện tích chè hạt kém hiệu quả sang trồng cà phê, và tái canh cải tạo diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp thay thế bằng giống cà phê vối có năng suất cao.

             Diện tích trồng mới cây ăn quả thực hiện 1.415 ha, tăng 2,02 lần so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích trồng mới tăng diện tích là 605,4 ha, chiếm 42,78% như sầu riêng, bơ, mít, măng cụt, mác mác trồng xen trong vườn cà phê, diện tích còn lại chuyển đổi giống không làm tăng diện tích 809,6 ha, chiếm 57,22%.

             Dâu tằm thực hiện trồng mới 655 ha, tăng 1,39% so với cùng kỳ, chủ yếu ở Lâm Hà 385 ha, Cát Tiên 75 ha, Đam Rông 30 ha; Bảo Lộc 25 ha.

             Mắc ca thực hiện trồng mới 42,6, chủ yếu ở Lâm Hà 28 ha, Đạ Tẻh 12,6 ha; Bảo Lâm 2 ha.

          * Tình hình dịch bệnh trên cây trồng

             Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng từ 10/6 - 10/7/2019 như sau:

 - Trên cây lúa vụ hè thu: Bệnh đạo ôn lá nhiễm 96 ha tại Đạ Tẻh, Đạ Huoai (15 ha nhiễm nặng tại Đạ Tẻh), tăng 96 ha so với tháng trước; rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, ốc bươu vàng, bọ trĩ…gây hại ở mức nhẹ.

- Trên cây ngô vụ hè thu: Sâu keo mùa thu gây hại 60 ha tại Đơn Dương.

- Trên cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus nhiễm 68,6 ha tại Đơn Dương, Đức Trọng, giảm 8,4 ha so với tháng trước.  

- Trên cây rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ gây hại 122 ha; sâu tơ gây hại rải rác 167,7 ha tại Lạc Dương, Đà Lạt, Đơn Dương.

- Trên hoa cúc: Bệnh héo vàng (virus) gây hại 80 ha (nhiễm nặng 30 ha) tại Đà Lạt, Lạc Dương, giảm 20 ha so với tháng trước.

- Trên cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại có 824 ha tại Lạc Dương, Đà Lạt, Đam Rông, tăng 101 ha so với tháng trước; rệp sáp, mọt đục cành, sâu đục thân mình trắng, bệnh gỉ sắt, rệp vảy … gây hại ở mức nhẹ.

- Trên cây tiêu: Bệnh chết nhanh gây hại 14,1 ha tại Đức Trọng, Đạ Huoai, tăng 9,4 ha so với tháng trước.

- Trên cây sầu riêng: Bệnh thán thư gây hại 10 ha tại Đạ Tẻh, giảm 10 ha so với tháng trước.

d. Tình hình chăn nuôi

Theo thông tin từ Cục Thú y, tính đến ngày 15/7/2019, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 62 tỉnh, thành phố trên cả nước; tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy hơn 3 triệu con; hiện còn tỉnh Ninh Thuận chưa phát hiện có lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Tình hình dịch tả lợn Châu Phi ở Lâm Đồng đến ngày 15/7/2019 đã xảy ra tại 293 hộ/79 thôn/ 27 xã, phường, thị trấn/ 09 huyện, thành phố là: Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Di Linh, Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên làm 8.580 con lợn mắc bệnh; số lợn đã tiêu hủy là 8.225 con, trọng lượng 794.277 kg. Trong đó:

   Huyện Đức Trọng: Số con mắc bệnh là 5.971 con/ 110 hộ/ 10 thôn, khu phố/ 05 xã, thị trấn (Liên Hiệp, Phú Hội, Liên Nghĩa, Hiệp Thạnh và N’Thol Hạ); số đã tiêu hủy là 5.969 con, trọng lượng 621.797 kg. Huyện Di Linh: Số mắc bệnh là 773 con/ 30 hộ/16 thôn/06 xã (Tân Lâm, Hòa Ninh, Hòa Bắc, Hòa Nam, Đinh Trang Hòa và Đinh Trang Thượng); số đã tiêu hủy là 773 con, trọng lượng 65.006 kg. Huyện Bảo Lâm: Số mắc bệnh là 655 con/15 hộ/09 thôn/03 xã (Lộc Nam, Lộc An và Lộc Thành); số đã tiêu hủy là 332 con, trọng lượng 25.305 kg. Thành phố Bảo Lộc: Số mắc bệnh là 534 con/20 hộ/11 thôn/03 xã, phường (Lộc Nga, Lộc Thanh và Lộc Phát); số đã tiêu hủy là 534 con, trọng lượng tiêu hủy là 55.148 kg. Huyện Cát Tiên: Số mắc bệnh là 311 con/19 hộ/06 thôn/01 xã (Gia Viễn); số đã tiêu hủy là 311 con, trọng lượng 13.789 kg. Huyện Đam Rông: Số mắc bệnh là 232 con/87 hộ/15 thôn/04 xã (Đạ Tông, Đạ M’Rông, Đạ Long và Liêng S’Rônh); số đã tiêu hủy là 203 con, trọng lượng 5.885 kg.

Hiện còn 03 địa phương là thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương và Đơn Dương chưa phát hiện có lợn mắc bệnh.

Trước tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 09/12 huyện, thành phố và có khả năng sẽ tiếp tục lây lan rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Lãnh đạo Sở, Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản phối hợp với các địa phương theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh để chỉ đạo và hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật trong công tác phòng chống dịch bệnh; bố trí cán bộ thực hiện giám sát, lấy mẫu xét nghiệm để làm cơ sở xuất bán, vận chuyển, giết mổ đối với những đàn lợn không mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Tình hình chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút...) được duy trì ổn định và phát triển, trước tình hình dịch tả lợn Châu Phi, giá thịt lợn hơi giảm mạnh hiện dao động mức 27.000 - 30.000 đồng/kg, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn giảm, người chăn nuôi chuyển sang đầu tư mở rộng đàn gà thịt, gà trứng...

Công tác tiêm phòng: Đến cuối tháng 6/2019, tổ chức tiêm phòng miễn phí cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên đàn gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác.

Công tác kiểm dịch động vật: Công tác kiểm dịch động vật, SPĐV xuất, nhập tỉnh được Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản duy trì thực hiện thường xuyên theo quy trình kiểm dịch.

1.2. Sản xuất lâm nghiệp

Lâm sinh: Trong tháng 7/2019 trồng mới rừng tập trung ở các loại hình kinh tế ước thực hiện 210 ha, tăng 4,48%; lũy kế đến hết tháng 7/2019 thực hiện 715 ha, tăng 34,65% so với cùng kỳ. Trồng cây lâm nghiệp phân tán ước đạt 66,32 nghìn cây, tăng 0,96% so với cùng kỳ.

Giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích  434.053,2 ha. Trong đó, bằng nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 376.249 ha; còn lại là ngân sách tỉnh 57.804,2 ha.

Khai thác lâm sản: Ước tính tháng 7/2019 sản lượng gỗ khai thác ở các loại hình kinh tế thực hiện 8.239,3 m3, tăng 230,63%; củi thước 5.595 ster, tăng 14,18% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2019 sản lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 31.823 m3, tăng 39,81%; củi thước 52.573 ster, giảm 16,87% so với cùng kỳ.

Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng: Từ đầu mùa khô đến nay trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy với diện tích 21,6 ha.Trong đó, cháy rừng 02 vụ với diện tích 01 ha tại Tiểu khu 211, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông (Công ty TNHH Bình Thuận), mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng khoảng 40%-50%; cháy thảm cỏ, cây bụi dưới tán rừng 08 vụ/20,6 ha.

Tình hình vi phạm lâm luật: Trong tháng 7/2019 công tác bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường nhưng tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn diễn ra, lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 66 vụ vi phạm lâm luật, giảm 12% so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi phá rừng 26 vụ, tăng 52,94%, diện tích rừng bị phá 2,44 ha, giảm 57,64%, trữ lượng lâm sản thiệt hại 118,11 m3. Lũy kế từ đầu năm đến 20/7/2019 tổng số vụ vi phạm lâm luật 390 vụ, giảm 24,12% (-124 vụ), trong đó hành vi chặt phá rừng 146 vụ, tăng 5,8% với diện tích rừng bị phá 41,02 ha, tăng 14,15% so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 341 vụ (xử lý hành chính 310 vụ, chuyển xử lý hình sự 31 vụ); tịch thu 544,67 m3 gỗ tròn, xẻ các loại; nộp ngân sách 2,64 tỷ đồng.

          Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 329 dự án/312 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.994 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần dự án). Đến nay tổng số dự án đã thu hồi 195 dự án/29.795 ha (gồm 161 dự án thu hồi toàn bộ/25.628 ha và 34 dự án thu hồi một phần/4.167 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2019 tăng 7,88% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 11,43% so với cùng kỳ. Trong đó ngành khai thác quặng kim loại tăng 15,87% (sản phẩm quặng boxit đạt 14 ngàn tấn, tăng 15,87%); khai thác cát, sỏi, cao lanh tăng 2,72% (sản phẩm đá xây dựng đạt 216,9 ngàn m3, tăng 9,76%) so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,69% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất trang phục tăng 16,72% (trong đó, quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc đạt 349 ngàn cái, tăng 132,67%; quần áo bảo hộ lao động đạt 100 ngàn cái, giảm 23,08%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 16% (trong đó, sản phẩm gỗ cưa hoặc xẻ đạt 2.902 m3, tăng 23,72%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,43% (sản phẩm gạch không nung đạt gần 1 triệu viên, tăng 39,14%; gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 32,7 triệu viên, tăng 4,39%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,11% (trong đó, sản phẩm rau ướp lạnh đạt 1,2 ngàn tấn, tăng 59,02%; chè nguyên chất đạt 3,6 ngàn tấn, giảm 5,81%); ngành dệt tăng 3,43% (trong đó, sản phẩm sợi xe từ sợi tơ tằm đạt 125 tấn, tăng 18,64%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 231 ngàn m2, tăng 0,45%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,03% (sản phẩm phân bón NPK của công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 16,8 ngàn tấn, tăng 3,04%); ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,34% (sản phẩm dược phẩm khác 9,5 tấn, tăng 2,89%); sản xuất kim loại tăng 1,31% (trong đó, sản phẩm Alumin đạt 60 ngàn tấn, tăng 1,31%).

Chỉ số sản xuất ngành phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,77% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng điện sản xuất được phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng là 600 triệu kwh, tăng 7,57%; sản lượng điện thương phẩm đạt 118 triệu kwh, tăng 20,51% so với cùng kỳ. Đến nay các hồ thủy điện tích đủ lượng nước đảm bảo yêu cầu phát điện theo kế hoạch điều động của Trung tâm điều động quốc gia.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,63% so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,38% (sản lượng nước ghi thu đạt 2.560 ngàn m3) và hoạt động thu gom rác thải tăng 8,64% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7

 

Năm 2017

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2018

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2019

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

107,03

106,48

107,88

  1. Khai khoáng

100,16

112,61

111,43

  1. Chế biến, chế tạo

102,35

107,00

107,69

  1. Sản xuất, phân phối điện

117,47

105,94

107,77

  1. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

105,58

107,05

107,63

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2019 tăng 8,3% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 16,43%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,75% (trong đó, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 32,83%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 26,49%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 18,41%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 10,68%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,54%; ngành sản xuất kim loại tăng 7,26%; ngành dệt tăng 5,98%; ngành sản xuất trang phục tăng 5,95%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí tăng 5,42%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,83% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm chủ yếu 7 tháng năm 2019: Quả và hạt ướp lạnh đạt 6 ngàn tấn, tăng 63,7%; rau ướp lạnh đạt gần 6 ngàn tấn, tăng 57,2%; thuốc chứa pênixilin hoặc khoáng sinh khác dạng viên đạt 22 triệu viên, tăng 50,82%; gỗ cưa hoặc xẻ đạt 29.108 m3, tăng 27,18%; dược phẩm khác đạt 73,8 tấn, tăng 23,07%; phân bón NPK đạt 76,9 ngàn tấn, tăng 10,71%; Alumin đạt 395 ngàn tấn, tăng 7,26%; gạch xây dựng đạt 227,4 triệu viên, tăng 2,26%; gạch không nung đạt 8,4 triệu viên, tăng 0,22%; sợi xe từ sợi tơ tằm đạt 655 tấn, tăng 0,36%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 1.357 ngàn m2, giảm 0,93%; chè nguyên chất đạt 21,9 ngàn tấn, giảm 14,06%.

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2019 tăng 14,16% so với cùng kỳ. Chủ yếu ở một số ngành như: Sản xuất trang phục tăng 206%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 67,99%; sản xuất kim loại tăng 30,94%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,38%; sản xuất đồ uống tăng 16,58%; sản xuất chế biến gỗ tăng 1,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm  56,78%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 22,13%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 3,44%; chế biến thực phẩm giảm 0,68%.

* Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2019 tăng 1,57% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất đồ uống tăng 77,32%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 39,42%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 37,46%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 19,91%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,55%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 46,98%; ngành dệt giảm 14,18%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 3,21% so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 7 năm 2019 tăng 9,57% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế cấp 2: Ngành sản xuất trang phục tăng 273,17%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 24,07%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 9,29%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,83%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,8%; ngành khai khoáng khác giảm 11,44%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 7,79%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 7,37%; ngành dệt giảm 5,85%; ngành công nghiệp chế biến thực phẩm giảm 3,33%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 0,3% so với cùng kỳ. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước giảm 5,32%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 1,31%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 224,14% so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Đăng ký kinh doanh: Trong 7 tháng đầu năm 2019, số doanh nghiệp thành lập mới 641 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký 5.822,1 tỷ đồng, tăng 9,57% về số doanh nghiệp và tăng 52,62% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, bình quân đạt 9,08 tỷ đồng/doanh nghiệp; số đơn vị trực thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) đăng ký hoạt động là 952 đơn vị, giảm 14% so với cùng kỳ.

Về tình hình hoạt động: Số cơ sở hoạt động trở lại là 167 doanh nghiệp, tăng 15,97% và 39 đơn vị trực thuộc, giảm 36,07% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh 206 doanh nghiệp, tăng 1,98%;

Giải thể doanh nghiệp: Số doanh nghiệp đăng ký giải thể tự nguyện 143 doanh nghiệp, giảm 5,3% so với cùng kỳ.

Tình hình cấp Quyết định chứng nhận đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Từ đầu năm đến thời điểm 20/7/2019 có 16 dự án được cấp dự án đầu tư, giảm 27,27% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đầu tư 1.493,31 tỷ đồng, tăng 31,34% so với cùng kỳ; quy mô diện tích 191,17 ha, giảm 38,97% so với cùng kỳ. Thu hút đầu tư vẫn chưa đáp ứng so với kỳ vọng, chưa thu hút được các dự án đầu tư lớn thuộc lĩnh vực du lịch dịch vụ. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động, với vốn đăng ký đầu tư khoảng 126.862,53 tỷ đồng, quy mô diện tích khoảng 69.559,18 ha.

Tình hình điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư: Từ đầu năm đến thời điểm 20/7/2019 có 61 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư; nội dung điều chỉnh bao gồm gia hạn tiến độ thực hiện dự án, mục tiêu, tăng vốn, tăng/giảm diện tích, thay đổi người đại diện theo pháp luật. Trong đó, điều chỉnh 26 dự án trong khu công nghiệp và 35 dự án ngoài khu công nghiệp; có 08 dự án thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư với vốn đăng ký đầu tư 887,58 tỷ đồng, quy mô diện tích 100,02 ha (trong đó, 01 dự án vốn nước ngoài và 07 dự án vốn trong nước) do nhà đầu tư gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường dẫn đến việc đầu tư không có hiệu quả, dự án triển khai chậm tiến độ.

Một số dự án đang hoàn thiện chuẩn bị đi vào hoạt động:

- Dự án nhà máy bia Sài Gòn – Lâm Đồng của Công ty CP Bia Sài Gòn – Lâm Đồng: Khánh thành nhà máy vào ngày 22/6/2019; công suất dự kiến giai đoạn đầu khoảng 40 triệu lít bia, cuối năm 2019 đạt công suất khoảng 90-100 triệu lít bia. Công ty đang nghiên cứu khả năng nâng công suất lên 200 triệu lít bia trong giai đoạn 2020-2021.

- Dự án Nhà máy kéo sợi len lông cừu Đà Lạt của Công ty TNHH Sợi Đà Lạt: Bắt đầu hoạt động sản xuất giai đoạn I vào tháng 7/2019, với công xuất 2.000 tấn sợi len lông cừu/năm.

Dự án đang sản xuất thử tại hai khu công nghiệp:

- Dự án của Công ty TNHH B&V cà phê Việt Nam, vốn đầu tư 14 triệu USD (tương đương 317,8 tỷ đồng), công suất 30 tấn sản phẩm/năm, chế biến cà phê các loại (KCN Phú Hội).

- Dự án của Công ty CP phân bón Oneway Bio-organic, vốn đầu tư 35 tỷ đồng, công suất 8.000 tấn phân các loại/năm, gồm phân hữu cơ, vi sinh, hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng (KCN Phú Hội).

- Dự án của công ty TNHH Đông Dương, vốn 20 tỷ đồng, 9.000 tấn phân hữu cơ vi sinh/năm (KCN Lộc Sơn).

- Dự án của Công ty TNHH XNK Tân Thành Nam, vốn 75 tỷ đồng, phân hữu cơ vi sinh 120.000 tấn/năm, vô cơ 900 tấn/năm (KCN Lộc Sơn).

4. Đầu tư

Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2019 ước đạt 222,1 t đồng, tăng 7,35% so vi cùng k; ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp tnh đạt 203 t đồng, chiếm 91,4% trong tng vn, tăng 7,36% so vi cùng k. Trong đó, vn cân đối ngân sách tnh đạt 81 t đồng; vn Trung ương h tr theo mc tiêu đạt 33,3 t đồng; vn t x s kiến thiết đạt 43,5 t đồng và ngun vn khác đạt 32,5 t đồng. Ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp huyn đạt 17,9 t đồng, chiếm 8,06% trong tng vn, tăng 7,38% so vi cùng k. Trong đó; vn cân đối ngân sách huyn đạt 9,3 t đồng; vn tnh h tr đầu tư theo mc tiêu đạt 6,7 t đồng. Ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp xã đạt 1,2 t đồng, chiếm 0,54% trong tng vn. D ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng năm 2019 đạt 1.190,2 t đồng, tăng 7,11% so vi cùng k; ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp tnh đạt 1.079,2 t đồng, chiếm 90,68% trong tng vn, tăng 6,9% so vi cùng k. Trong đó, vn cân đối ngân sách tnh đạt 476,3 t đồng; vn Trung ương h tr theo mc tiêu đạt 150,7 t đồng; vn nước ngoài (ODA) đạt 52,2 t đồng; vn t x s kiến thiết đạt 237,2 t đồng và ngun vn khác đạt 162,9 t đồng. Ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp huyn đạt 105,1 t đồng, chiếm 8,83% trong tng vn, tăng 7,56% so vi cùng k; trong đó; vn cân đối ngân sách huyn đạt 69,7 t đồng; vn tnh h tr đầu tư theo mc tiêu đạt 24 t đồng. Ngun vn thuc ngân sách nhà nước cp xã đạt 5,9 t đồng, chiếm 0,49% trong tng vn.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

do địa phương quản lý

       

Triệu đồng; %

 

Ước tính

Cộng dồn

Tháng 7

Cộng dồn 7 tháng

 

tháng 7

7 tháng

 năm 2019

 năm 2019

 

năm

năm

 so với

 so với

 

2019

2019

cùng kỳ

cùng kỳ

TỔNG SỐ

222.088

1.190.181

107,35

107,11

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh

202.989

1.079.244

107,36

106,90

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện

17.899

105.081

107,38

107,56

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã

1.200

5.855

106,86

151,49

Tính đến cuối tháng 7/2019, trên địa bàn tỉnh có 586 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: Trường TH Lộc Sơn 1, đường Lê Thị Riêng, thành phố Bảo Lộc; xây dựng đường giao thông từ trung tâm xã Phi Liêng đi khu Tây Sơn, xây dựng đường trục chính ngã ba Bằng Lăng đến Km 1.6 đường Liên Hung - Đầm Ròn, đường vào khu sản xuất Đạ Giòng, xã Liêng Srônh, xây dựng trường mầm non Đạ K’Nàng, đường từ 27 vào khu dân cư dân tộc Mông (TK 174, TK 176) xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông; xây dựng hồ chống bồi lắng, nhà máy xử lý nước thải khu vực Đan Kia, Suối Vàng giai đoạn 1, huyện Lạc Dương; đường giao thông liên xã Đạ Đờn, Phi Tô, Nam Ban huyện Lâm Hà; trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên huyện Cát Tiên.

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

            5.1. Hoạt động tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 31/7/2019 đạt 4.782,6 tỷ đồng, bằng 59,9% so với dự toán, tăng 9,56% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 4.534 tỷ đồng, bằng 60,78% so với dự toán, tăng 11,84% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 605,8 tỷ đồng, đạt 55,07% so với dự toán, giảm 1,46%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 60,5 tỷ đồng, đạt 22,57% so với dự toán, tăng 7,98%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 50,9 tỷ đồng, đạt 53,58% so với dự toán, giảm 13,21%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 921,1 tỷ đồng, đạt 54,28% so với dự toán, tăng 0,75%; thuế thu nhập cá nhân đạt 477,6 tỷ đồng, đạt 62,4% so với dự toán, tăng 11,91%; lệ phí trước bạ đạt 294,9 tỷ đồng, đạt 62,75% so với dự toán, tăng 23,7%; thu phí, lệ phí đạt 162,5 tỷ đồng, đạt 62,76% so với dự toán, giảm 1,78%; thu từ đất, nhà đạt 578,6 tỷ đồng, đạt 57,86% so với dự toán, tăng 19,76%; thu xổ số kiến thiết đạt 781,8 tỷ đồng, đạt 91,98% so với dự toán, tăng 36,19% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 248,6 tỷ đồng, đạt 47,35% so với dự toán, giảm 20,13% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 31/7/2019 đạt 10.303,1 tỷ đồng, bằng 82,01% so với dự toán, tăng 17,03% so với cùng kỳ. Trong đó, thu được hưởng theo phân cấp đạt 4.171,3 tỷ đồng, tăng 12,33%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 3.002,1 tỷ đồng, tăng 10,07% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 31/7/2019 đạt 7.391,2 tỷ đồng, bằng 58,41% so với dự toán, tăng 3,42% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 1.169,7 tỷ đồng, bằng 41,73% so với dự toán, tăng 7,05%; chi thường xuyên đạt 3.950 tỷ đồng, bằng 48,06% so với dự toán, tăng 5%. Trong tổng chi thường xuyên, chi giáo dục và đào tạo đạt 1.760 tỷ đồng, đạt 46,8% so với dự toán, tăng 3,02%; chi sự nghiệp y tế đạt 623 tỷ đồng, tăng 10,78%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 405 tỷ đồng, tăng 15,62%; chi quản lý hành chính đạt 1.150 tỷ đồng, tăng 12,44% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng

Tổng vốn huy động ước đến 31/7/2019 đạt 53.000 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 39.800 tỷ đồng, chiếm 75,09% tổng vốn huy động, tăng 9,64%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 13.200 tỷ đồng, chiếm 24,91% tổng vốn huy động, tăng 17,86% so với cùng kỳ.

Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đến 31/7/2019 đạt 94.000 tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 32.800 tỷ đồng, chiếm 34,89% tổng dư nợ, tăng 17,14%; dư nợ ngắn hạn 61.200 tỷ đồng, chiếm 65,11% tổng dư nợ, tăng 17,69% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ cho vay thực hiện đầu tư cho 116 xã xây dựng nông thôn mới đạt 38.000 tỷ đồng, chiếm 40,43%; cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch đạt 350 tỷ đồng, chiếm 0,37% tổng dư nợ.  

            Ước đến 31/7/2019 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 475 tỷ đồng, chiếm 0,51% tổng dư nợ, tăng 25% so với cùng kỳ.

6. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2019 đạt 4.373,6 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 404,1 tỷ đồng, tăng 13,67%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.903,5 tỷ đồng, tăng 16,53% (kinh tế cá thể đạt 2.846,4 tỷ đồng, tăng 19,32%; kinh tế tư nhân đạt 1.056,7 tỷ đồng, tăng 9,64%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 66 tỷ đồng, tăng 18,98% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng năm 2019 ước đạt 29.650,5 tỷ đồng, tăng 12,74% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 2.588 tỷ đồng, tăng 11,91%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 26.628,8 tỷ đồng, tăng 12,71% (kinh tế cá thể đạt 19.776,1 tỷ đồng, tăng 15,17%; kinh tế tư nhân đạt 6.849,7 tỷ đồng, tăng 6,18%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 433,7 tỷ đồng, tăng 19,91% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7/2019 ước đạt 2.876,5 tỷ đồng, tăng 16,88% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 172,8 tỷ đồng, tăng 12,04%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.642,1 tỷ đồng, tăng 17,16%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 61,6 tỷ đồng, tăng 19,42% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 1.202,6 tỷ đồng, tăng 22,92%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 297,2 tỷ đồng, tăng 19,58%; xăng, dầu các loại đạt 341,5 tỷ đồng, tăng 22,34%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng năm 2019 đạt 20.059,8 tỷ đồng, tăng 12,08% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.118,6 tỷ đồng, tăng 4,67%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 18.536,3 tỷ đồng, tăng 12,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 404,9 tỷ đồng, tăng 20,34% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 8.656,7 tỷ đồng, tăng 15,25%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.648,3 tỷ đồng, tăng 15,36%; xăng, dầu các loại đạt 2.286,9 tỷ đồng, tăng 13,05% so với cùng kỳ. 

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác tháng 7/2019 ước đạt 559,7 tỷ đồng, tăng 13,19%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 350,5 tỷ đồng, tăng 13,85%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 92,3 tỷ đồng, tăng 13,19% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác 7 tháng năm 2019 đạt 3.426,1 tỷ đồng, tăng 13,8%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.163,3 tỷ đồng, tăng 15,18%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 510,4 tỷ đồng, tăng 11,71% so với cùng kỳ.

            - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7/2019 ước đạt 933,2 tỷ đồng, tăng 16,45% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 128,6 tỷ đồng, tăng 16,92%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 804,6 tỷ đồng, tăng 16,38% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 419,6 nghìn lượt khách, tăng 11,63% (khách trong nước đạt 397,3 nghìn lượt khách, tăng 14,54%; khách quốc tế đạt 22,3 nghìn lượt khách, giảm 23,21%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 7 tháng năm 2019 đạt 6.140,1 tỷ đồng, tăng 14,36% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 803,8 tỷ đồng, tăng 14,64%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 5.336,3 tỷ đồng, tăng 14,32% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 2.857,2 nghìn lượt khách, tăng 11,78% (khách trong nước đạt 2.680,6 nghìn lượt khách, tăng 14,52%; khách quốc tế đạt 176,6 nghìn lượt khách, giảm 17,95% so với cùng kỳ).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 7/2019 ước đạt 4,2 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 5.418 lượt khách, tăng 4,59%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 7 tháng năm 2019 đạt 24,5 tỷ đồng, tăng 10,24% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 35.719 lượt khách, tăng 10,08% so với cùng kỳ.

            6.2. Giá cả thị trường

            6.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tình hình giá cả thị trường tháng 7/2019 diễn biến theo xu hướng tăng của một số nhóm hàng hóa do chịu tác động của các yếu tố như: Tăng mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 làm tăng nhóm bảo hiểm y tế; các cơ sở giáo dục nhà trẻ, mầm non tư thục điều chỉnh tăng giá học phí; giá xăng, dầu điều chỉnh tăng 2 đợt/tháng; nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng thực phẩm, mặt hàng thiết yếu trong nhóm may mặc, thiết bị đồ dùng gia đình tăng; ăn uống ngoài gia đình tăng do lượng khách du lịch đến Lâm Đồng trong tháng 7 tăng khá cao. Bên cạnh đó, cũng có một số mặt hàng giảm như giá gas giảm đầu tháng; thịt lợn giảm do bệnh dịch tả lợn Châu Phi; riêng mặt hàng dầu diezen, dầu hỏa được điều chỉnh tăng trong tháng, nhưng giá bình quân vẫn giảm so với tháng trước. Nhìn chung chỉ số giá tiêu dùng tăng so với tháng trước.

Tháng 7/2019, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 2,76% so với cùng kỳ. Bình quân 7 tháng đầu năm 2019 CPI tăng 2,33% so với cùng kỳ.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 9 nhóm tác động tăng CPI như nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; nhóm giao thông tăng 0,28%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,29%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,41%; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,85%; nhóm giáo dục tăng 2,49% so với tháng trước. Một số mặt hàng tăng như: thịt bò tăng 1,1%; thịt gia cầm tươi sống tăng 0,06%; thủy sản tươi sống tăng 0,53%; thủy sản chế biến tăng 0,48%; bắp cải tăng 5,86%; cà chua tăng 8,53%; khoai tây tăng 7,27%; rau muống tăng 5,73%; đỗ quả tươi tăng 2,68%; rau tươi khác (rau cải xanh, rau cải bẹ) tăng 1,88%; rau gia vị tươi khô các loại (hành lá tươi, hành khô, tỏi khô, gừng…) tăng 9,33%; nhóm quần áo may sẵn (áo khoác, áo sơ mi, áo len, bộ quần áo mặc ở nhà) tăng 0,34%; may mặc khác và mũ nón tăng 0,27%; giày dép tăng 0,11%; thiết bị nấu ăn (lò vi sóng, lò nướng, bếp từ) tăng 1,64%; nhóm thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng (augmentin, haginat) tăng từ 300 - 1.000 đồng/viên so với tháng trước. Riêng giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng 2 lần vào ngày 02/7 và ngày 17/7/2019. Cụ thể: xăng A95 giá bình quân tăng từ 21.166 đồng/lít lên 21.225 đồng/lít, tăng 0,28%; xăng E5 giá bình quân tăng từ 20.186 đồng/lít lên 20.297 đồng/lít, tăng 0,55%; giá vé xe tuyến Đà Lạt- TP. HCM tăng 20.000 đồng/vé, tác động làm nhóm dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,16%; riêng dầu diezel có giá bình quân giảm từ 17.413 đồng/lít xuống 17.274 đồng/lít, giảm 0,8% so với tháng trước.

Nhóm bưu chính viễn thông ổn định nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,33% so với tháng trước.

6.2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 3,89 triệu đồng/chỉ, tăng 5,71% so với tháng trước và tăng 8,78% so với cùng kỳ; bình quân 7 tháng năm 2019 giá vàng tăng 1,17% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 7/2019 dao động ở mức 23.315 đồng/USD; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,52% so với tháng trước và tăng 1,24% so với cùng kỳ; bình quân 7 tháng năm 2019 giá USD tăng 2,06% so với cùng kỳ.

            6.3. Hoạt động vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 7/2019 đạt 404,7 tỷ đồng, tăng 17,94% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 375,4 tỷ đồng, tăng 18,63%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 29,3 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 7 tháng năm 2019 đạt 2.605,9 tỷ đồng, tăng 11,63% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 2.419,4 tỷ đồng, tăng 11,85%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 186,3 tỷ đồng, tăng 8,88% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 7/2019 ước đạt 159,7 tỷ đồng, tăng 19,1%; khối lượng vận chuyển đạt 3.684,8 nghìn hành khách, tăng 26,28% và luân chuyển đạt 421 triệu hành khách.km, tăng 29,68% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hành khách 7 tháng năm 2019 ước đạt 1.034 tỷ đồng, tăng 12,38%; khối lượng vận chuyển đạt 24.332,3 nghìn hành khách, tăng 11,9% và luân chuyển đạt 2.813,1 triệu hành khách.km, tăng 12,68% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hàng hoá tháng 7/2019 ước đạt 215,7 tỷ đồng, tăng 18,27%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1.095,8 nghìn tấn, tăng 3,95% và luân chuyển đạt 181,8 triệu tấn.km, tăng 9,02% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hàng hoá 7 tháng năm 2019 đạt 1.385,6 tỷ đồng, tăng 11,46%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 7.573,5 nghìn tấn, tăng 9,93% và luân chuyển đạt 1.134,5 triệu tấn.km, tăng 12,37% so với cùng kỳ.

            7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền 

Trong tháng 7 năm 2019 phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh, ngành văn hóa- thông tin triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư trong tỉnh, đặc biệt được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến huyện đã tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các gia đình thương binh, liệt sỹ và bà Mẹ Việt Nam anh hùng nhân Kỷ niệm 72 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2019).

Các đội chiếu bóng lưu động và đoàn ca múa nhạc dân tộc tiếp tục tổ chức các buổi chiếu phim và biểu diễn với 45 buổi phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hoạt động bảo tàng mở cửa thường xuyên đã đón trên 900 lượt khách. Thư viện tỉnh mở cửa phục vụ 800 lượt bạn đọc.

7.2. Hoạt động thể dục - thể thao

Thể thao thành tích cao: Tham gia giải Judo các lứa tuổi trẻ toàn quốc tại TPHCM; giải Boxing vô địch trẻ, giải người khuyết tật toàn quốc tại Cần Thơ; giải Taekwondo vô địch các lứa tuổi trẻ, giải bóng bàn Trẻ - Thiếu niên, nhi đồng toàn quốc tại Lào Cai; giải cầu lông vô địch trẻ toàn quốc tại Tây Ninh; giải cầu lông, bóng bàn gia đình toàn quốc tại Thừa Thiên Huế; giải cờ vua vô địch trẻ xuất sắc toàn quốc tại thành phố Hải Phòng; tham gia liên hoan quốc tế võ thuật cổ truyền tại Bình Định; giải bóng đá hạng Nhì quốc gia 2019.

Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức giải Karate các CLB tỉnh tại TP.Bảo Lộc; giải bóng đá Trẻ - Nhi đồng TP.Đà Lạt hè 2019;  giải việt dã mở rộng "Chạy gây quỹ trẻ em nghèo vùng cao nguyên hiếu học" lần thứ II/2019; giải Bóng chuyền Khối thi đua Số 2 ngành Y tế Lâm Đồng; giải trận đấu vòng loại bảng A giải bóng đá hạng Nhì quốc gia Cup Asanzo 2019.

Tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh: Giải Vô địch Võ cổ truyền tỉnh tại TP.Đà Lạt; giải Taekwondo các CLB tỉnh tại TP.Bảo Lộc. Hỗ trợ các đơn vị tổ chức giải quần vợt TP.Đà Lạt từ ngày 17-19/7/2019, hội thao Cụm thi đua số 5 do Viện Nghiên cứu hạt nhân làm Cụm trưởng, tổ chức ngày 22/7/2019, thi đấu các môn: bóng đá mini, bóng bàn, cầu lông, đi bộ thể thao và nhảy bao bố tiếp sức.

7.3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm học 2018-2019 diễn ra an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế. Toàn tỉnh 38 điểm thi với 13.963 thí sinh đăng ký dự thi. Khoảng 12 ngàn thí sinh trên tổng số dự thi đã đăng ký vào 234 trường đại học, cao đẳng, trung cấp trong cả nước. Các trường đại học có số nguyện vọng thí sinh đăng ký số lượng nhiều như: Đại học Đà Lạt 4.688 nguyện vọng, chiếm 11,23%; Đại học Kinh tế TP HCM 2.850 nguyện vọng, chiếm 6,8%; Đại học Tôn Đức Thắng 1.794 nguyện vọng, chiếm 4,3%; Đại học Công nghệ TP HCM 1.793 nguyện vọng, chiếm 4,3%.

Hoàn thành công tác tuyển sinh vào lớp 10 cho năm học 2019-2020 ở 2 trường chuyên của tỉnh. Hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên hè 2019 và thực hiện công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ, trang thiết bị dạy học cho năm học mới 2019-2020 các cấp học, ngành học. Kiểm tra công nhận trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Thành lập các Đoàn kiểm tra hoạt động hè 2019 tại 12 huyện, thành phố.

7.4. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm                

Ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), (H5N8), (H7N9), dịch sởi, tiêu chảy cấp, sốt rét, sốt xuất huyết trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ đầu tháng đến nay có 9 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tăng 02 trường hợp so với cùng kỳ, không có tử vong. Bệnh sốt rét có 6 trường hợp sốt rét mới, giảm 01 trường hợp so với cùng kỳ. Bệnh phong không phát hiện thêm bệnh nhân mới, toàn tỉnh quản lý 161 bệnh nhân phong và chăm sóc tàn phế cho 148 bệnh nhân. Không phát hiện bệnh nhân lao mới, không có tử vong, hiện toàn tỉnh đang quản lý điều trị cho 258 bệnh nhân lao. Không có trường hợp nhiễm HIV mới (tích lũy: 1.497), không có trường hợp chuyển sang AIDS mới (tích lũy: 277), không có tử vong do AIDS mới (tích lũy: 563).

Công tác tiêm chủng mở rộng: Đã thực hiện tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trên 9.000 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm UV2+ cho 11.000 phụ nữ có thai; tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho hơn 12.000 trẻ em và tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván mũi 4 cho trên 12.000 trẻ 18 tháng tuổi; tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi mũi 1 gần 13.000 trẻ, mũi 2 gần 12.000 trẻ và mũi 3 trên 11.000 trẻ.

Ngoài ra trong tháng 7/2019 tổ chức tuyên truyền về Ngày dân số Thế giới 11/7; tổ chức hoạt động nhân ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 01/7/2019.

7.5. Tình hình an toàn giao thông

Trong tháng, Ban An toàn giao thông tỉnh tham mưu UBND tnh t chc Hi ngh trc tuyến sơ kết công tác bo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT) 6 tháng đầu năm 2019 và phương hướng nhim v 6 tháng cui năm 2019; ban hành các văn bn ch đạo v TTATGT: văn bn s 130/BATGT ngày 27/6/2019 v vic đề ngh tham mưu đề xut x lý kiến ngh ca Ban ATGT các địa phương v bo đảm TTATGT trên các tuyến quc l thuc địa bàn tnh; văn bn s 133/BATGT ngày 01/7/2019 v vic x lý xe ô tô ln chiếm hai bên đường đèo Tà Nung gây mt an toàn giao thông; đôn đốc hưởng ng Cuc thi viết ng dng khoa hc công ngh, ý tưởng bo đảm trt t an toàn giao thông trên tp chí Giao thông vn ti; đẩy mnh trin khai Chương trình h tr mũ bo him cho tr em năm 2019 trên địa bàn tnh; tuyên truyn 4.000 cun cm nang “x lý vi phm quy định v bo đảm an toàn giao thông cho hành khách trên phương tin vn ti; phi hp vi các đơn v liên quan kim tra công tác bo đảm an toàn giao thông trên tuyến Quc l 27C và tuyến đường Trường Sơn Đông thuc địa bàn tnh Lâm Đồng. Bên cạnh đó, Ban an toàn giao thông các địa phương phi hp vi các đơn v chc năng tiếp tc đẩy mnh trin khai Ch th 02/CT-UBND ngày 15/5/2019 ca UBND tnh v nghiêm cm xe công nông, xe cơ gii t chế 3,4 bánh, xe hết niên hn lưu thông trên địa bàn tnh. Công an các huyn, thành ph đã t chc cho 1.615 ch s hu phương tin xe công nông, xe máy cày, xe t chế 3,4 bánh viết cam kết không s dng phương tin tham gia giao thông.

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tính từ ngày 16/6/2019 đến ngày 15/7/2019 xảy ra 16 vụ; số người chết là 14 người, tăng 03 người; số người bị thương là 12 người, tăng 04 người. Tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/7/2019, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 112 vụ, giảm 17 vụ; số người chết là 84 người, tăng 04 người; số người bị thương là 73 người, giảm 15 người so với cùng kỳ. Đăng ký mới cho 579 ôtô và 4.045 môtô. Tổng số phương tiện đang quản lý: 58.901 xe ôtô; 1.005.144 xe môtô; 103 phương tiện đường thủy. Lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 4.808 trường hợp; tổng số tiền xử phạt là 3,6 tỷ đồng; tước 207 giấy phép lái xe; tạm giữ 29 ô tô, 444 mô tô.

            Trong 7 tháng đầu năm 2019, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được giữ vững; đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ổn định và được cải thiện./.


Các tin khác

© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt