Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019

                Năm 2019 là năm thứ tư thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020. Kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình thị trường trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi theo hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Hoạt động thương mại và đầu tư thế giới giảm, bất đồng giữa các nước lớn về định hình hệ thống thương mại toàn cầu ngày càng sâu sắc, đặc biệt cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc; tình hình căng thẳng chính trị của Iran và các nước Mỹ, khối Ả Rập; biến động trong việc nước Anh rời khỏi khối Liên minh Châu Âu. Trong nước, Chính phủ xác định là năm “bứt phá” phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, ngày 01/01/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương tập trung thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. 

Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng những kết quả đạt được trong năm 2019 là tiền đề để đánh giá kết quả cuối nhiệm kỳ, các ngành, các cấp từ đầu năm đã chủ động xây dựng các chương trình để triển khai về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp; về năng lượng tái tạo, dịch vụ du lịch; không thể tận dụng lợi thế về cảnh quan, khí hậu để thu hút khách du lịch, mà phải có nghiên cứu để thúc đẩy đầu tư vào du lịch một cách chính đáng và hiệu quả với các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú và những tour, tuyến du lịch mới đưa vào khai thác. Năm 2019 cần có một chủ đề thể hiện sự quyết tâm, đột phá, tạo không khí mới và thắng lợi mới, vẫn cần sự nỗ lực, chú trọng tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp để khắc phục các tồn tại, hạn chế.

      1. Tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2019

            Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 theo giá so sánh 2010 đạt 20.570,7 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ([1]); tốc độ tăng trưởng 6 tháng năm nay thấp nhất từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhưng chỉ chiếm khoảng 40% so với cả năm, cho nên để đạt tốc độ tăng trưởng cả năm từ 8,5 – 9% theo kế hoạch đề ra thì yêu cầu trong 6 tháng cuối năm các ngành, các cấp cần phải đẩy mạnh việc thúc đẩy, tạo điều kiện để các dự án đưa vào sản xuất như Nhà máy bia, lông cừu…, phát triển du lịch với các sản phẩm mới, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi để giảm thiểu rủi ro và tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để các ngành đạt kế hoạch tăng trưởng đề ra theo kịch bản đã xây dựng.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

6 tháng đầu các năm 2016, 2017, 2018, 2019

 

Tốc độ tăng so với 6 tháng năm trước (%)

 

6 tháng năm 2016

6 tháng năm 2017

6 tháng năm 2018

6 tháng năm 2019

Tổng số

107,13

108,48

108,85

106,70

- Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

103,36

105,35

106,66

103,17

- Khu vực công nghiệp - xây dựng

106,07

108,65

107,65

109,48

      + Trong đó: Công nghiệp

104,88

109,21

107,87

109,65

- Khu vực dịch vụ

111,31

110,21

110,42

106,66

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

97,71

105,38

108,92

108,84

 

 

 

 

 

            - Khu vực I đạt 4.342,9 tỷ đồng, tăng 3,17%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; đây là mức tăng thấp nhất trong 4 năm qua. Tuy nhiên, trong thời gian tới với vai trò vùng kinh tế động lực của khu vực Tây Nguyên, khẳng định thế mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa có giá trị cao, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, theo hướng hiện đại; là trung tâm nghiên cứu và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tầm quốc gia và quốc tế; sản xuất nông nghiệp hàng hóa có giá trị cao trên thị trường quốc tế, được định hướng phát triển vùng nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành. Với trọng tâm là 4 mục tiêu, hướng đến xây dựng thương hiệu số một Việt Nam; cụm sản xuất rau hoa số một Đông Nam Á; điểm du lịch nông nghiệp số một Việt Nam; hình thành trung tâm đào tạo nhân lực và nghiên cứu nông nghiệp chủ lực tại Tây Nguyên. Lâm Đồng đang từng bước hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao, các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gắn với phát triển làng hoa, làng nghề truyền thống, xây dựng làng đô thị xanh và phát triển các mô hình du lịch nông nghiệp. Đây là những nội dung quan trọng tác động đến tăng trưởng của nông nghiệp Lâm Đồng trong 6 tháng cuối năm để hoàn thành kế hoạch đề ra.

- Khu vực II đạt 4.921,3 tỷ đồng, tăng 9,48%, đóng góp 2,21 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; trong đó ngành công nghiệp đạt 3.363,2 tỷ đồng, chiếm 68,3% trong KVII, tăng 9,65%, với mức đóng góp 1,54%; trong những năm gần đây công nghiệp chế biến đang là động lực tăng trưởng cho ngành công nghiệp của tỉnh với các nhà máy sản xuất các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu nông sản của địa phương như: chè, cà phê, điều, rau quả, atiso, cây dược liệu, tơ tằm và các sản phẩm vật nuôi khác… Định hướng trong thời gian tới, tiếp tục phát triển công nghiệp theo hướng bền vững và hội nhập quốc tế, gắn quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh với khu vực Tây Nguyên và các vùng lân cận; xác định lợi thế của địa phương, tiếp tục quy hoạch và phát triển công nghiệp chế biến nông sản chất lượng cao, quy hoạch để kêu gọi đầu tư vào khu công nghiệp công nghệ cao, tạo điều kiện cho nhà đầu tư xây dựng nhà máy luyện nhôm, công nghiệp sau nhôm, nhà máy Bia Sài Gòn, nhà máy lông cừu, tơ lụa …

            - Khu vực III đạt 9.932,5 tỷ đồng, tăng 6,66% so với cùng kỳ, đóng góp 3,21 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP, đây là mức tăng thấp nhất trong 4 năm qua chủ yếu do tác động của ngành bán buôn hàng hóa vì giá cà phê xuống thấp nên các doanh nghiệp, cơ sở cá thể kinh doanh mặt hàng này không bán được, lượng tồn kho còn cao, tốc độ tăng trưởng ở mức âm kéo khu vực III xuống chỉ còn 6,66% trong 6 tháng đầu năm 2019. Tuy nhiên, với ưu thế những sản phẩm du lịch đặc thù như: tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái… việc phát triển, khai thác tiềm năng, lợi thế của du lịch canh nông mà Lâm Đồng đang hướng tới là xu hướng phát triển tất yếu của ngành du lịch hiện nay, vừa góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đồng thời cũng là giải pháp hữu ích nhằm phát triển du lịch bền vững. Du lịch canh nông tại Đà Lạt - Lâm Đồng hấp dẫn bởi các mô hình đều ứng dụng công nghệ hiện đại, sản phẩm đặc thù, mới lạ, để phát triển du lịch canh nông trở thành sản phẩm du lịch mới, có tính cạnh tranh cao, mang thương hiệu du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng, trong thời gian qua Lâm Đồng đã tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp như: Phối hợp với chuyên gia dự án JICA, các chuyên gia về du lịch canh nông khảo sát tư vấn cho các đơn vị, hộ dân trên địa bàn tỉnh nhằm hình thành các mô hình “Tuyến du lịch canh nông” và “Điểm du lịch canh nông” … Qua đó, phát huy thế mạnh, tiềm năng và lợi thế về nông nghiệp, du lịch của tỉnh Lâm Đồng; phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tạo ra các sản phẩm đặc thù góp phần xây dựng thương hiệu cho du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đặc biệt là du lịch kết hợp nông nghiệp công nghệ cao đáp ứng nhu cầu được trải nghiệm và tham quan của du khách; hình thành mô hình mẫu về sản phẩm nông nghiệp kết hợp với du lịch; thu hút hợp tác đầu tư phát triển sản phẩm du lịch từ phía các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tạo điều kiện cho người nông dân nâng cao thu nhập từ hoạt động du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh  trong thời gian tới.

            - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 1.374 tỷ đồng, tăng 8,84% so với cùng kỳ, với mức đóng góp 0,59% trong mức tăng GRDP. Trong thời gian vừa qua, ngành Thuế Lâm Đồng tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc các doanh nghiệp, tổ chức nộp báo cáo quyết toán thuế đúng hạn; rà soát những đối tượng kê khai thiếu, có dấu hiệu gian lận để yêu cầu kê khai đúng...; đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kê khai thuế, nộp thuế, kiểm tra sau hoàn thuế đối với hồ sơ đã hoàn thuế của năm trước chuyển sang nhưng chưa được kiểm tra và thực hiện kiểm tra trước hoàn thuế đối với những hồ sơ phát sinh; tăng cường kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp trên địa bàn nộp báo cáo quyết toán thuế đúng hạn; so sách, đối chiếu từng đơn vị về quy mô, ngành nghề, doanh thu và số thuế phải nộp; đối tượng được miễn, giảm, giãn thuế kê khai không đúng đối tượng, có biểu hiện trốn thuế, gian lận về thuế nhằm đảm bảo việc thu ngân sách trên địa bàn.

            Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 theo giá hiện hành đạt 30.877,2 tỷ đồng, tăng 11,07% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực I đạt 6.894,8 tỷ đồng, tăng 12,48%; khu vực II đạt 7.640,9 tỷ đồng, tăng 15,27%; khu vực III đạt 14.278,5 tỷ đồng, tăng 7,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 2.063 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ. Cơ cấu các ngành kinh tế 6 tháng đầu năm 2019: khu vực I là 23,93%, khu vực II là 26,52% và khu vực III là 49,55%.

                        2. Hoạt động tài chính, tín dụng

            2.1. Hoạt động tài chính

            Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 30/6/2019 đạt 4.614 tỷ đồng, bằng 57,78% so với dự toán, tăng 35,76% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 4.142 tỷ đồng, bằng 55,52% so với dự toán, tăng 38,25% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 566,6 tỷ đồng, đạt 51,51% so với dự toán, tăng 20,1%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 106 tỷ đồng, đạt 39,55% so với dự toán, tăng 32,3%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 82 tỷ đồng, đạt 86,32% so với dự toán, tăng 65,12%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 894,7 tỷ đồng, đạt 52,72% so với dự toán, tăng 24,4%; thuế thu nhập cá nhân đạt 406,5 tỷ đồng, đạt 53,11% so với dự toán, tăng 30,89%; lệ phí trước bạ đạt 237 tỷ đồng, đạt 50,43% so với dự toán, tăng 50,02%; thu từ đất, nhà đạt 499,6 tỷ đồng, đạt 49,96% so với dự toán, tăng 40% so với cùng kỳ. Thu thuế qua hải quan đạt 322 tỷ đồng, đạt 61,33% so với dự toán, tăng 4,88% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 30/6/2019 đạt 9.518,7 tỷ đồng, bằng 75,76% so với dự toán, tăng 48,24% so với cùng kỳ. Trong đó, thu điều tiết đạt 3.730 tỷ đồng, tăng 42,5%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 2.560 tỷ đồng, tăng 68,25% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 30/6/2019 đạt 8.744,5 tỷ đồng, bằng 69,1% so với dự toán, tăng 6,18% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 808,2 tỷ đồng, bằng 27,92% so với dự toán, giảm 0,11%; chi thường xuyên đạt 5.929,5 tỷ đồng, bằng 72,14% so với dự toán, tăng 18,01%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục và đào tạo đạt 1.740,6 tỷ đồng, đạt 46,29% so với dự toán, tăng 17,48%; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 38,2 tỷ đồng, tăng 13,59% so với cùng kỳ.

2.2. Hoạt động tín dụng

Ước đến 30/6/2019 vốn huy động đạt 51.500 tỷ đồng, tăng 9,21% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 39.400 tỷ đồng, chiếm 76,5% tổng vốn huy động, tăng 9,11%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 12.100 tỷ đồng, chiếm 23,5% tổng vốn huy động, tăng 9,51% so với cùng kỳ.

Ước đến 30/6/2019 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 93.000 tỷ đồng, tăng 17,62% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 32.550 tỷ đồng, chiếm 35% tổng dư nợ, tăng 17,04%; dư nợ ngắn hạn 60.450 tỷ đồng, chiếm 65% tổng dư nợ, tăng 17,94% so với cùng kỳ.

            Ước đến 30/6/2019 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 465 tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng dư nợ, tăng 21,73% so với cùng kỳ.

            3. Giá cả thị trường

            3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tình hình giá cả thị trường tháng 6/2019 diễn biến theo xu hướng giảm do chịu tác động của việc giá xăng, dầu điều chỉnh giảm 2 lần/tháng, tổng cộng xăng giảm 1.490 đồng/lít; dầu diezen giảm 980 đồng/lít; dầu hỏa giảm 820 đồng/lít; giá gas giảm 33.000 đồng/bình12kg; giá thịt lợn giảm do dịch bệnh tại nhiều nơi tác động lên tâm lý người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có yếu tố tác động tăng chỉ số giá tháng này như: Thời tiết nắng nóng tại các tỉnh Đồng bằng và vào dịp hè nên nhu cầu vui chơi, giải trí, nghỉ mát, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng; giá đồ dùng học tập, sách giáo khoa chuẩn bị cho năm học mới tăng; giá lương thực, rau, củ, quả tăng do nhu cầu tiêu dùng tăng, lượng hàng hóa nhập về tại các siêu thị giá tăng cao hơn so với tháng trước …cũng là yếu tố làm tăng chỉ số giá tiêu dùng trong tháng.

Tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,18% so với tháng trước và tăng 1,96% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2019 CPI tăng 2,26% so với cùng kỳ.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 7 nhóm tác động tăng CPI như nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,01%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,02%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%; nhóm giáo dục tăng 0,17%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,18%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,45% so với tháng trước. Một số mặt hàng tăng như: Bột mì và ngũ cốc khác (ngô, khoai lang, sắn) tăng 4,43%; nhóm lương thực chế biến (phở, bánh đa thái sợi, mì ăn liền) tăng 0,39%; rau tươi, khô và chế biến tăng 1,73% (vào dịp hè đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho người dân và khách du lịch tăng cao); rau gia vị tươi khô các loại (hành lá tươi, hành khô, gừng…) tăng 3,89%; nước uống tăng lực đóng chai tăng 3,11% (do nước bò húc tăng từ 500 - 700 đồng/lon); rượu mạnh tăng 0,08% (do rượu Johnnie Wallker đen tại siêu thị tăng 10.900 đồng/chai); máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,15%; đồ điện tăng 0,43%; đồ nấu ăn tăng 0,05%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,05%; dịch vụ sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,08%.

Các nhóm giao thông giảm 1,84% nguyên nhân chính do trong tháng 6 giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm 2 lần vào ngày 01/6 và ngày 17/6/2019, cụ thể xăng A95 giá bình quân giảm từ 22.291 đồng/lít xuống 21.166 đồng/lít, giảm 5,05 %; xăng E5 giá bình quân giảm từ 20.931 đồng/lít xuống 20.186 đồng/lít, giảm 3,56%; dầu diezel có giá bình quân giảm từ 17.983 đồng/lít xuống 17.413 đồng/lít, giảm 3,17% so với tháng trước; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,7,7% do giá gas thế giới giảm và điều chỉnh giá dầu hỏa giảm 3,29% so với tháng trước.

Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông ổn định so với tháng trước.

 

3.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 3,7 triệu đồng/chỉ, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 0,96% so với cùng kỳ; bình quân 6 tháng năm 2019 giá vàng giảm 0,05% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 6/2019 dao động ở mức 23.438 đồng/USD; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 2,51% so với cùng kỳ; bình quân 6 tháng năm 2019 giá USD tăng 2,2% so với cùng kỳ.

            3.3. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II năm 2019 tăng 1,36% so với cùng kỳ và giảm 1,91% so với quý trước. Trong đó: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp tăng 1,31% so với cùng kỳ và giảm 1,93% so với quý trước; cụ thể: cây hàng năm tăng 10,83% so với cùng kỳ và giảm 0,06% so với quý trước; cây lâu năm giảm 12,34% so với cùng kỳ và giảm 2,63% so với quý trước; sản phẩm chăn nuôi tăng 23,82% so với cùng kỳ và giảm 5,21% so với quý trước. Sản phẩm lâm nghiệp tăng 4,04% so với cùng kỳ và giảm 0,5% so với quý trước. Sản phẩm thủy sản tăng 2,73% so với cùng kỳ và giảm 1,73% so với quý trước.

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý II năm 2019 tăng 11,92% so với cùng kỳ và giảm 3,72% so với quý trước; trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 14,75% so với cùng kỳ và tăng 2,59% so với quý trước; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,41% so với cùng kỳ và tăng 4,32% so với quý trước; điện và phân phối điện tăng 34,16% so với cùng kỳ và giảm 18,79% so với quý trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý II năm 2019 giảm 0,59% so với cùng kỳ và tăng 2,08% so với quý trước; trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 5,84% so với cùng kỳ và giảm 2,08% so với quý trước; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,4% so với cùng kỳ và tăng 4,73% so với quý trước; sử dụng cho xây dựng tăng 1,19% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý II năm 2019 tăng 0,24% so với cùng kỳ và giảm 0,14% so với quý trước. Trong đó: giá cước dịch vụ vận tải hành khách tăng 3,76% so với cùng kỳ và tăng 0,2% so với quý trước; giá cước dịch vụ vận tải hàng hóa giảm 1,82% so với cùng kỳ và giảm 0,11% so với quý trước; dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 0,67% so với cùng kỳ và giảm 2,24% so với quý trước. Chia theo ngành vận tải thì dịch vụ vận tải đường bộ tăng 0,27% so với cùng kỳ và giảm 0,1% so với quý trước; trong đó, dịch vụ vận tải bằng xe buýt tăng 9,49% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước; dịch vụ vận tải hành khách đường bộ trong nội thành, ngoại thành (trừ vận tải bằng xe buýt) tăng 2,84% so với cùng kỳ và tăng 3,65% so với quý trước; dịch vụ vận tải hành khách đường bộ khác tăng 3,66% so với cùng kỳ và giảm 5,17% so với quý trước. Dịch vụ vận tải hàng không tăng 4,79% so với cùng kỳ và tăng 3,25% so với quý trước.

Chỉ số giá dịch vụ quý II năm 2019 tăng 3,56% so với cùng kỳ và tăng 0,44% so với quý trước; trong đó dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 3,79% so với cùng kỳ và tăng 0,99% so với quý trước; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,43% so với cùng kỳ và tăng 0,21% so với quý trước; hoạt động hành chính và hỗ trợ tăng 4,22% so với cùng kỳ và tăng 3,1% so với quý trước; hoạt động giáo dục và đào tạo tăng 4,51% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước; hoạt động y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,01% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước; hoạt động nghệ thuật vui chơi giải trí tăng 2,35% so với cùng kỳ và tăng 0,9% so với quý trước; hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình tăng 3,21% so với cùng kỳ và tăng 3,21% so với quý trước; hoạt động thông tin truyền thông ổn định so với cùng kỳ và so với quý trước.

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II năm 2019 ước đạt 5.731,6 tỷ đồng, tăng 7,76% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 696,8 tỷ đồng, tăng 6,74%, chủ yếu thực hiện các chương trình mục tiêu, các ngành kinh tế có ưu thế của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, giáo dục, y tế…các công trình trọng điểm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và Công ty thuỷ điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi tập trung đầu tư mở rộng dự án thuỷ điện Đa Nhim từ quý 4 năm 2017; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 4.366,7 tỷ đồng, tăng 8,74%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 123,9 tỷ đồng, tăng 12,79% so với cùng kỳ, chủ yếu thực hiện các khoản mục đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không qua XDCB, bổ sung vốn lưu động và sửa chữa nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

       

Triệu đồng; %

 

 

Thực hiện

Ước tính

Quý II năm 2019

   

quý I

quý II

so với cùng kỳ

   

 năm 2019

năm 2019

năm trước

  TỔNG SỐ

4.790.208

5.731.587

107,76

 

Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước

399.721

696.817

106,74

 

Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước
(Vốn tự có)

84.060

105.034

107,80

 

Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân

3.964.344

4.366.735

108,74

 

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

92.030

123.957

112,79

Đối với nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 6/2019 ước đạt 222,9 tỷ đồng, tăng 6,28% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 203,7 tỷ đồng, chiếm 91,37% trong tổng vốn, tăng 6,27% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 86,8 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 27,2 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 47,7 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 30 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 18,3 tỷ đồng, chiếm 8,21% trong tổng vốn, tăng 6,45% so với cùng kỳ. Trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 10,4 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 5,8 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 0,9 tỷ đồng, chiếm 0,42% trong tổng vốn. Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đầu năm 2019 đạt 969 tỷ đồng, tăng 7,16% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 878,7 tỷ đồng, chiếm 90,68% trong tổng vốn, tăng 7,1% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 401,3 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 117,2 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 38,7 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 191,6 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 129,9 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 85,8 tỷ đồng, chiếm 8,86% trong tổng vốn, tăng 5,95% so với cùng kỳ; trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 60,2 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 18,5 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 4,4 tỷ đồng, chiếm 0,46% trong tổng vốn.

Tính đến cuối tháng 6/2019, trên địa bàn tỉnh có 518 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: khu quy hoạch dân cư 5B; nâng cấp đường Đankia và cầu Phước Thành; thảm nhựa, chiếu sáng và nâng cấp vỉa hè một số tuyến đường trên địa bàn thành phố; xây dưng cơ sở hạ tầng khu dân cư – tái định cư Phạm Hồng Thái; dự án xây dựng, nâng cấp đường Phạm Hồng Thái, thành phố Đà Lạt. Đường Phạm Hồng Thái, Lý Thường Kiệt, Lê Thị Riêng, Nguyễn Thái Bình, Trường Tiểu học Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc. Xây dựng đường trục chính ngã ba Bằng Lăng đến Km 1.6 đường Liên Hung - Đầm Ròn; xây dựng đường giao thông từ trung tâm xã Phi Liêng đi khu Tây Sơn; đường vào khu sản xuất Đạ Glòng, xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông. Dự án xây dựng đường Đạ Sar - xã Lát; xây dựng hồ chống bồi lắng, nhà máy xử lý nước thải khu vực Đan Kia, Suối Vàng giai đoạn 1; nâng cấp hệ thống đường và kè chống sạt lở tuyến thị trấn Lạc Dương; dự án đường trục chính vào khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao xã Lát, huyện Lạc Dương. Đường giao thông liên xã Đạ Đờn - Phi Tô - Nam Ban; xây dựng trường THPT Lê Quý Đôn; đường giao thông nông thôn liên xã Phú Sơn đi Đạ Đờn, huyện Lâm Hà. Xây dựng hội trường TTCT huyện; xây dựng đường giao thông nông thôn Suối Thông - xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương. Dự án xây dựng đường dọc bờ sông Đa Nhim đoạn từ cầu sắt Phú Hội đến thác Liên Khương; đập thuỷ lợi Ma Am; nâng cấp đường Thống Nhất, huyện Đức Trọng. Đường vào khu sản xuất thôn 1 - 5 - 6 xã Hoà Ninh; sửa chữa, nâng cấp đường vào khu sản xuất thôn 6 đi thôn Liên Châu - xã Tân Châu, huyện Di Linh. Xây dựng đường từ Quốc Lộ 20 vào trung tâm xã Lộc Thành; đường nội thị thị trấn Lộc Thắng; xây dựng vòng xoay ngã 5 thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm. Đường liên xã từ thôn 1 xã Đạ Oai đi xã Đạ Tồn; nâng cấp các đường nội thị thị trấn Mađaguoi; xây dựng mới trụ sở làm việc Huyện ủy huyện Đạ Huoai. Đường giao thông Đa Pal - Tôn Klong; đường từ thôn 7 thị trấn Đạ Tẻh đi trung tâm xã An Nhơn, huyện Đạ Tẻh. Đường vành đai ven sông Đồng Nai; nâng cấp đường Cát Lợi đi Cát Lâm - thị trấn Phước Cát; trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên huyện Cát Tiên.

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Đăng ký kinh doanh: Từ đầu năm đến 20/6/2019 đã cấp đăng ký kinh doanh cho 472 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 3.810,4 tỷ đồng, tăng 5,8% về số doanh nghiệp và tăng 28,9% về vốn đăng ký; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 182 doanh nghiệp; số doanh nghiệp giải thể là 126 doanh nghiệp, giảm 5% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp thành lập mới tập trung tại thành phố Đà Lạt. Các doanh nghiệp thành lập mới đăng ký hoạt động đa ngành nghề, số doanh nghiệp đăng ký ngành nghề chính chiếm tỷ trọng cao là bán buôn, bán lẻ (chiếm 29,7%), xây dựng (chiếm 15%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 11,9%); các ngành nghề thu hút vốn đăng ký lớn là xây dựng (chiếm 15,4%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 14,8%), bán buôn, bán lẻ (chiếm 14,5%), nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (chiếm 12,5%). Các ngành nghề thu hút ít vốn là giáo dục, y tế, thông tin và truyền thông.

Tình hình cấp Quyết định chứng nhận đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2019 có 14 dự án được cấp dự án đầu tư, giảm 12,5% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đầu tư 1.112,2 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ; quy mô diện tích 160,6 ha, giảm 46,6% so với cùng kỳ. Dự án có vốn đầu tư nước ngoài 03 dự án, với vốn đăng ký đầu tư 209,37 tỷ đồng, quy mô diện tích 6,14 ha; vốn đầu tư trong nước có 11 dự án, với vốn đăng ký đầu tư 902,83 tỷ đồng, quy mô diện tích 154,46 ha.

Có 26 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư; nội dung điều chỉnh bao gồm gia hạn tiến độ thực hiện dự án, mục tiêu, tăng vốn, tăng/giảm diện tích, thay đổi người đại diện theo pháp luật. Trong đó, điều chỉnh 10 dự án trong khu công nghiệp (05 dự án FDI, 05 dự án vốn trong nước), 16 dự án ngoài khu công nghiệp (02 dự án FDI, 14 dự án vốn trong nước); có 06 dự án thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư với vốn đăng ký đầu tư 852,58 tỷ đồng, quy mô diện tích 98,42 ha; trong đó, 01 dự án vốn nước ngoài và 05 dự án vốn trong nước.

      6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

6.1. Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2019:

Tổng diện tích gieo trồng trong 6 tháng đầu năm ước đạt 73.716,6 ha, tăng 2,11% (+1.525 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích cây lúa 14.711,8 ha, giảm 3,26% (-496,4 ha); diện tích ngô đạt 6.151,2 ha, giảm 5,36% (-348,5 ha); rau các loại đạt 37.451,7 ha, tăng 6,72% (+2.359 ha); hoa các loại đạt 4.837,6 ha, tăng 5,13% (+236 ha) so với cùng kỳ.    

 Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 64.229,7 tấn, giảm 3,26% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thóc ước đạt 49.639,7 tấn, giảm 2,05% (-1.037,3 tấn); sản lượng ngô ước đạt 14.590 tấn, giảm 7,14% (-1.122,6 tấn); sản lượng rau các loại 672.048,7 tấn, tăng 4,36% (+28.081 tấn); hoa các loại 976,25 triệu bông/cành, tăng 5,12% (+47,58 triệu cành/bông) so với cùng kỳ.

*Sản xuất vụ đông xuân 2018-2019

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện 38.477,7 ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng và thu hoach một số cây trong vụ như sau:

Lúa gieo cấy và thu hoạch 9.091,8 ha, đạt 99,25% kế hoạch, giảm 3,58% so với cùng kỳ. Năng suất bình quân chung của tỉnh đạt 54,6 tạ/ha, tăng 1,6% (+0,86 tạ/ha) so với cùng kỳ do đủ nguồn nước, ít dịch bệnh; sản lượng đạt 49.639,7 tấn, giảm 2,05% (-1.037 tấn) so với cùng kỳ, chủ yếu do giảm diện tích gieo trồng.

Ngô gieo trồng và thu hoạch 2.104,2 ha, giảm 6,74% (-152 ha) so với cùng kỳ do diện tích trồng các loại cây này ngày càng thu hẹp, mặt khác một số huyện chuyển sang trồng ngô cây để làm thức ăn cho bò. Năng suất bình quân chung đạt 69,34 tạ/ha, giảm 0,45% (-0,31 tạ/ha); sản lượng ước đạt 14.590 tấn, giảm 7,14%   (-1.122,6 tấn) so với cùng kỳ.

Cây lấy củ có chất bột diện tích gieo trồng và thu hoạch đạt 1.235,7 ha, giảm 12,8% (-181,4 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, khoai lang gieo trồng 662,5 ha, chiếm 53,61%, tăng 6,08% (+38 ha); năng suất đạt 153,51 tạ/ha, tăng 2,2%; sản lượng đạt 10.170,7 tấn, tăng 8,42%; khoai tây 557,2 ha, chiếm 45,09%, giảm 234,5 ha do giá khoai tây đầu vụ giảm vì vậy người dân chuyển sang cây trồng khác (cà chua, cà rốt); năng suất đạt 234 tạ/ha, sản lượng đạt 13.036,5 tấn, giảm 34,02%, do năng suất giảm 6,26% vì bị ảnh hưởng đợt nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, mặt khác giá cả thấp nên người dân hạn chế đầu tư.

Cây có hạt chứa dầu diện tích gieo trồng và thu hoạch đạt 110,9 ha, tăng 55,44% (+39,56 ha) so với cùng kỳ; năng suất đạt 11,94 tạ/ha, giảm 0,62% (-0,07tạ/ha). Trong đó, cây đỗ tương (đậu nành) gieo trồng 16,4 ha, năng suất đạt 11,7 tạ/ha, sản lượng đạt 19,2 tấn; cây lạc (đậu phộng) diện tích gieo trồng 91 ha, năng suất đạt 12,22 tạ/ha, sản lượng đạt 111,23 tấn, tăng 75,68% so với cùng kỳ.

          Rau các loại diện tích gieo trồng và thu hoạch 19.219,3 ha, tăng 4,1% (+756,8 ha). Trong đó, nhóm rau lấy lá 9.459 ha, chiếm 49,21%, tăng 1,46% (+135,7 ha); nhóm rau lấy quả 4.759,7 ha, chiếm 24,77%, tăng 7,68% (+339,3 ha); nhóm cây lấy củ, rễ hoặc lấy thân 3.639,4 ha, chiếm 18,94%, tăng 15,2% (+480 ha); nhóm rau họ đậu 821,7 ha, chiếm 4,28%; nhóm dưa lấy quả 249,6 ha, chiếm 1,3%. Năng suất bình quân rau các loại đạt 349,67 tạ/ha, tăng 0,25% (+0,88 tạ/ha); trong đó, rau lấy lá đạt 332,57 tạ/ha, tăng 0,11 tạ/ha (+0,35 tạ/ha); dưa lấy quả đạt 392,04 tạ/ha, tăng 0,24% (+0,92 tạ/ha); rau lấy quả đạt 402,45 tạ/ha, giảm 1,68% (-6,88 tạ/ha); rau lấy củ, rễ hoặc thân đạt 360,08 tạ/ha, tăng 0,05% so với cùng kỳ. Sản lượng rau các loại đạt 672.048,7 tấn, tăng 4,36% (+28.081 tấn) so với cùng kỳ.

Hoa các loại diện tích gieo trồng và thu hoạch đạt 2.956,2 ha, tăng 4,75% (+133,92 ha) so với cùng kỳ (riêng tp Đà Lạt 1.820,7 ha, chiếm 61,59%; Đức Trọng 485,6 ha, chiếm 16,43%; Lạc dương 321 ha, chiếm 10,86%). Sản lượng ước đạt 976,25 triệu bông, tăng 5,12%, do tăng diện tích và năng suất gieo trồng. Một số loại hoa được trồng nhiều như: hoa cúc 990,5 ha, tăng 7,31%, chiếm 33,5%; layơn 580,6 ha, tăng 16,47%, chiếm 19,64%; hoa hồng 485,2 ha, tăng 0,73%, chiếm 16,41%; hoa cẩm chướng 264,2 ha, tăng 63,62%, chiếm 8,93%; hoa ly 62,5 ha.

          Cây hàng năm khác gieo trồng 3.320,6 ha, giảm 4,5% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích cỏ voi làm thức ăn gia súc 2.569 ha, chiếm 89,56%, tăng 1,86%; cây gia vị, dược liệu hàng năm 304,9 ha, giảm 24,49% (-99 ha).

          *Sản xuất vụ hè thu 2018 - 2019:

          Tính đến ngày 10/6/2019 toàn tỉnh đã thực hiện gieo trồng, xuống giống được 35.241,9 ha cây hàng năm các loại, tăng 4,03% (+1.364,8 ha) so với cùng kỳ, do thời tiết tương đối thuận lợi, đủ nước để bà con nông dân đẩy nhanh tiến độ gieo trồng kịp thời vụ đảm bảo cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, trong đó:                         

 Lúa gieo cấy được 5.620 ha, đạt 94,77% kế hoạch, giảm 2,74% (-158,6 ha) so với cùng kỳ, do chuyển đổi sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn (cây dâu tằm, cây ăn trái), diện tích gieo cấy tập trung ở Cát Tiên gieo cấy 3.532 ha, chiếm 62,84%; Đạ Tẻh gieo cấy 2.005 ha, chiếm 35,67% ha; Đạ Huoai 83 ha, chiếm 1,47% diện tích gieo cấy toàn tỉnh.

Ngô gieo trồng 4.047 ha, giảm 14,74% (-699,7 ha) so với cùng kỳ.

          Khoai lang gieo trồng 694,8 ha, giảm 4,27% (-31 ha) so với cùng kỳ.

          Rau các loại gieo trồng 18.232,4 ha, tăng 9,64% (+1.603 ha) so cùng kỳ. Các loại rau gieo trồng chủ yếu là bắp sú, cải thảo, cà rốt, cà chua, hành tây, tập trung ở Đơn Dương, Đức Trọng, Đà Lạt, Lạc Dương.

          Đậu các loại gieo trồng 548,8 ha, giảm 8,53% (-51 ha) so với cùng kỳ.

          Hoa các loại gieo trồng 1.881,4 ha, tăng 5,73% (+102 ha) so với cùng kỳ, chủng loại hoa chủ yếu được trồng nhiều trong vụ như hoa cúc, layơn, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly.

          Cây hàng năm khác 4.058,7 ha, tăng 3,68% so với cùng kỳ, trong đó diện tích cỏ voi làm thức ăn gia súc 2.569 ha, tăng 1,86% so với cùng kỳ.

          * Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 252.846,7 ha, chiếm 77,43% diện tích gieo trồng, tăng 1,3% (+3.254,5 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu do trồng mới trong 6 tháng cuối năm 2018; cây ăn quả các loại, cà phê, dâu tằm tập trung một số vùng thuộc huyện Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh (riêng diện tích cây chè có xu hướng giảm mạnh ở 2 địa phương có diện tích lớn nhất là huyện Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc để chuyển sang những cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn như dâu tằm, cà phê, cây ăn quả).

          Cây trồng chiếm tỷ trọng cao nhất là cà phê với diện tích hiện có 174.492,2 ha, chiếm 69,02%; tiếp đến là điều 24.139,7 ha, chiếm 9,55%; chè 11.547,8 ha, chiếm 4,57%; cây ăn quả 22.434,9 ha, chiếm 8,87%; dâu tằm 7.766,5 ha, chiếm 3,07%; cao su 9.186,7 ha, chiếm 3,63%; hồ tiêu 2.554,6 ha, chiếm 1,01%; còn lại các loại cây lâu năm khác chiếm tỷ trọng thấp như ca cao, cà ri, mác ca, dược liệu.

          Trồng mới cây lâu năm: Ước tính 6 tháng đầu năm 2019 diện tích trồng mới và tái canh cây lâu năm thực hiện 2.397,8 ha, tăng 22,62% (+442,4 ha) so với cùng kỳ. Tập trung ở Di Linh 1.006 ha; Lâm Hà 510,4 ha; Đam Rông 280 ha; Bảo Lâm 246,2 ha; Đạ Tẻh 105,9 ha; Bảo Lộc 77 ha. Trong đó, diện tích tái canh, chuyển đổi giống (thay thế cây trồng già cỗi, năng suất sản lượng và hiệu quả kinh tế thấp) là 1.963,9 ha, chiếm 81,9% chủ yếu các loại cây như sầu riêng, bơ, mít, cà phê, dâu tằm; diện tích trồng mới tăng diện tích là 433,9 ha, chiếm 18,1%, tập trung chủ yếu một số cây như sầu riêng, bơ, dâu tằm.

          Trong tổng số diện tích tái canh, chuyển đổi giống và trồng mới: Cây ăn quả thực hiện 1.036,3 ha, tăng hơn 4 lần (+803,6 ha) so với cùng kỳ. Cà phê thực hiện được 944 ha, giảm 25,55% (-324 ha) so với cùng kỳ. Dâu tằm thực hiện trồng mới 374,6 ha, giảm 10,67% so với cùng kỳ, tập trung ở Lâm Hà 200 ha, Đạ Tẻh 88,86 ha.

          Sản lượng thu hoạch cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2019: Cây sầu riêng diện tích cho sản phẩm 4.516 ha, chiếm 51,25% diện tích gieo trồng, sản lượng ước đạt 12.699,6 tấn, tăng 5,86% (+703 tấn) so với cùng kỳ. Cây bơ diện tích cho sản phẩm 1.716 ha, chiếm 36,46% diện tích gieo trồng, ước đạt 5.801,1 tấn, tăng 19,7% (+954,7 tấn), do người dân đầu tư chăm sóc, bỏ phân, tỉa cành, tạo không gian phát triển nên năng suất và sản lượng tăng so với cùng kỳ và do tăng diện tích cho sản phẩm. Cây điều diện tích cho sản phẩm 22.068,8 ha, chiếm 91,42% diện tích hiện có; năng suất ước đạt 4,8 tạ/ha, tăng 66,66% (+1,92 tạ/ha); sản lượng thu hoạch đạt 9.590 tấn, tăng 14,73% (+1.231 tấn) so với cùng kỳ, do năm nay đang dần phục hồi sau trận dịch bọ xít muỗi hại điều ở các năm trước. Cây tiêu diện tích cho sản phẩm đạt 1.666,8 ha; sản lượng thu hoạch ước đạt 3.199 tấn, tăng 3,15% (+97,8 tấn) so với cùng kỳ. Cây chè diện tích cho sản phẩm 11.220,4 ha, chiếm 97,18% tổng diện tích chè hiện có; sản lượng chè tươi các loại thu hoạch ước đạt 62.385 tấn, tăng 4,25% (+2.543 tấn) so với cùng kỳ, do điều kiện thời tiết năm nay thuận lợi, có mưa trái mùa, đảm bảo nguồn nước cây chè sinh trưởng phát triển tốt.  Cây dâu tằm diện tích cho sản phẩm 6.402,8 ha; sản lượng thu hái ước đạt 46.696,3 tấn, tăng 26,72% (+9.846,3 tấn) so với cùng kỳ.

   *  Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Theo nguồn số liệu từ Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng):

Diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 6 tháng đầu năm 2019, ước đạt 56.403 ha (tăng 1.926 ha so với cuối năm 2018). Trong đó, diện tích rau các loại 22.142 ha; cây đặc sản 155 ha; cây hoa 2.752 ha; cây chè 6.108 ha; cây cà phê 19.246 ha; cây lúa 4.515 ha và cây ăn quả 860 ha.

Tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Diện tích chuyển đổi, tập trung ở huyện Đơn Dương 48 ha rau các loại; Lạc Dương 105 ha rau, hoa; Lâm Hà 30 ha; Đức Trọng 102 ha rau; Đam Rông 15 ha; Đạ Tẻh 32 ha (dâu tằm). Diện tích chuyển đổi một số diện tích cây có hiệu quả kinh tế thấp như cà phê, đất nông nghiệp bỏ hoang hóa, diện tích lúa một vụ sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao như: rau, hoa các loại, dâu tằm, cây ăn trái.

           *Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng

            Sở Nông nghiệp & PTNT đã phối hợp với các địa phương theo dõi sát tình hình sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh hại; đồng thời triển khai kịp thời, đồng bộ các giải pháp phòng trừ.

Bệnh sọc thân do virut gây hại trên hoa cúc vẫn diễn biến phức tạp, trong 6 tháng đầu năm có 526 ha gây hại, chiếm 38,4% diện tích trồng, tỷ lệ hại 25-50%, cục bộ 70-80%, trong đó diện tích nhiễm nhẹ 312ha (thiệt hại ước khoảng 10% sản lượng), nhiễm trung bình 146ha (thiệt hại ước khoảng 20% sản lượng), nhiễm nặng 68ha (thiệt hại ước khoảng 40% sản lượng), diện tích bị nhổ bỏ 2,5 ha (thiệt hại ước khoảng 100% sản lượng). Bệnh gây hại ở hầu hết các giai đoạn sinh trưởng của cây, phổ biến nhất ở giai đoạn sau khi ngắt điện đến sau tỉa nụ. Bệnh phát triển, lây lan nhanh vào các tháng thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao, đây là điều kiện cho bọ chích hút (bọ phấn, bọ trĩ) phát triển mạnh làm môi giới truyền bệnh.

       * Tình hình chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2019 tiếp tục được duy trì ổn định.

Đàn trâu 6 tháng đầu năm 2019 là 14.987 con, giảm 3,92% (-565 con)  so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong 6 tháng qua đạt 646,4 tấn, tăng 2,31% so với cùng kỳ, trọng lượng bình quân xuất chuồng 290 kg/con.

Đàn bò 6 tháng đầu năm 2019 là 106.544 con, giảm 0,32% (-342 con) so với cùng kỳ do giá thịt bò hơi ở mức thấp, tiêu thụ thịt bò gặp khó khăn làm cho người chăn nuôi bò thịt có tâm lý lo ngại chưa mạnh dạn đầu tư phát triển, hơn nữa khối lượng bò thịt và chất lượng bò thịt còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của các cơ sở giết mổ lớn tại Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, đàn bò thịt 85.588 con, giảm 1,35% (-1.171 con); đàn bò sữa 20.956 con, tăng 4,12% (+829 con) so với cùng kỳ.  Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng trong 6 tháng qua đạt 2.933,3 tấn, tăng 5,2% (+145 tấn) so với cùng kỳ; trọng lượng bình quân 1 con xuất bán đạt 223,69 kg/con. Sản lượng sữa tươi ước thu trong 6 tháng đạt 39.478,2 tấn, tăng 5,73% (+2.139,5 tấn).

Tổng số heo 6 tháng đầu năm 2019 là 463.235 con, tăng 2,44% (+11.019 con). Trong đó, heo thịt 324.319 con, chiếm 70,01%, giảm 5,97% so với thời điểm 01/4/2018; heo nái 53.997 con, chiếm 11,65%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tính trong 6 tháng qua đạt 47.673,7 tấn, tăng 3,44% (+1.584,7 tấn) so với cùng kỳ, số con lợn thịt xuất chuồng 502.728 con, trọng lượng bình quân xuất chuồng đạt 94,8 kg/con.

Tổng đàn gà 6 tháng đầu năm 2019 là 3.817,3 nghìn con, tăng 13,5% (+454 nghìn con). Tăng chủ yếu ở loại hình chăn nuôi quy mô nhỏ, nguyên nhân tăng do gần đây dịch bệnh nguy hiểm trên gia cầm ít xảy ra; hơn nữa do đặc điểm của đàn gia cầm có thời gian nuôi ngắn đã cho sản phẩm xuất chuồng nên việc khôi phục và phát triển đàn có thuận lợi hơn. Sản lượng thịt gà xuất chuồng trong 6 tháng qua đạt 6.640,1 tấn, tăng 6,48%; sản lượng trứng gà đạt 143.505,4 nghìn quả, tăng 5,03% so với cùng kỳ.

Sản lượng kén tằm ước đạt 2.200,5 tấn, tăng 11,7% (+230,5 tấn) so với cùng kỳ.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống:

Tình hình dịch bệnh: Theo báo cáo của các địa phương, trong 6 tháng đầu năm 2019 bệnh xảy ra rải rác trên đàn gia súc, gia cầm tại một số địa phương, cụ thể:

- Trên đàn gia súc: Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) xảy ra làm 3.889 con lợn mắc bệnh/160 hộ/71 thôn/26 xã, thị trấn thuộc 09 huyện, thành phố  (Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà, Đơn Dương và thành phố Bảo Lộc, Đà Lạt) và 60 con trâu, bò mắc bệnh/23 hộ/8 thôn/3 xã thuộc 02 huyện (Di Linh, Cát Tiên); số chết và tiêu hủy là 1.993 con lợn (82.876 kg) và 01 con nghé.

- Trên đàn gia cầm: Bệnh xảy ra và gây chết rải rác trên đàn gia cầm tại 03 hộ/03 thôn/3 xã, thị trấn thuộc 03 huyện là Cát Tiên, Đức Trọng và Lâm Hà làm 8.420 con mắc bệnh, chế buộc phải tiêu hủy. Kết quả xét nghiệm trên đàn gà tại huyện Đức Trọng dương tính với vi rút cúm gia cầm A-H5N6, huyện Cát Tiên dương tính với vi rút Cúm gia cầm A-H5N1.

Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên đàn lợn:

- Theo thông tin từ Cục Thú y, tính đến ngày 24/6/2019, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 4.434 xã, 455 huyện của 60 tỉnh, thành phố trên cả nước; tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 2.828.497 con. Hiện còn 03 tỉnh là Ninh Thuận, Tây Ninh và Bến Tre chưa phát hiện có lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.

- Đối với Lâm Đồng qua theo dõi, nắm bắt tình hình diễn biến bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh và theo báo cáo nhanh của các địa phương, lũy kế đến 15 giờ ngày 24/6/2019 trên địa bàn toàn tỉnh bệnh xảy ra tại 02 xã thuộc 02 huyện là Đức Trọng và Cát Tiên làm 104 con lợn mắc bệnh; số mắc bệnh, chết đã tiêu hủy 98 con lợn (trên địa bàn xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng tổng số hộ chăn nuôi có lợn bị mắc bệnh là 13 hộ/3.308 con tổng đàn; số bị mắc bệnh 90 con, số đã tiêu hủy 82 con (56 lợn nái và 26 lợn thịt, trọng lượng 12.925 kg); trên địa bàn thôn Trấn Phú, xã Gia Viễn, huyện Cát Tiên xảy ra trên 01 hộ chăn nuôi bị mắc bệnh 14 con, số đã tiêu hủy 16 con (03 lợn nái và 13 lợn thịt)).

- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Các ngành chức năng Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tham mưu Quyết định thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi cấp tỉnh trình UBND tỉnh xem xét, ban hành; ban hành Văn bản số 984/SNN-CNTYTS ngày 24/6/2019 về việc tập trung triển khai công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn; xuống địa bàn huyện Đức Trọng để chỉ đạo, hỗ trợ công tác phòng chống dịch; thực hiện các biện pháp kỹ thuật và đôn đốc địa phương triển khai các giải pháp phòng chống dịch theo quy định và theo thực tế tại địa bàn; đã vận chuyển cấp bổ sung ngay 520 lít hóa chất khử trùng, tiêu độc cho Trung tâm nông nghiệp huyện Đức Trọng để thực hiện khử trùng tiêu độc, tập trung trọng điểm tại xã Liên Hiệp; cử 02 cán bộ kỹ thuật của Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tăng cường lực lượng xuống địa bàn để hỗ trợ, hướng dẫn và cùng với địa phương chống dịch; đi thực tế hiện trường và tiếp tục chỉ đạo chống dịch tại địa bàn huyện Đức Trọng ngày 24/6/2019.

UBND huyện Đức Trọng đã triển khai: Chỉ đạo các đơn vị, phòng, ban chuyên môn kiểm tra, xác minh tình hình dịch bệnh tại phương; tổ chức tiêu hủy số lợn mắc bệnh, chết; ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh động vật cấp huyện (Quyết định số 1272/QĐ-UBND ngày 23/6/2019) và thành lập 02 chốt kiểm dịch động vật liên ngành tạm thời tại xã Liên Hiệp huyện Đức Trọng (Quyết định số 1273/QĐ-UBND ngày 23/6/2019 của UBND huyện Đức Trọng) để khoanh vùng ổ dịch.

UBND huyện Cát Tiên đã triển khai: Chỉ đạo các đơn vị, phòng, ban chuyên môn kiểm tra, xác minh tình hình dịch bệnh tại phương; tổ chức tiêu hủy số lợn mắc bệnh, chết và nuôi cùng đàn; đã cấp 55 lít hóa chất  và 100 kg vôi bột để thực hiện tiêu độc, khử trùng phòng chống dịch bệnh; tếp tục duy trì hoạt động của 03 chốt kiểm dịch động vật liên ngành tại địa phương.

- Các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong thời gian tới: Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục cử lãnh đạo Sở, lãnh đạo Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản phối hợp với các địa phương kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, đặc biệt là tại địa bàn các huyện Đức Trọng, Cát Tiên để chỉ đạo, hỗ trợ công tác phòng chống dịch; thực hiện các biện pháp kỹ thuật và đôn đốc địa phương triển khai các giải pháp phòng chống dịch theo quy định và theo thực tế tại địa bàn. Phân bổ đầy đủ hóa chất để các địa phương triển khai thực hiện tiêu độc khử trùng phòng chống dịch bệnh.

- Công tác tiêm phòng: đến nay đã phân bổ 617.120 liều vắc xin các loại để thực hiện công tác tiêm phòng đợt I/2019 và 7.800 lít hóa chất các loại phục vụ công tác khử trùng tiêu độc.

6.2. Lâm nghiệp

Ước tính 6 tháng đầu năm trồng mới rừng tập trung toàn tỉnh thực hiện được 505 ha, tăng 53,03% so với cùng kỳ. Trong đó, rừng sản xuất trồng mới 456 ha, tăng 38,18% do được chuẩn bị ngay từ đầu năm (về hiện trường đất đai, bố trí vốn, lực lượng trồng). Trồng cây lâm nghiệp phân tán ở các loại hình kinh tế trên địa bàn ước thực hiện 61,3 nghìn cây, bằng 42% so với cùng kỳ, công tác trồng cây phân tán hiện đang tiếp tục thực hiện.

Chăm sóc rừng trồng 6 tháng đầu năm ước đạt 2.199,61 ha, tăng 29,39% (+499,61 ha) so với cùng kỳ. Diện tích rừng sản xuất được chăm sóc ước đạt 2.041,42 ha, chiếm 92,81% trong tổng diện tích rừng trồng được chăm sóc, tăng 29,45%; chăm sóc rừng phòng hộ đạt 157,26 ha, tăng 29,22% và chăm sóc rừng đặc dụng đạt 0,93 ha, bằng 71,54% so với cùng kỳ.

Tổng diện tích rừng đã giao khoán quản lý bảo vệ được 434.053 ha (trong đó bằng nguồn quỹ bảo vệ phát triển 376.249 ha; nguồn ngân sách tỉnh 57.804 ha) đạt 98,75% kế hoạch; tăng 1,42% (+6.094,1 ha) so với cùng kỳ.

 Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2019, lực lượng Kiểm lâm và các đơn vị chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện lập biên bản 324 vụ (gồm 161 vụ đã xác định đối tượng vi phạm và 163 vụ chưa xác định đối tượng vi phạm), giảm 115 vụ (26,2%); diện tích thiệt hại do phá rừng 385.803 m2 (38,6 ha), tăng 8,40 ha (27,9%); lâm sản thiệt hại (04 hành vi) 2.588,1m3, tăng 1.016,4 m3 (65%). Trong dó, lấn, chiếm rừng 01 vụ, khai thác rừng trái phép 66 vụ, phá rừng trái pháp luật 120 vụ. Tổng số vụ đã xử lý 281 vụ (xử lý hành chính 257 vụ, xử lý hình sự 24vụ), tịch thu  452,43 m3 gỗ tròn, xẻ các loại, thu nộp ngân sách 1,38 tỷ đồng.

Tổng diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trong 6 tháng đầu năm 2019 là 2,479 ha (chưa giải tỏa 0,151 ha); diện tích tái lấn chiếm 5,03 ha (đã giải tỏa 3,7 ha).

Công tác phòng chống cháy rừng: Mùa khô 2018 - 2019, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy với diện tích 21,6 ha.Trong đó, cháy rừng 02 vụ với diện tích 01 ha tại Tiểu khu 211, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông (Công ty TNHH Bình Thuận), mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng khoảng 40%-50%; cháy thảm cỏ, cây bụi dưới tán rừng 08 vụ/20,6 ha.

          Khai thác lâm sản: Ước tính 6 tháng đầu năm 2019 khối lượng gỗ tròn các loại khai thác thuộc các loại hình kinh tế đạt 23.584 m3, tăng 16,35% (+3.314 m3) so với cùng kỳ; củi thước 46.978 Ster, giảm 19,48% (-11.362 Ster); tre/lồ ô 1.098 ngàn cây, tăng 7,02%; song mây 220 tấn, giảm 15,38% (-40 tấn); rau rừng 1.700 tấn, tăng 2,41% (40 tấn); dớn trồng lan 16,3 tấn, tăng 5,29%; măng tươi 2.650 tấn, tăng 7,94%; bông đót 234,3 tấn, tăng 17,16%; mật ong rừng 2 tấn, tăng 11,11% so với cùng kỳ.

           Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 392 dự án/312 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.989 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần dự án). Đến nay tổng số dự án đã thu hồi 195 dự án/29.795 ha gồm 161 dự án thu hồi toàn bộ/25.628 ha và 34 dự án thu hồi một phần/4.167 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án...

6.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn toàn tỉnh ước đạt 2.526,7 ha, giảm 4,44% (-117,46 ha) so với cùng kỳ, do nguồn nước không ổn định, một số diện tích ao, hồ nuôi kém hiệu quả chuyển sang trồng lúa. Diện tích nuôi trồng thủy sản phổ biến là nuôi cá, với diện tích 2.525,53 ha, chiếm 99,99%; còn lại là thủy sản khác chiếm tỷ trọng thấp 0,01%. Hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến là chủ yếu 2.111,7 ha, chiếm 83,61%; nuôi thâm canh và bán thâm canh với diện tích mặt nước nuôi trồng 413,83 ha chiếm 16,39%.

Toàn tỉnh hiện có 6 cơ sở nuôi thủy sản lồng, bè trên sông, hồ. Trong đó, có 4 hộ gia đình và 2 doanh nghiệp; số lồng, bè nuôi 242 cái giảm 6,2% (-16 cái), thể tích lồng nuôi trong kỳ 34.960 m3, tăng 48,77% (11.461 m3); trong tổng số lồng bè, thì số lồng bè nuôi cá tầm 180 cái, chiếm 74,38%; thể tích lồng nuôi 27.000 m3; còn lại lồng nuôi cá diêu hồng và cá khác khác chiếm 25,62%, thể tích nuôi 7.960 m3.

Toàn tỉnh có 8 cơ sở nuôi thủy sản bể, bồn, trong đó có 7 doanh nghiệp và 1 hộ gia đình. Thể tích nuôi 95.496 m3; chủ yếu là nuôi cá tầm.

Số cơ sở ươm giống thủy sản hiện có 7 cơ sở, trong đó: có 3 doanh nghiệp và 01 viện nghiên cứu thủy sản III ươm giống thủy sản chủ yếu cá tầm giống với thể tích 1.870 m3, hộ gia đình 3 cơ sở với diện tích là 10.200 m2, tăng 4.395 m2; diện tích nuôi tập trung chủ yếu ở huyện Lâm Hà, Đức Trọng và thành phố Bảo Lộc.

Sản lượng thủy sản: Ước sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 4.766,2 tấn, tăng 7,88% (+348,05 tấn) so với cùng kỳ do phần lớn ở khâu nuôi trồng thủy sản là chủ yếu; khai thác thuỷ sản có chiều hướng giảm do nguồn thủy sản ngày càng cạn kiệt. Trong đó, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 196,8 tấn, chiếm 4,10%, giảm 14,37% (-33 tấn) so với cùng kỳ (sản phẩm cá khai thác 171,44 tấn, chiếm 87,12%, giảm 15,55% (-31,56 tấn); tôm các loại 18,22 tấn, chiếm 9,26%; thủy sản khác 7,12 tấn, chiếm 3,62%); sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.569,4 tấn, chiếm 95,9%, tăng 9,1% (+381,02 tấn) so với cùng kỳ (sản lượng cá đạt 4.568,8 tấn, chiếm 99,99% sản lượng nuôi trồng, tăng 9,1% (+380,7 tấn)).

              Sản xuất giống thủy sản: Sản lượng ước đạt 14,1 triệu con, chủ yếu là cá giống; tăng 6,5% (+0,86 triệu con), trong đó phần lớn là giống cá nước lạnh (cá tầm) tăng 0,36 triệu con so với cùng kỳ.

7.     Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tháng 6 năm 2019 tăng 14,2% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 82,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,14% (trong đó, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 76,76%; ngành sản xuất trang phục tăng 75,46%; ngành dệt tăng 10,08%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,27%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,79%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,22%; ngành sản xuất kim loại tăng 1,63%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,77%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 29,71% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm chủ yếu tháng 6 năm 2019: Rau ướp lạnh đạt 766 tấn, tăng 17,59%; dược phẩm khác đạt 10 tấn, tăng 0,23%; gỗ cưa hoặc xẻ đạt 2.877  m3, giảm 12,94%; phân bón NPK đạt 14,6 ngàn tấn, tăng 2,8%; Alumin đạt 56 ngàn tấn, tăng 1,63%; quả và hạt ướp lạnh đạt 649 tấn, tăng 7,4%; gạch xây dựng đạt 32,5 triệu viên, giảm 10,8%; gạch không nung đạt 1,3 triệu viên, tăng 2,24%; chè nguyên chất đạt 3.735 tấn, giảm 10,2%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 281 ngàn m2, tăng 15,18%; sợi xe từ sợi tơ tằm đạt 96 tấn, tăng 7,74%.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,65 so với cùng kỳ. Cụ thể:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 28,66% so với cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm đá xây dựng đạt 813,8 ngàn m3, tăng 9,75%; quặng boxit đạt 51 ngàn tấn, tăng 36,3% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,96 so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 48,69% (trong đó, tăng mạnh sản phẩm bê tông tươi trộn sẵn đạt 175,6 ngàn m3, tăng 48,18%; gạch xây dựng đạt 195,6 triệu viên, tăng 2,42%; gạch không nung đạt 7,7 triệu viên, tăng 1,23%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 34,44% (tăng mạnh là sản phẩm dược phẩm khác đạt 64,1 tấn, tăng 26,3%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,41% (trong đó, rau ướp lạnh đạt 4.871 tấn, tăng 59,15%; sản phẩm quả và hạt ướp lạnh đạt 4.007 tấn, tăng 29,51%; chè nguyên chất đạt 18.478 tấn, giảm 14,71%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 13,89% (trong đó, sản phẩm phân bón NPK của Công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 60.527 tấn, tăng 13,93%); sản xuất kim loại tăng 7,29% (sản phẩm Alumin đạt 331,5 ngàn tấn, tăng 7,29%); ngành dệt tăng 3,49% (trong đó: sản phẩm tơ thô đạt 164 tấn, tăng 6,18%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 1.002 ngàn m2, giảm 12,14%; sợi xe từ sợi tơ tằm đạt 538 tấn, giảm 1,6%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 15,47% (trong đó, sản phẩm gỗ cưa hoặc xẻ đạt 24.717 m3, tăng 20,33%).

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,75% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng điện sản xuất được phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng đạt 2.307 triệu kwh, tăng 5,34%; sản lượng điện thương phẩm đạt 661 triệu kwh, tăng 11,18% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,96%. Trong đó, sản lượng nước ghi thu đạt 16.282 ngàn m3, tăng 15%; dịch vụ rác thải không độc hại có thể tái chế đạt 25.403 triệu đồng, tăng 17,77% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng qua các năm

 

Năm 2017

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2018

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2019

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

107,33

107,17

109,65

  1. Khai khoáng

91,14

99,58

128,66

  1. Chế biến, chế tạo

104,90

106,74

111,96

  1. Sản xuất, phân phối điện

115,91

108,11

105,75

  1. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

104,38

107,35

114,96

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6 năm 2019 tăng 18,3% so với cùng kỳ; chủ yếu ở ngành sản xuất đồ uống tăng 49,57%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 44,69%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 34,06%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 24,05%; sản xuất trang phục tăng 14,71%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,86%; ngành dệt giảm 37,03%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1,12% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tồn kho tháng 6/2019 tăng 11,13% so với cùng kỳ: sản xuất từ khoáng phi kim loại khác tăng 86,37%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,31%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 19,23%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 87,99%; chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 23,95%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,4%; ngành dệt giảm 6,05% so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 6 năm 2019 tăng 9,19% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế cấp 2: Ngành sản xuất trang phục tăng 196%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 24,07%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 13,18%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 7,49%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 6,48%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 2,4%; ngành khai khoáng khác giảm 7,44%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 4,71%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 4,55%; ngành dệt giảm 3,42%; ngành công nghiệp chế biến thực phẩm giảm 2,49%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 0,3% so với cùng kỳ. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước giảm 1,68%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 3,15%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 220,81% so với cùng kỳ.

* Xu hướng sản xuất quý II/2019 so với quý I/2019, các doanh nghiệp có những thuận lợi nhất định trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu: Khối lượng sản xuất có 38,46% doanh nghiệp trả lời tăng, 18,46% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 20%); số lượng đơn đặt hàng mới có 35,38% doanh nghiệp trả lời tăng, 21,54% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 13,84%); số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có 27,03% doanh nghiệp trả lời tăng, 24,32% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 2,7%); số lượng lao động bình quân có 16,92% doanh nghiệp trả lời tăng, 15,38% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 1,54%).

Xu hướng kinh doanh trong quý III/2019 so với quý II/2019, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh có những bước chuyển biến tích cực thông qua các chỉ tiêu: Khối lượng sản xuất có 36,92% doanh nghiệp trả lời tăng, 18,46% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 18,46%); số lượng đơn đặt hàng mới có 29,23% doanh nghiệp trả lời tăng, 23,08% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 6,15%); số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có 24,24% doanh nghiệp trả lời tăng, 12,12% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 12,12%); số lượng lao động bình quân có 16,92% doanh nghiệp trả lời tăng, 13,85% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng: 3,08%).

8. Thương mại, dịch vụ 

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2019 đạt 4.175,6 tỷ đồng, tăng 14,95% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 350,3 tỷ đồng, tăng 9,45%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.764,9 tỷ đồng, tăng 15,42% (kinh tế cá thể đạt 2.773,8 tỷ đồng, tăng 17,92%; kinh tế tư nhân đạt 990,6 tỷ đồng, tăng 8,99%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 60,4 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 25.282 tỷ đồng, tăng 12,08% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 2.169,1 tỷ đồng, tăng 10,68%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 22.747,2 tỷ đồng, tăng 12,1% (kinh tế cá thể đạt 17.006,5 tỷ đồng, tăng 14,9%; kinh tế tư nhân đạt 5.738,1 tỷ đồng, tăng 4,55%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 365,7 tỷ đồng, tăng 19,55% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 6/2019 ước đạt 2.765,6 tỷ đồng, tăng 15,79% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 166,9 tỷ đồng, tăng 6,29%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.542,1 tỷ đồng, tăng 16,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 56,6 tỷ đồng, tăng 19,53% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 1.156,9 tỷ đồng, tăng 17,61%; xăng, dầu các loại đạt 341,5 tỷ đồng, tăng 24,41%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 305,4 tỷ đồng, tăng 31,74%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019 đạt 17.183,6 tỷ đồng, tăng 11,32% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 946,8 tỷ đồng, tăng 3,53%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 15.895,2 tỷ đồng, tăng 11,65%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 341,6 tỷ đồng, tăng 19,94% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như hàng may mặc đạt 1.036,6 tỷ đồng, tăng 11,36%; xăng, dầu các loại đạt 1.955,4 tỷ đồng, tăng 12,14%; lương thực, thực phẩm đạt 7.476,5 tỷ đồng, tăng 14,44%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 272,9%, tăng 15,11%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.319,2 tỷ đồng, tăng 15,63% so với cùng kỳ. 

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác tháng 6/2019 ước đạt 463,7 tỷ đồng, tăng 14,91%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 286,6 tỷ đồng, tăng 14,24%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 69,2 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác 6 tháng đầu năm 2019 đạt 2.838,8 tỷ đồng, tăng 12,82%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.792,8 tỷ đồng, tăng 14,16%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 408,2 tỷ đồng, tăng 8,73% so với cùng kỳ.

            - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 6/2019 ước đạt 942,4 tỷ đồng, tăng 15,32% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 114,3 tỷ đồng, tăng 14,31%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 828,1 tỷ đồng, tăng 15,46% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 436,2 nghìn lượt khách, tăng 11,47% (khách trong nước đạt 414 nghìn lượt khách, tăng 11,86%; khách quốc tế đạt 22,2 nghìn lượt khách, tăng 4,72%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng đầu năm 2019 đạt 5.239,3 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 671,3 tỷ đồng, tăng 13,56%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 4.568 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 2.465,5 nghìn lượt khách, tăng 13,08% (khách trong nước đạt 2.308,2 nghìn lượt khách, tăng 15,76%; khách quốc tế đạt 157,3 nghìn lượt khách, giảm 15,55% so với cùng kỳ).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 6/2019 ước đạt 3,9 tỷ đồng, tăng 4,07% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 5.278 lượt khách, tăng 12,78%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 6 tháng đầu năm 2019 đạt 20,3 tỷ đồng, tăng 10,79% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 30.270 lượt khách, tăng 11,01% so với cùng kỳ.

9. Hoạt động vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 6/2019 đạt 394,3 tỷ đồng, tăng 12,62% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 365,8 tỷ đồng, tăng 12,89%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 28,5 tỷ đồng, tăng 9,33% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 6 tháng đầu năm 2019 đạt 2.203,9 tỷ đồng, tăng 10,68% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 2.048,4 tỷ đồng, tăng 10,93%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 155,3 tỷ đồng, tăng 7,51% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 6/2019 ước đạt 162 tỷ đồng, tăng 11,55%; khối lượng vận chuyển đạt 3.733,2 nghìn hành khách, tăng 13,73% và luân chuyển đạt 422,2 triệu hành khách.km, tăng 23,33% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 878,7 tỷ đồng, tăng 11,79%; khối lượng vận chuyển đạt 20.747,9 nghìn hành khách, tăng 10,21% và luân chuyển đạt 2.403,4 triệu hành khách.km, tăng 10,66% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hàng hoá tháng 6/2019 ước đạt 203,8 tỷ đồng, tăng 13,97%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1.116,5 nghìn tấn, tăng 7,13% và luân chuyển đạt 171,1 triệu tấn.km, tăng 4,89% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hàng hoá 6 tháng đầu năm 2019 đạt 1.169,9 tỷ đồng, tăng 10,29%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 6.477,8 nghìn tấn, tăng 11% và luân chuyển đạt 952,7 triệu tấn.km, tăng 13,04% so với cùng kỳ.

                        10. Các vấn đề xã hội

10.1. Lao động và việc làm

Trong 6 tháng đầu năm 2019, giải quyết việc làm cho khoảng 15,5 nghìn lao động, tăng 4,03% so với cùng kỳ; trong đó lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản 10.215 người; lao động công nghiệp và xây dựng 1.349 người; lao động dịch vụ 3.936 người. Dự ước tại thời điểm 30/6/2019 tỉnh Lâm Đồng có 818.303 người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, trong đó có 811.077 người có việc làm và 7.226 người thất nghiệp. Trong tổng số lực lượng lao động của tỉnh, nữ giới chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới (48,9% so với 51,1% nam giới), lý do cơ hội tìm việc làm của nữ thấp hơn nam giới. Tỷ trọng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn là 63,1%, tương đương 511.789 người, cao gấp 1,71 lần so với khu vực thành thị với 299.288 người, chiếm 36,9%.

Dự ước tại thời điểm 30/6/2019 toàn tỉnh Lâm Đồng có 13.152 người thiếu việc làm (tỷ lệ thiếu việc làm là 1,61%), trong đó khu vực nông thôn có 9.779 người (tỷ lệ thiếu việc làm là 1,89%), còn khu vực thành thị là 3.373 người thiếu việc làm (tỷ lệ thiếu việc làm là 1,12%); qua số lượng người thiếu việc làm cho thấy mặc dù tỷ lệ thiếu việc làm có giảm so cùng kỳ nhưng nhu cầu muốn làm thêm việc vẫn rất cao, điều này nói lên tiềm ẩn về đời sống của người dân mong muốn làm thêm việc để tăng thu nhập ổn định cuộc sống; hầu hết lao động thiếu việc làm tập trung ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và chủ yếu ở khu vực nông thôn. Còn tỷ lệ thất nghiệp tại thời điểm 30/6/2019 là 0,88%, tương đương với 7.226 người thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 1,05%, tương đương với 3.162 người, còn khu vực nông thôn có 4.064 người thất nghiệp, tương ứng tỷ lệ 0,79%.

10.2. Đời sống dân cư và đảm bảo an toàn xã hội

Trong 6 tháng đầu năm 2019, đối với cán bộ, công chức, viên chức và công nhân làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có cuộc sống ổn định. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn đạt 7 triệu đồng/người/tháng; khu vực địa phương 5,4 triệu đồng/người/tháng. Đối với các đơn vị Trung ương quản lý thì đơn vị thu nhập bình quân một người 1 tháng cao nhất đạt 10 triệu đồng, bằng 1,96 lần so với đơn vị thấp nhất 5,1 triệu đồng. Đối với các đơn vị địa phương quản lý có ngành xây dựng thu nhập bình quân một người 1 tháng cao nhất đạt 7,3 triệu đồng, bằng 1,5 lần so với các đơn vị quản lý nhà nước 4,9 triệu đồng.

Về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội tỉnh ước đến 30/6/2019 toàn tỉnh có 1.088.035 đối tượng tham gia BHYT, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh là 82,87%.

Theo Quyết định số 1170/QĐ-UBND, ngày 27/5/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cho giai đoạn 2016-2020 (tính đến cuối năm 2018 và cho đến thời điểm báo cáo) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện có: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 9.046 hộ, chiếm tỷ lệ 2,85% (hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số 6.008 hộ, chiếm tỷ lệ 8,5%). Huyện Đam Rông là huyện nghèo có 2.565 hộ (tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 19,22%, hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số của huyện là 2.358 hộ, chiếm tỷ lệ 31,83%). Trong tổng số hộ nghèo toàn tỉnh có 7.184 hộ nghèo về thu nhập (chiếm tỷ trọng: 79,42%); còn hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 1.862 hộ (chiếm tỷ trọng: 20,58%). Tổng số hộ cận nghèo 13.947 hộ, chiếm tỷ lệ 4,39% (hộ cận nghèo đồng bào dân tộc thiểu số: 7.437 hộ, chiếm tỷ lệ 10,52%). Huyện Đam Rông có 2.999 hộ, chiếm tỷ lệ 22,48%.

Nhân dịp Tết Kỷ Hợi 2019 UBND tỉnh, các ngành, các địa phương và các tổ chức, cá nhân đã tổ chức trợ cấp, thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các gia đình gặp khó khăn, neo đơn đảm bảo cho mọi nhà, mọi người đều được đón Tết. Quà Tết và trợ giúp xã hội: Tổng số tiền trợ giúp xã hội và trợ cấp Tết của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh là 41,7 tỷ đồng, tương ứng với 131.935 suất quà (kể cả tiền và hiện vật quy tiền). Trong đó, nguồn ngân sách Trung ương (quà của Chủ tịch Nước) là 1,93 tỷ đồng, nguồn ngân sách tỉnh 36,06 tỷ đồng, nguồn xã hội hóa 3,69 tỷ đồng.

* Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Xã nông thôn mới: Trong 5 tháng đầu năm đã có thêm 03 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới là xã Đạ Lây huyện Đạ Tẻh; xã Liên Đầm huyện Di Linh và xã Lộc Nam  huyện Bảo Lâm; nâng số xã nông thôn mới toàn tỉnh đạt 90 xã/116 xã, đạt 77,58%. Ngoài ra hiện còn 12 xã đã đăng ký đạt chuẩn trong năm 2019; qua rà soát sơ bộ tất cả các xã đều đạt trên 15 tiêu chí.

Huyện Nông thôn mới: theo kế hoạch giao năm 2019 huyện Đạ Tẻh sẽ đạt tiêu chí huyện nông thôn mới, đến nay đã đạt 7/9 tiêu chí, hai tiêu chí còn lại là tiêu chí Quy hoạch và Môi trường, ngoài ra, huyện Cát Tiên cũng đăng ký đạt chuẩn trong năm 2019, đến nay đã đạt 5/9 tiêu chí.

Kinh phí trực tiếp thực hiện chương trình năm 2019 là 272,7 tỷ trong đó vốn Trung ương 202,7 tỷ đồng (vốn ĐTPT: 139,4 tỷ, vốn SN 63,3 tỷ), Ngân sách địa phương 70 tỷ đồng.

10.3. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền           

Trong 6 tháng đầu năm 2019, công tác thông tin và tuyên truyền toàn tỉnh đã tổ chức các hoạt động phục vụ các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chào mừng kỷ niệm 129 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tổ chức 41 buổi biểu biễn nghệ thuật, thu hút khoảng 89.000 lượt người xem; tham gia chương trình nghệ thuật Đêm hội đường phố - Lễ hội Vang nho Ninh Thuận năm 2019; liên hoan tuyên truyền lưu động kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh và truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019). Thực hiện nhân bản và phát hành 07 phim truyện, 18 phim tài liệu, 14 chuyên mục phóng sự chuyên đề, phim phóng sự, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phổ biến kiến thức khoa học, người tốt việc tốt; treo 101,52 m2 pano cổ động, 24 tài liệu tuyên truyền xe loa, 12 tiểu phẩm tình huống tuyên truyền luật giao thông đường bộ. Đội chiếu bóng lưu động thực hiện 355 buổi chiếu (đạt 65,74% kế hoạch năm), phục vụ 60.430 lượt người xem. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2019 nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyên truyền Chỉ thị 05-CT/TW và NQTW4 (khóa XII), thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã chỉ đạo các tổ chức Đảng triển khai cuộc thi “Tìm hiểu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; thực hiện kế hoạch của hội thi từ ngày 15 -17/5/2019 Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh đã tổ chức thành công vòng sơ khảo cuộc thi và chọn 6 đội tham gia thi vòng chung khảo để chon đội đại diện Đảng ủy khối thi vòng cấp tỉnh; vòng chung khảo sẽ được tổ chức vào ngày 27/6/2019.

Bảo tàng Lâm Đồng đón 36.315 lượt khách, với 807 khách quốc tế (trong đó: Nhà trưng bày Bảo tàng Lâm Đồng đón 25.349 lượt khách; Di tích Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 7.610 lượt khách; Di tích khảo cổ Cát Tiên đón 3.356 lượt khách). Thường xuyên bổ sung chỉnh lý hiện vật, chủ đề trưng bày và chỉnh trang cảnh quan khuôn viên Bảo tàng nhằm thu hút khách trong nước và quốc tế. Triển lãm ảnh “Mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019” nhân kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019; triển lãm chào mừng kỷ niệm 44 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019); chào mừng Đại hội MTTQ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019-2024. Duy trì tốt hoạt động của trạm vệ tinh ngân hàng dữ liệu văn hóa phi vật thể.

 Thư viện tỉnh đã cấp phát 4.273 thẻ bạn đọc (trong đó 4.000 thẻ được cấp miễn phí trong Ngày Hội sách); phục vụ 514.948 lượt bạn đọc, luân chuyển 298.455 lượt tài liệu. Bổ sung 8.095 bản sách nâng tổng số tài liệu thư viện tỉnh hiện có lên 239.421 bản. Trưng bày, triển lãm tại Thư viện 1.471 hình ảnh, tài liệu nhân kỷ niệm các ngày Lễ lớn của đất nước, của địa phương.

 10.4. Hoạt động thể dục - thể thao

Thể thao thành tích cao: Phối hợp tổ chức thành công nhiều giải quốc gia, quốc tế và khu vực gồm các giải như: giải đua xe đạp nữ Quốc tế Bình Dương mở rộng tranh Cúp Biwase năm 2019, các chặng trên địa phận tỉnh Lâm Đồng; giải xe đạp địa hình toàn quốc mở rộng DaLat Victory Challenge thuộc hệ thống Cúp vô địch quốc gia “Vietnam MTB Series 2019”; giải siêu Marathon quốc tế Dalat Ultra Trail - lần thứ  III năm 2019; giải vô địch Cử tạ thanh thiếu niên quốc gia năm 2019; giải xe đạp cúp Truyền hình TP.HCM lần thứ 31 năm 2019, các chặng đi qua địa bàn tỉnh Lâm Đồng; giải vô địch trẻ Karate quốc gia năm 2019. Cử đoàn vận động viên tham gia 27 giải thể thao quốc gia, khu vực, quốc tế với 302 lượt VĐV. Tính đến ngày 31/5/2019, Thể thao Lâm Đồng đạt 31 huy chương (5 HCV, 9 HCB, 17 HCĐ), đạt 17,7% kế hoạch năm 2019.

Thể dục thể thao quần chúng: Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển. Ngành thể thao Lâm Đồng tổ chức và phối hợp tổ chức thành công 12 giải TDTT quần chúng, gồm các giải: Cờ Tướng; Võ thuật cổ truyền tỉnh mừng Đảng - mừng Xuân Kỷ Hợi 2019; Việt dã vô địch tỉnh Lâm Đồng; Việt dã truyền thống 26/3/2019; Bóng đá mini các doanh nghiệp tỉnh; Cầu lông các CLB tỉnh Lâm Đồng mở rộng; quần vợt tỉnh Lâm Đồng; Gala và giải thể dục dưỡng sinh tỉnh Lâm Đồng mở rộng lần thứ I - 2019; võ thuật cổ truyền trẻ tỉnh Lâm Đồng năm 2019; thể dục thể hình và nữ Fitness các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2019; Vovinam các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2019; bơi trẻ, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Lâm Đồng năm 2019. Phong trào TDTT quần chúng tiếp tục duy trì và phát triển.

10.5. Hoạt động giáo dục - đào tạo

 Đến cuối năm học 2018-2019 tỉnh Lâm Đồng có 713 trường và trung tâm, giảm 03 đơn vị so với năm học trước. Tổng số HSSV: 319.046 (MN, PT: 316.687; các trung tâm GDTX-GDNN: 1.357 và CĐSP: 1002). Tổng số CBQL, GV trong các đơn vị sự nghiệp công và cơ quan QLGD: 21.263 (CBQL: 1.625, GV: 15.995; NV: 3.643).

Công tác chuẩn bị các điều kiện kỳ thi THPT quốc gia năm 2019: Theo Quyết định số 1130/QĐ-BGDĐT ngày 25/4/2019 của Bộ GDĐT về việc giao nhiệm vụ phối hợp tổ chức thi THPT QG năm 2019, tỉnh Lâm Đồng thuộc Cụm thi số 45; Đơn vị chủ trì tổ chức thi: Sở GDĐT Lâm Đồng. Đơn vị phối hợp gồm 4 trường: Trường Đại học Đà Lạt; Trường Đại học mở thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Giao thông Vận tải cơ sở phía Nam và Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu. Toàn tỉnh có 38 điểm thi với 13.963 thí sinh đăng ký dự thi; dự kiến huy động 1.995 cán bộ (Sở GDĐT: 1.264 cán bộ; các trường ĐH, CĐ: 731 cán bộ.

Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và công tác phổ cập giáo dục:

- Kết quả xây dựng trường công lập đạt chuẩn quốc gia tính đến ngày 01/01/2019: 393/636 (đạt tỷ lệ 61,8%). Ngoài ra, Sở GDĐT đã tiến hành kiểm tra đánh giá để công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia cho 06 trường mầm non, phổ thông công lập, hoàn tất hồ sơ trình UBND tỉnh công nhận trước ngày 30/7/2019; Nâng tổng số trường đạt chuẩn: 399/636, đạt 62,7%, dự ước hết năm 2019 đạt khoảng 70%.

- Kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ đến nay: 12/12 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; 11/12 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3; huyện Đam Rông đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 2; 10/12  huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập THCS mức độ 2; 02 huyện (Di Linh và Đam Rông) đạt chuẩn phổ cập THCS mức độ 1; 09/12 huyện, thành phố đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2; 03 huyện (Di Linh, Lạc Dương và Đam Rông) đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1.

Tình hình tổ chức kỳ thi trung học phổ thông năm học 2018-2019:  Kết quả thi HSG quốc gia THPT năm 2019: 23/62 HS dự thi đạt giải, trong đó có 01 giải Nhất, 03 giải Nhì, 09 giải Ba và 10 giải khuyến khích, chất lượng giải tăng so với năm 2018.

- Tổ chức và tham gia các cuộc thi, kỳ thi: Kỳ thi tốt nghiệp nghề PT, tốt nghiệp Tiếng Pháp cấp THCS NH 2018 - 2019, tuyển sinh lớp 10 chuyên năm học 2019 - 2020 đúng quy chế (có 534 thí sinh đăng ký dự thi/10 môn thi, số thí sinh vắng 33).

- Hoàn thành tổ chức Cuộc thi KHKT dành cho học sinh trung học tỉnh Lâm Đồng lần thứ XI gồm 189 dự án của 62 đơn vị, tăng 62 dự án so với năm 2018 (Kết quả: 04 giải nhất, 13 giải nhì, 21 giải ba, 55 giải tư); có 12 dự án tham gia Cuộc thi KHKT cấp quốc gia năm 2019, kết quả đạt 02 giải nhì, 02 giải ba và 03 giải tư.

- Hoàn thành tổ chức thi chọn HSG cấp tỉnh THPT năm 2019. Số thí sinh dự thi 1.707/10 môn thi, kết quả: Hệ THPT có  833 học sinh đạt giải, trong đó giải nhất  39, giải nhì 195, giải ba 248, giải KK351, Hệ GDTX 19 học sinh đạt giải, trong đó  giải nhất 01, giải nhì 03, giải ba 06, giải KK 09. Kỳ thi HSG cấp tỉnh THCS năm học 2018 – 2019 có 476 giải (18 giải nhất, 113 giải nhì, 146 giải ba và 199 giải khuyến khích).

- Kết quả tham gia giải Taekwondo dành cho học sinh toàn quốc năm 2019 có 20 HS tham dự, kết quả: 13 HCV, 08 HCB, 09 HCĐ và Nhất toàn đoàn cấp Tiểu học.

- Cuộc thi Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh năm 2019 có 02 giải Nhất, 04 giải Nhì, 06 giải Ba và 15 giải Khuyến khích. Phòng GDĐT thành phố Đà Lạt đoạt giải nhất, Phòng GDĐT thành phố Bảo Lộc và Phòng GDĐT huyện Đơn Dương đoạt giải nhì. Các phòng GDĐT còn lại đoạt giải khuyến khích.

- Kết quả đánh giá, xếp loại học sinh năm học 2018 - 2019: 100% trẻ mẫu giáo 5 tuổi hoàn chương trình GDMN; 99,9% hoàn thành chương trình GDTH (01 học sinh hòa nhập chưa hoàn thành chương trình). Xếp loại học sinh THCS: Hạnh kiểm đạt 99,93% trung bình trở lên; học lực giỏi 25,82%; khá 38,36%, trung bình 31,91%; yếu 3,83%, kém 0,09%. Xếp loại học sinh THPT: Hạnh kiểm 99,87% trung bình trở lên; học lực: Giỏi 11,79%, khá 45,65%, trung bình 36,77%, yếu 5,65%, kém 0,15%.

        10.6. Hoạt động y tế                                                               

Trong 6 tháng đầu năm 2019, ngành Y tế Lâm Đồng tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), (H5N8), (H7N9) và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm, sốt rét, sốt xuất huyết không có dịch xảy ra. Bệnh tay chân miệng phát hiện 266 trường hợp mắc bệnh, tăng 170 trường hợp so với cùng kỳ, không có trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng. Bệnh phong tổ chức khám 289.723 lượt người, phát hiện 02 bệnh nhân phong mới; toàn tỉnh quản lý 148 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 142 bệnh nhân, tổ chức giám sát 15 bệnh nhân. Khám và phát hiện 258 bệnh nhân lao mới; trong đó có 140 bệnh nhân lao phổi AFB (+). Tổng số bệnh nhân mắc sốt rét là 53 trường hợp (giảm 25 trường hợp so với cùng kỳ), không có trường hợp mắc sốt rét ác tính và tử vong do sốt rét; thực hiện 59.891 xét nghiệm, phát hiện 53 ký sinh trùng sốt rét. Phát hiện 188 trường hợp sốt xuất huyết, tăng 130 trường hợp so với cùng kỳ; tổ chức giám sát lăng quăng tại 111 điểm và 624 lượt, trong đó phát hiện 07 điểm có chỉ số BI (Breteau index) vượt ngưỡng tại Đức Trọng, Đạ Tẻh, Đơn Dương, Lâm Hà, Bảo Lộc; giám sát mật độ muỗi tại 66 điểm lưu hành sốt xuất huyết và 414 lượt, trong đó có 02 điểm vượt ngưỡng về côn trùng tại huyện Lâm Hà và Di Linh. Có 28 trường hợp nhiễm HIV mới đưa vào quản lý (tích lũy 1.497), có 01 trường hợp chuyển AIDS mới (tích lũy 277) và có 05 trường hợp tử vong AIDS (tích lũy 563); số người nhiễm HIV còn sống được quản lý tại địa phương là 662 trường hợp. Quản lý và điều trị cho 1.333 bệnh nhân tâm thần phân liệt, trong đó có 21 bệnh nhân phát hiện mới, có 1.171 bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị đều, đạt tỷ lệ 88%, có 1.267 bệnh nhân tâm thần phân liệt được tái hòa nhập cộng đồng, đạt tỷ lệ 95% và quản lý điều trị cho 1.603 bệnh nhân động kinh, trong đó có 42 bệnh nhân phát hiện mới, có 1.546 bệnh nhân động kinh được điều trị đều, đạt tỷ lệ 96,4%.

Tiêm chủng đầy đủ cho 8.683 trẻ, đạt 37,5% kế hoạch năm. Tiêm phòng uốn ván 2+ cho 10.507 phụ nữ có thai, đạt 47,59% kế hoạch. Tổ chức tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho 11.446 trẻ em 18 tháng tuổi, đạt 48,06% kế hoạch; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DTC) mũi 4 cho 11.318 trẻ 18 tháng tuổi, đạt 47,52% kế hoạch. Tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi mũi 1 cho 11.676 trẻ, đạt 49,9 kế hoạch; mũi 2 cho 11.582 trẻ, đạt 49,49% kế hoạch và mũi 3 cho 10.421 trẻ, đạt 44,82% kế hoạch năm.

Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản: Tổng số phụ nữ đẻ là 11.102 (bao gồm cả nơi khác đến Lâm Đồng sinh); trong đó số phụ nữ được quản lý thai là 10.802, chiếm tỷ lệ 97,3%; số phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ là 11.074, chiếm tỷ lệ 99,75%; số bà mẹ đẻ được khám thai ≥ 3 lần trong 3 thai kỳ là 10.684, đạt tỷ lệ 96,2%; số bà mẹ được thăm khám trong vòng 42 ngày tại nhà sau đẻ là 9.334, chiếm tỷ lệ 84,07%. Số mắc tai biến sản khoa trong 6 tháng là 21 trường hợp (băng huyết: 19, sản giật: 02) tăng 06 trường hợp so với năm 2018; có 03 trường hợp tử vong mẹ. Tổng số lượt khám phụ khoa là 62.336 lượt, số lượt mắc bệnh bệnh phụ khoa được điều trị là 27.128 người.

Công tác cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em: Tổng số trẻ sinh là 11.104 cháu; số trẻ đẻ sống là 11.104 cháu; số trẻ sơ sinh sống được cân là 11.104 cháu, số trẻ đẻ cân nặng dưới 2.500 gram là 512 cháu, chiếm tỷ lệ 4,66%. Số trẻ tử vong dưới 1 tuổi tại cơ sở y tế là 42 trường hợp, tử vong trẻ em dưới 5 tuổi tại cơ sở y tế là 53 trường hợp.

            Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Từ đầu năm đến nay có 01 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, do ngộ độc thực phẩm sau ăn tiệc cưới trưa ngày 12/5/2019, tổng số người bị ngộ độc là 129 người (trong đó có 93 trẻ em dưới 16 tuổi, 27 bé dưới 1 tuổi).

Ngoài ra, Hội Chữ thập đỏ tỉnh đã phối hợp với các ngành tổ chức Ngày Hội Hiến máu tình nguyện (HMTN) đợt 1/2019 vào sáng ngày 11/5/2019 và đợt 2 vào sáng ngày 19/6/2019. Ngày hội đã thu hút hàng nghìn sinh viên, cán bộ công chức và người lao động trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia HMTN cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh.

10.7. Tình hình an toàn giao thông

Ban An toàn giao thông phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh ban hành Chương trình phối hợp số 102-CTPH/HCTĐ-BATGT về phối hợp bảo đảm trật tự an toàn giao thông giai đoạn 2019-2023; kế hoạch số 103/KH-BATGT ngày 22/5/2019 về triển khai Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 16/4/2019 về phê duyệt Đề án “Các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa trong tình hình mới”; văn bản số 104/BATGT ngày 23/5/2019 về bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong kỳ thi THPT Quốc gia 2019; văn bản số 106/BATGT ngày 23/5/2019 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 15/5/2019 của UBND tỉnh nghiêm cấm xe công nông, xe tự chế 3,4 bánh, xe hết niên hạn sử dụng lưu thông trên địa bàn tỉnh; văn bản số 107/BATGT ngày 23/5/2019 về tăng cường thực hiện các giải pháp ngăn chặn tai nạn giao thông do uống rượu, bia;... Phối hợp với Chi cục Quản lý đường bộ IV.1 và các đơn vị liên quan kiểm tra, đề xuất giải pháp xử lý điểm đen TNGT đoạn Km176+800 đến Km177 QL.20 đoạn qua địa bàn huyện Di Linh, Lâm Đồng; in và tổ chức tuyên truyền 45.000 tờ rơi “Chấp hành các quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng Giao thông đường bộ”, 4.000 cẩm nang “xử lý vi phạm quy định về bảo đảm an toàn cho hành khách trên phương tiện vận tải” đến Ban An toàn giao thông 12 huyện/thành phố thuộc tỉnh.

Tính từ ngày 16/5/2019 đến ngày 15/6/2019, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11 người, bị thương 11 người. Số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm 2018 (tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/5/2018) trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 96 vụ tai nạn giao thông, giảm 15,04% so với năm trước; làm chết 70 người, tăng 1,45%; bị thương 61 người, giảm 23,75% so với năm trước.

Trong tháng 6/2019 lực lượng chức năng phát hiện, xử lý 4.954 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, xử phạt 3,6 tỷ đồng, tước 225 giấy phép lái xe. Phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới 501 ô tô và 4.175 mô tô. Tổng phương tiện đang quản lý là 58.228 ô tô và 1.001.069 mô tô.

11. Một số nhiệm vụ chủ yếu cần triển khai trong 6 tháng cuối năm 2019

Nhằm triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2019 mà Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra, các ngành, các cấp cần tiếp tục tập trung triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

1. Tiếp tục thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2019 theo các Nghị quyết của Chính phủ, Hội đồng Nhân dân tỉnh, Chương trình hành động của UBND tỉnh Lâm Đồng về triển khai thực hiện Nghị quyết số 145/2015/HĐND ngày 11/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 đã đề ra; giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019. Phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết và kịch bản tăng trưởng đã đề ra.

2. Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và Nghị quyết 05-NQ/TU về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016 - 2020. Đẩy mạnh thực hiện dự án xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành và cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp; chú trọng xây dựng, quảng bá và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp, du lịch và các sản phẩm chủ lực khác của tỉnh. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi. Thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn các kênh, mương, hồ, đập, cầu, cống; thực hiện tốt phương án phòng, chống, khắc phục thiệt hại thiên tai trong mùa mưa bão.

3. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng; tiến hành rà soát, điều chỉnh dự án đầu tư có liên quan đến chuyển mục đích sử dụng rừng trên địa bàn toàn tỉnh; tiếp tục chỉ đạo thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng; quản lý tài nguyên, khoáng sản; xử lý nghiêm các vụ vi phạm.

4. Tiếp tục thực hiện công tác xúc tiến thương mại, du lịch và đầu tư, thu hút đầu tư có chọn lọc; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; tăng cường kiểm tra, kiểm soát chống hàng giả, hàng kém chất lượng, ...

5. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện việc nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ du lịch, chỉ đạo các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra, rà soát hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tránh làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, an toàn của du khách.

6. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược có đủ năng lực, uy tín để thu hút đầu tư. Tập trung đưa các dự án sản xuất kinh doanh, đặc biệt các nhà máy Bia, lông cừu, dệt lụa vào hoạt động để góp phần tăng trưởng kinh tế đảm bảo theo tốc độ tăng trưởng kịch bản xây dựng từ đầu năm.

7. Tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn, phấn đấu đạt và vượt dự toán địa phương; rà soát, đánh giá tình hình, kết quả thu, xác định những lĩnh vực còn thất thu, những tồn tại trong công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành quản lý thu; tập trung quản lý chặt chẽ nguồn thu, triển khai đồng bộ các biện pháp chống thất thu, đảm bảo hoàn thành dự toán thu được giao. Kiểm soát chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm các khoản chi tiêu công. Rà soát, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân vốn các dự án xây dựng cơ bản theo đúng tiến độ; các dự án chậm triển khai, không thực hiện đúng tiến độ sẽ bị điều chuyển vốn cho các dự án khác, địa bàn khác. 

8. Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, chương trình giảm nghèo, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội. Tăng cường các hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

9. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng an ninh; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; điều tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm pháp luật, các vụ chống người thi hành công vụ; thực hiện các giải pháp để giảm tội phạm ma túy và số người nghiệm ma túy; giảm số vụ cháy, số vụ cứu nạn cứu hộ; thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp để giảm tai nạn giao thông trên cả 3 mặt theo kế hoạch đề ra.

10. Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo điều hành của cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến cơ sở; đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước và các địa phương. Đặc biệt, triển khai chương trình Chính phủ điện tử đạt hiệu quả cao nhất.

11. Tổ chức đánh giá kết quả triển khai thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy Lâm Đồng thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước./.



([1]) Số liệu do các ngành tổng hợp của địa phương dự báo GRDP 6 tháng đầu năm tăng 7,15% so với cùng kỳ. Trong đó, KVI tăng 4,4%, KVII tăng 9,48%, KVIII tăng 7,03% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp tăng 8,84% so với cùng kỳ.


Các tin khác

© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt