Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội ước tháng 4 năm 2019

 

1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Sản xuất nông nghiệp

        a. Thu hoạch vụ đông xuân: Tính đến ngày 10/4/2019 toàn tỉnh thu hoạch được 26.898,7 ha/38.398,44 ha gieo trồng, đạt 70,05% so diện tích gieo trồng, tăng 3,89% (+1.006,9 ha). Trong đó:

Lúa thu hoạch 4.126,8 ha/9.169,7 ha gieo trồng, đạt 45%, bằng 98,25% (-73,7 ha) so với cùng kỳ. Tập trung ở Cát Tiên 3.946 ha, chiếm 95,62%; Đạ Tẻh 80,8 ha, chiếm 1,96%; Đạ Huoai 39 ha, chiếm 0,95%, các huyện khác đang tiến hành thu hoạch trên số diện tích lúa đã chín nhưng chưa vào giai đoạn chín rộ do thời gian gieo cấy ở mỗi vùng khác nhau. Ước năng suất bình quân chung trên diện tích đã thu hoạch của tỉnh đạt 63,51 tạ/ha, tăng 1,29% (+0,81 tạ/ha) so với cùng kỳ, do thời tiết năm nay thuận lợi, mưa sớm, lúa đủ nước nên sinh trưởng tốt, mặt khác sâu bệnh trên cây lúa vụ năm nay ít bị ảnh hưởng so với cùng kỳ.

Ngô thu hoạch 1.310,9 ha/1.979,64 ha, đạt 66,22%, giảm 5,62% (-78 ha) so với cùng kỳ; năng suất ước đạt 69,67 tạ/ha, tăng 1,09% (+0,75 tạ/ha).

Rau các loại thu hoạch 16.572,2 ha/19.736,2 ha, đạt 83,97%, tăng 5,78% (+905,5 ha) so với cùng kỳ, do thời tiết thuận lợi cho gieo trồng và thu hoạch, mặt khác giá cả các loại rau tương đối ổn định sản xuất có lãi nên người dân tích cực đầu tư mở rộng diện tích gieo trồng.

Đậu các loại thu hoạch 275 ha, tăng 2,69% so với cùng kỳ.

Hoa các loại thu hoạch 2.566,3 ha/2.983 ha diện tích gieo trồng, đạt 86,03%, tăng 5,7% (+138,4 ha) so với cùng kỳ.

Cây hàng năm khác thu hoạch 1.867,5 ha, tăng 5,37% (+95,2 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu là cỏ thức ăn chăn nuôi chiếm 95,07%, còn lại là diện tích một số cây gia vị, ớt.

b. Sản xuất vụ hè thu:  Tính đến ngày 10/4/2019, toàn tỉnh đã tiến hành xuống giống gieo trồng vụ hè thu được 10.119,4 ha, tăng 7,83% (+735 ha) so với cùng kỳ, trong đó:

Lúa gieo cấy là 1.908 ha, đạt 32,18% kế hoạch, tăng 20,26% so với cùng kỳ, diện tích gieo cấy chủ yếu ở huyện Cát Tiên 1.892 ha, chiếm 99,16% và huyện Đạ Huoai 16 ha, chiếm 0,84%.

Ngô gieo trồng 448 ha, đạt 5,83% kế hoạch, tăng 4,92% (+21 ha) so với cùng kỳ, cây ngô được xác định là cây trồng chính trong vụ, do thời tiết thuận lợi và tận dụng diện tích thu hoạch vụ đông xuân có nước tưới nhiều hộ tranh thủ gieo trồng.

Khoai lang gieo trồng 95,8 ha, tăng 6,8% (+6,1 ha) so với cùng kỳ.

Rau các loại gieo trồng 4.051,4 ha, đạt 16,78% kế hoạch, tăng 6,84% (+259,4 ha) so với cùng kỳ, diện tích gieo trồng tập trung chủ yếu ở vùng chuyên canh rau như: Đơn Dương, Đà Lạt, Lạc Dương, Đức Trọng, các địa phương còn lại diện tích gieo trồng không đáng kể.

Đậu các loại gieo trồng 79 ha, bằng 96,34% so với cùng kỳ.

Cây lâu năm: Tiếp tục đầu tư chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, chăm sóc vườn ươm cây con, tận dụng những đợt mưa sớm tiến hành trồng mới cây lâu năm như cà phê, chè, dâu tằm và một số cây ăn quả khác.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng:

        Theo Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng trong tháng (từ 10/3 - 10/4/2019) như sau:

Trên cây lúa vụ đông xuân: Rầy nâu, bệnh đạo ôn lá, sâu cuốn lá nhỏ, ốc bươu vàng, bọ trĩ gây hại ở mức nhẹ.

Trên cây cà phê: Bọ xít muỗi nhiễm 417 ha cà phê chè tại Lạc Dương; rệp sáp, mọt đục cành, sâu đục thân mình trắng, bệnh gỉ sắt, rệp vảy gây hại ở mức nhẹ.

Trên cây chè: Bọ xít muỗi, rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ gây hại ở mức nhẹ.

Trên cây điều: Bệnh thán thư nhiễm 88 ha tại Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Cát Tiên (giảm 151 ha so với tháng trước); Bọ xít muỗi gây hại ở mức nhẹ.

Trên cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus nhiễm 177 ha tại Đơn Dương, Đức Trọng (tăng 99 ha so với tháng trước).  

Trên cây rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ gây hại 35 ha tại Lạc Dương; sâu tơ, bọ nhảy gây hại rải rác ở mức nhẹ.

Trên cây tiêu: Bệnh chết nhanh gây hại 10,6 ha tại Đức Trọng, Đạ Huoai.

Trên cây sầu riêng: Bệnh chảy gôm (bệnh xì mủ) gây hại 15 ha tại Đạ Tẻh.

c. Tình hình chăn nuôi

Trong tháng 4/2019, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và có hướng phát triển; giá cả sản phẩm chăn nuôi (nhất là thịt lợn, thịt gà và trứng gia cầm đạt mức cao); giá lợn hơi tương đối ổn định và hiện đang dao động ở mức cao 47.000 - 50.000 đồng/kg, cùng với nhu cầu tiêu thụ thịt lợn, gia cầm trong dịp tết vừa qua nên người chăn nuôi tăng đàn.

Tổng số lợn tại thời điểm 01/01/2019 là 441.164 con; so với thời điểm 01/01/2018 tăng 1,12% (+4.888 con), so với thời điểm 01/4/2018 tăng 10,41% (+41.580 con), so với thời điểm 01/10/2018 tăng 3,57% (+15.200 con). Từ tháng 4/2018 cho đến nay giá thịt lợn hơi tăng mạnh và tương đối ổn định, mặc dù thời gian qua trên địa bàn tỉnh có ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng đối với bệnh lở mồm long móng nhưng đến nay đã được xử lý và bình thường trở lại.

Tổng đàn gà tại thời điểm 01/01/2019 là 3.455,2 nghìn con, tăng 0,37% (+12,7 nghìn con) so với cùng kỳ (01/01/2018); so với thời điểm 01/4/2018 tăng 2,73% (+91,9 nghìn con); so với thời điểm 01/7/2018 tăng 3,6% (+120 nghìn con). Tổng số gà nuôi lấy thịt hiện có 2.191,3 nghìn con, chiếm 63,42%; gà đẻ 1.263,9 nghìn con, chiếm 36,58% tổng đàn.

Các loại gia cầm khác (vịt, ngan, ngỗng) trên địa bàn toàn tỉnh giảm so với cùng kỳ do một số gia trại, hộ chăn nuôi chưa tái đàn vì đang trong giai đoạn mùa khô tập trung chủ yếu ở các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng; mặt khác các loại thực phẩm thịt heo, bò, gà, chim cút... ổn định đảm bảo nguồn cung. Vịt 151,68 nghìn con, giảm 16,75% (-30,5 nghìn con); ngan 129,5 nghìn con, giảm 30,85% (-57,8 nghìn con); ngỗng 6,2 nghìn con, tăng 13,34% (+0,7 nghìn con) so với cùng kỳ.

Tình hình dịch bệnh:     

Trên đàn gia cầm: Bệnh cúm gia cầm (H5N1, H5N6) xảy ra trên đàn gà, ngan tại 02 hộ thuộc huyện Đức Trọng và Cát Tiên. Địa phương và gia đình đã tổ chức tiêu hủy 4.920 gia cầm nhiễm bệnh, chết và nuôi cùng ô chuồng nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan.

 Trên đàn gia súc: Bệnh lở mồm long móng và một số bệnh truyền nhiễm khác xảy ra rải rác trên đàn trâu, bò, lợn tại một số hộ chăn nuôi thuộc huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đức Trọng, Lâm Hà và Di Linh. Lũy kế gia súc mắc bệnh là 59 con trâu, bò; 1.357 con lợn mắc bệnh lở mồm long móng và bệnh truyền nhiễm khác. Địa phương và chủ hộ chăn nuôi đã tiêu hủy 780 con lợn mắc bệnh, chết và nuôi cùng ô chuồng.

Công tác phòng chống dịch bệnh:

Tăng cường kiểm soát các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tại các Trạm kiểm dịch động vật đầu mối giao thông nhằm ngăn chặn gia súc, gia cầm và sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh thú y nhập tỉnh.

Tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo đúng quy định, không bán chạy gia súc gia cầm mắc bệnh, tăng cường công tác chăm sóc nuôi dưỡng nhằm nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

Hướng dẫn các địa phương thực hiện tiêu hủy gia súc, gia cầm chết và mắc bệnh nuôi cùng ô chuồng; tăng cường công tác kiểm soát vận chuyển động vật xuất, nhập huyện.

Công tác kiểm dịch động vật, SPĐV xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện thường xuyên theo quy trình kiểm dịch. So với cùng kỳ kiểm dịch động vật, SPĐV xuất tỉnh cơ bản đều tăng; và kiểm dịch động vật, SPĐV nhập tỉnh giảm. Cụ thể:

Kiểm dịch xuất tỉnh: 126.669 con lợn; 3.052 con trâu, bò; 5.390.374 con gia cầm; 12 con chó, mèo; 6.500 con thủy sản giống các loại; 43.000 quả trứng gia cầm; 42 tấn sản phẩm đông lạnh; 1.657 kg thịt các loại và 3.450 tấm da bò.

Kiểm dịch nhập tỉnh: 1.875 con lợn; 152 con trâu, bò; 70.588 con gia cầm; 3.330 kg thịt các loại và 56,7 tấn sản phẩm đông lạnh.

1.2.Tình hình sản xuất lâm nghiệp

          Lâm sinh: Triển khai thực hiện công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích năm 2018 chuyển sang 434.053,1 ha bằng các nguồn vốn khác nhau, cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức, cá nhân. Trong đó, giao khoán quản lý bảo vệ rừng bằng nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 376.248,9 ha cho 16.692 hộ (12.994 hộ người đồng bào dân tộc thiểu số, 3.698 hộ người kinh); giao khoán bằng nguồn vốn ngân sách 57.804,2  ha cho 1.295 hộ (1.143 hộ người người đồng bào dân tộc thiểu số, 152 hộ người kinh).

          Khai thác lâm sản: Ước tính trong tháng 4/2019 sản lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 3.445 m3, giảm 5,62%; củi thước 9.350 ster, giảm 2,6% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 4/2019 sản lượng gỗ khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 11.257 m3 , giảm 2,71% (-313 m3 ) so với cùng kỳ, sản lượng khai thác giảm phần lớn là khai thác trắng và tỉa thưa rừng trồng; củi thước 37.450 ster, giảm 2,6% (-1.000 ster) so với cùng kỳ, củi khai thác phần lớn sử dụng ở vùng đồng bào dân tộc do tập quán, bên cạnh nhiều hộ có thu nhập thấp còn sử dụng; các loại lâm sản khác như: Lồ ô 149,7 nghìn cây, giảm 0,2%; song mây 150 tấn và nhiều lâm sản khác.

Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng:

Từ đầu mùa khô đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy rừng, thảm cỏ, cây bụi dưới tán rừng với diện tích 21,55 ha. Trong đó, có 02 vụ cháy rừng với diện tích 0,99 ha và 08 vụ cháy thảm cỏ, cây bụi dưới tán rừng diện tích 20,56 ha.

Trong tháng 4/2019 (từ 10/3/2019 - 10/4/2019) lực lượng Kiểm Lâm, Ban Lâm nghiệp xã, các đơn vị chủ rừng đã phát hiện, lập biên bản 59 vụ vi phạm lâm luật, giảm 25,32% (-20 vụ) so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi: Phá rừng trái phép 21 vụ, giảm 25% (-7 vụ), diện tích rừng bị phá 3,1 ha. Vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 14 vụ, giảm 22,22% (-4 vụ) so với cùng kỳ. Luỹ kế đến 10/4/2019 tổng số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn 213 vụ, giảm 22,83% (-63 vụ) so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi: Phá rừng trái phép 72 vụ, tăng 4,35% (+3 vụ), diện tích rừng bị phá 20,5 ha, giảm 1,49% (-0,3 ha) so với cùng kỳ. Vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 46 vụ, giảm 23,03% (- 16 vụ); mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 84 vụ, giảm 33,33% (-42 vụ)  so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 176 vụ, trong đó: xử lý hành chính 158 vụ, xử lý hình sự 18 vụ. Lâm sản tịch thu qua xử lý vi phạm 185 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách  0,75 tỷ đồng.

        Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 329 dự án/312 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.998 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần dự án). Tổng số dự án đã thu hồi 195 dự án/29.795 ha gồm 161 dự án thu hồi toàn bộ/25.628 ha và 34 dự án thu hồi một phần/4.167ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án.

          2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính tháng 4 năm 2019 tăng 7,74% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,54% so với cùng kỳ. Sản phẩm đá xây dựng đạt khoảng 171,9 ngàn m3, tăng 47,55%; quặng boxit đạt 5,9 ngàn tấn, tăng 10,21%; cao lanh và đất sét cao lanh khác đạt 15,3 ngàn tấn, giảm 23,9% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 19,59% (trong đó: sản phẩm phân bón NPK của Công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 7,8 ngàn tấn, tăng 19,64%); ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,87% (trong đó: sản phẩm  thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 4 triệu viên, tăng 233,33%; dược phẩm khác chưa phân vào đâu đạt 8,8 tấn, tăng 0,92%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,52% (trong đó: sản phẩm rau ướp lạnh đạt 268 tấn, tăng 53,76%; hạt điều khô đạt 90 tấn, tăng 33,33%; quả và hạt ướp lạnh đạt 434 tấn, giảm 8,17%; chè nguyên chất đạt 3,9 ngàn tấn, giảm 8,02%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,61% (trong đó: bê tông trộn sẵn đạt 25,6 ngàn m3, tăng 19,49%; sản phẩm gạch xây dựng đạt 40,8 triệu viên, tăng 4,31%); sản xuất kim loại tăng 3,79% (trong đó: sản phẩm Alumin đạt 57 ngàn tấn, tăng 3,79%); ngành dệt tăng 2,78% (trong đó: sản phẩm tơ thô đạt 30 tấn, tăng 14,41%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 174 ngàn m2, giảm 25,27%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 5,37% (trong đó: gỗ cưa hoặc xẻ trừ gỗ xẻ tà vẹt đạt 3,5 ngàn m3, giảm 21,63%).

 Chỉ số sản xuất ngành phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,91% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng điện sản xuất phân bổ cho Lâm Đồng đạt 220 triệu kwh, tăng 5,5%; sản lượng điện thương phẩm đạt 108 triệu kwh, tăng 11,34% so với cùng kỳ. Thời điểm hiện tại trong cao độ mùa khô nên lượng nước tại các hồ thủy điện đang ở mức thấp, các nhà máy thủy điện trên địa bàn vẫn duy trì công suất chạy máy phát điện và cung cấp nguồn năng điện cho hệ thống quốc gia; đảm bảo yêu cầu an toàn cho hệ thống hồ, đập thủy diiẹn, duy trì dòng chảy, sản lượng điện sản xuất theo kế hoạch điều động của Trung tâm điều động điện Quốc gia.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,79% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nước ghi thu đạt 2.540 ngàn m3, tăng 7,95%; dịch vụ thu gom rác thải độc hại có thể tái chế đạt 3.940 triệu đồng, tăng 7,12% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 so với cùng kỳ (%)

 

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Toàn ngành công nghiệp

106,10

108,01

107,74

1.     Khai khoáng

84,29

103,31

112,54

2.     Chế biến, chế tạo

109,42

108,42

109,00

3.     Sản xuất, phân phối điện

104,84

108,02

105,91

4.     Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

105,95

107,21

107,79

         

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính 4 tháng năm 2019 tăng 7,14% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,63%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,4%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,26% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2019 tăng 1,96% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất trang phục tăng 433,34%; sản xuất sản phẩm plastic tăng 101,46%; sản xuất đồ uống tăng 25,74%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,68%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 16,29; chế biến thực phẩm tăng 15,69%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,74%; sản xuất chế biến gỗ giảm 44,72%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 27,29%; sản xuất kim loại giảm 15,48%.

* Chỉ số tồn kho tháng 4/2019 tăng 8,78% so với cùng kỳ. Ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 19,58%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,67%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 7,73%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2,89%; sản xuất đồ uống tăng 0,51%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 16,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 6,93% so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4 năm 2019 tăng 10,44% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế cấp 2: ngành sản xuất trang phục tăng 172%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 17,06%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 17,02%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 8,94%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 6,59%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,96%; ngành khai khoáng khác giảm 12,81%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 11,27%;  ngành công nghiệp chế biến thực phẩm giảm 6,28%; ngành dệt giảm 5,85% so với cùng kỳ.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Đăng ký kinh doanh: Từ đầu năm đến 20/4/2019 đã cấp đăng ký kinh doanh cho 322 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 2.183 tỷ đồng, tăng 7,3% về số doanh nghiệp và tăng 7,6% về vốn đăng ký; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 154 doanh nghiệp, tăng 5,5%; số doanh nghiệp giải thể là 37 doanh nghiệp, giảm 19,6%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại là 126 doanh nghiệp, tăng 29,9% so với cùng kỳ

Tình hình cấp Quyết định chứng nhận đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Từ đầu năm đến thời điểm 20/4/2019 có 11 dự án được cấp dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký đầu tư 848,34 tỷ đồng, quy mô diện tích 155,98 ha.

Tình hình thu hút đầu tư: Tính đến ngày 20/4/2019 trên địa bàn có 953 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 126.970 tỷ đồng, quy mô diện tích 69.644 ha. Trong đó, dự án trong nước có 849 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 114.954 tỷ đồng, quy mô diện tích 67.321 ha. Phân theo lĩnh vực: Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có 266 dự án, vốn đăng ký đầu tư 9.578 tỷ đồng, quy mô diện tích 45.684 ha; lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có 340 dự án, vốn đăng ký đầu tư 46.580 tỷ đồng, quy mô diện tích 8.936 ha; lĩnh vực dịch vụ có 243 dự án, vốn đăng ký đầu tư 58.796 tỷ đồng, quy mô diện tích 12.701 ha. Dự án vốn nước ngoài (FDI) có 104 dự án, với vốn đăng ký đầu tư 12.016 tỷ đồng (tương đương 533 triệu USD), quy mô diện tích 2.323 ha. Phân theo lĩnh vực: Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có 55 dự án, vốn đăng ký đầu tư 5.428 tỷ đồng, quy mô diện tích 1.519 ha; lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có 36 dự án, với vốn đăng ký đầu tư 3.526 tỷ đồng, quy mô diện tích 127 ha; lĩnh vực dịch vụ có 13 dự án, vốn đăng ký đầu tư 3.062 tỷ đồng, quy mô diện tích 677 ha.

Tình hình điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư: Từ đầu năm đến thời điểm 20/4/2019 có 23 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư. Trong đó, điều chỉnh 09 dự án trong khu công nghiệp (04 dự án FDI, 05 dự án vốn trong nước), 14 dự án ngoài khu công nghiệp (02 dự án FDI, 12 dự án vốn trong nước). Nội dung điều chỉnh: Có 06 dự án tăng vốn đầu tư là 353,91 tỷ đồng; có 03 dự án giảm quy mô diện tích, 01 dự án tăng quy mô diện tích, tổng diện tích điều chỉnh giảm 0,18 ha; có 13 dự án giãn tiến độ thực hiện dự án.

Tình hình thu hồi, chấm dứt hoạt động của các dự án đầu tư: Trong 4 tháng năm 2019, có 01 dự án trong khu công nghiệp bị thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư, với vốn đăng ký đầu tư 15 tỷ đồng do nhà đầu tư gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường dẫn đến việc đầu tư không có hiệu quả.

         4. Đầu tư

         Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2019 ước đạt 195 tỷ đồng, tăng 7,32% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 181,3 tỷ đồng, chiếm 92,96% trong tổng vốn, tăng 7,26% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 81,3 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 22,1 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 7,5 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 45,4 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 25 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 13,2 tỷ đồng, chiếm 6,79% trong tổng vốn, tăng 8,36% so với cùng kỳ. Trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 10,4 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 1,1 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 0,5 tỷ đồng, chiếm 0,25% trong tổng vốn. Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng năm 2019 đạt 532,4 tỷ đồng, tăng 7,25% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 478,4 tỷ đồng, chiếm 89,86% trong tổng vốn, tăng 6,96% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 230,5 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 50,7 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 17,2 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 109,1 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 70,9 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 52,5 tỷ đồng, chiếm 9,87% trong tổng vốn, tăng 8,85% so với cùng kỳ; trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 39,1 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 7,8 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1,4 tỷ đồng, chiếm 0,27% trong tổng vốn.

Tính đến cuối tháng 4/2019, trên địa bàn tỉnh có 375 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: nâng cấp đường Thống Nhất; xây dựng vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh quốc lộ 20 (đoạn từ hồ Nam Sơn đến ngã ba xóm Trung, ngã ba Tân Hội, xã Phú Hội); đường trục xã Liên Hiệp từ miếu Ông đến đường cao tốc Liên Khương - Prenn, huyện Đức Trọng. Đường Lý Thường Kiệt (đoạn ngã ba Lý Thường Kiệt - Đào Duy Từ đến ranh giới huyện Bảo Lâm), nhà văn hoá thể thao (giai đoạn 2) huyện Bảo Lâm. Đường Lê Thị Riêng, Trần Quang Khải, thành phố Bảo Lộc. Đường giao thông nông thôn từ ngã ba Trần Quốc Toản, Hoài Đức đi xã Liên Hà, xây dựng trường THPT Lê Quý Đôn, đường giao thông liên xã Đạ Đờn, Phi Tô, Nam Ban, huyện Lâm Hà.

         5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính

          Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 4 tháng năm 2019 đạt 2.865,9 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 2.705,9 tỷ đồng, tăng 15,65% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu thuế, phí, lệ phí đạt 1.651,9 tỷ đồng, giảm 0,08%, trong đó: Thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 309,9 tỷ đồng, giảm 23,38%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 38,5 tỷ đồng, tăng 9,17%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 27,9 tỷ đồng, giảm 36,69%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 551 tỷ đồng, tăng 4,82%; thuế thu nhập cá nhân đạt 257,1 tỷ đồng, tăng 3,77%; lệ phí trước bạ đạt 156,3 tỷ đồng, tăng 18,24%; thu phí, lệ phí đạt 110,2 tỷ đồng, tăng 3,5%. Thu từ đất, nhà đạt 301,4 tỷ đồng, tăng 11,25% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 160 tỷ đồng, giảm 12,53% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương ước thực hiện 4 tháng năm 2019 đạt 5.363,6 tỷ đồng, giảm 4,42% so với cùng kỳ. Trong đó, thu điều tiết được hưởng theo phân cấp đạt 2.495,4 tỷ đồng, tăng 14,46%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 1.700 tỷ đồng, tăng 35,47% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 4 tháng năm 2019 đạt 4.380,2 tỷ đồng, tăng 5,16% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 538 tỷ đồng, giảm 10,16%; chi thường xuyên đạt 2.030 tỷ đồng, tăng 3,06%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục và đào tạo đạt 900 tỷ đồng, tăng 3,54%; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 3,6 tỷ đồng, giảm 10,65% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng

          Ước đến 30/4/2019 vốn huy động đạt 48.800 tỷ đồng, tăng 6,78% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 37.420 tỷ đồng, chiếm 76,68% tổng vốn huy động, tăng 5,53%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 11.380 tỷ đồng, chiếm 23,32% tổng vốn huy động, tăng 11,13% so với cùng kỳ.

Ước đến 30/4/2019 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 90.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 31.900 tỷ đồng, chiếm 35,44% tổng dư nợ, tăng 9,92%; dư nợ ngắn hạn 58.100 tỷ đồng, chiếm 64,56% tổng dư nợ, tăng 21,29% so với cùng kỳ.

         Ước đến 30/4/2019 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 460 tỷ đồng, chiếm 0,51% tổng dư nợ, tăng 31,43% so với cùng kỳ.

          6. Thương mại, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2019 đạt 4.218,3 tỷ đồng, tăng 17,46% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 364,5 tỷ đồng, tăng 0,03%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.798,6 tỷ đồng, tăng 19,34% (kinh tế cá thể đạt 2.855,5 tỷ đồng, tăng 20,5%; kinh tế tư nhân đạt 942,7 tỷ đồng, tăng 15,97%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 55,2 tỷ đồng, tăng 25,29% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng năm 2019 ước đạt 17.134,6 tỷ đồng, tăng 11,61% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.455,2 tỷ đồng, tăng 9,61%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 15.427,4 tỷ đồng, tăng 11,63% (kinh tế cá thể đạt 11.486,2 tỷ đồng, tăng 14,44%; kinh tế tư nhân đạt 3.939,5 tỷ đồng, tăng 4,17%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 252 tỷ đồng, tăng 22,89% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2019 ước đạt 2.852,9 tỷ đồng, tăng 21,71% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 143,7 tỷ đồng, giảm 7,79%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.658,1 tỷ đồng, tăng 23,75%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 51,1 tỷ đồng, tăng 26,77% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 1.297,1 tỷ đồng, tăng 32,51%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 271,2 tỷ đồng, tăng 17,77%; xăng, dầu các loại đạt 324,2 tỷ đồng, tăng 8,74%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 4 tháng năm 2019 đạt 11.837,2 tỷ đồng, tăng 10,96% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 599,8 tỷ đồng, tăng 0,06%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 11.002 tỷ đồng, tăng 11,37%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 235,4 tỷ đồng, tăng 23,88% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 5.310,7 tỷ đồng, tăng 16,75%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 886,6 tỷ đồng, tăng 20,03%; xăng, dầu các loại đạt 1.282,3 tỷ đồng, tăng 8,74%. 

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác tháng 4/2019 ước đạt 503,6 tỷ đồng, tăng 7,37%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 323,8 tỷ đồng, tăng 6,57%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 72 tỷ đồng, tăng 6,85% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác 4 tháng năm 2019 đạt 1.917,4 tỷ đồng, tăng 12,36%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.220,8 tỷ đồng, tăng 14,61%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 271,3 tỷ đồng, tăng 5,48% so với cùng kỳ.

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4/2019 ước đạt 858,5 tỷ đồng, tăng 10,73% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 113,7 tỷ đồng, tăng 8,49%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 744,8 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 442,4 nghìn lượt khách, tăng 4,07% (khách trong nước đạt 415,1 nghìn lượt khách, tăng 5,56%; khách quốc tế đạt 27,3 nghìn lượt khách, giảm 14,32%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng năm 2019 đạt 3.367,3 tỷ đồng, tăng 13,49% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 443,3 tỷ đồng, tăng 11,06%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 2.924 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 1.612,9 nghìn lượt khách, tăng 16,4% (khách trong nước đạt 1.497,8 nghìn lượt khách, tăng 19,95%; khách quốc tế đạt 115,1 nghìn lượt khách, giảm 15,96% so với cùng kỳ).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4/2019 ước đạt 3,3 tỷ đồng, tăng 11,11% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 4.840 lượt khách, tăng 6%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng năm 2019 đạt 12,7 tỷ đồng, tăng 11,23% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 19.941 lượt khách, tăng 12,43% so với cùng kỳ.

6.2. Giá cả thị trường

6.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng

Tháng 4/2019, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 2,59% so với cùng kỳ. Bình quân 4 tháng đầu năm 2019 CPI tăng 2,28% so với cùng kỳ. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 8 nhóm tác động tăng CPI như nhóm hàng hóa khác tăng 0,04%; nhóm giáo dục tăng 0,08%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng, chất đốt tăng 0,20%; nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,42%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,45%; nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0,79%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,98%; nhóm giao thông tăng 4,55% so với tháng trước. Tình hình giá cả thị trường tháng 4/2019 đang có xu hướng tăng do chịu tác động của việc điều chỉnh tăng giá xăng, dầu; mùa xây dựng làm giá vật liệu tăng; nhu cầu mua sắm trang thiết bị đồ dùng gia đình, quần áo sử dụng hàng ngày là những yếu tố làm tăng CPI tháng này. Bên cạnh đó, cũng có những sản phẩm giảm giá như các mặt hàng lương thực, thực phẩm do nguồn cung dồi dào, và yếu tố tâm lý e ngại khi tiêu dùng sản phẩm từ thịt lợn trước dịch bệnh tả Châu Phi ở một số nơi chưa công bố hết dịch.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 4 năm 2019 của một số nhóm hàng chính như sau:

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,34%; trong đó mặt hàng gạo giảm 1,04% do nhu cầu tiêu thụ từ các nước như Trung Quốc, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ… giảm vì một số nước đang triển khai các chương trình đảm bảo tự cung lương thực, và sự cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ cũng là nguyên nhân tác động làm giá gạo trong nước giảm; nhóm bột mì và ngũ cốc khác giảm 1,14%, nguyên nhân chính tác động bởi do nguồn cung khoai lang dư thừa, làm mặt hàng này giảm 4,47% so với tháng trước. Hiện giá bán lẻ các mặt hàng thịt giảm 5,61% (từ 5.000 - 10.000 đồng/kg tùy khu vực); nội tạng (tim, dạ dày, quả bầu dục…) giảm 7,71%; mỡ lợn giảm 13,72%; thịt chế biến ( giò lụa, chả quế, thịt heo đóng hộp…) giảm 4,31%.

Nhóm giao thông tăng 4,55% do chịu tác động từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu ngày 02/4 và ngày 17/4/2019. Cụ thể xăng A95 giá bình quân tăng từ 18.848 đồng/lít lên 20.857 đồng/lít, tăng 10,66%; xăng E5 giá bình quân tăng từ 17.488 đồng/lít lên 19.351 đồng/lít, tăng 10,65%; dầu diezel có giá bình quân tăng từ 16.107 đồng/lít lên 17.467 đồng/lít, tăng 8,44%; phụ tùng xe máy tăng 1,98% so với tháng trước.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,98%, nhóm này tăng chủ yếu ở nhóm quần áo may sẵn (quần tây, áo sơ mi, quần áo thể thao, quần áo trẻ em) tăng 1,51%; may mặc khác, mũ nón (khăn mặt, bít tất) tăng 0,67% và dịch vụ may mặc tăng 0,35%.

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,79%, do một số mặt hàng nước uống, rượu bia, thuốc lá, giá nhập vào tại các siêu thị, cửa hàng kinh doanh tăng, tác động làm nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 0,40%; rượu bia các loại tăng 0,25%; thuốc lá tăng 1,44% so với tháng trước.

Riêng các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông và nhóm dịch vụ giáo dục ổn định so với tháng trước.

6.2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 3,63 triệu đồng/chỉ, giảm 0,55% so với tháng trước và giảm 1,01% so với cùng kỳ; bình quân 4 tháng năm 2019 giá vàng giảm 0,02% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 4/2019 dao động ở mức 23.250 đồng/USD; chỉ số giá đô la Mỹ ổn định so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ; bình quân 4 tháng năm 2019 giá USD tăng 2,11% so với cùng kỳ.

6.3. Hoạt động vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 4/2019 đạt 359,1 tỷ đồng, tăng 13,69% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 333,5 tỷ đồng, tăng 14,04%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 25,6 tỷ đồng, tăng 9,33% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 4 tháng năm 2019 đạt 1.430 tỷ đồng, tăng 10,25% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 1.329,6 tỷ đồng, tăng 10,54%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 100,3 tỷ đồng, tăng 6,54% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 4/2019 ước đạt 138,3 tỷ đồng, tăng 17,42%; khối lượng vận chuyển đạt 2.673,5 nghìn hành khách, tăng 5,49% và luân chuyển đạt 357,3 triệu hành khách.km, tăng 9,99% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hành khách 4 tháng năm 2019 ước đạt 565,5 tỷ đồng, tăng 11,93%; khối lượng vận chuyển đạt 13.389,7 nghìn hành khách, tăng 7,61% và luân chuyển đạt 1.595,9 triệu hành khách.km, tăng 7,35% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hàng hoá tháng 4/2019 ước đạt 195,2 tỷ đồng, tăng 11,76%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1.059,6 nghìn tấn, tăng 12,91% và luân chuyển đạt 135,7 triệu tấn.km, tăng 13,6% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hàng hoá 4 tháng năm 2019 đạt 764,2 tỷ đồng, tăng 9,53%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 4.280 nghìn tấn, tăng 14,9% và luân chuyển đạt 599,6 triệu tấn.km, tăng 13,47% so với cùng kỳ.

         7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền    

Trong tháng 4/2019, hoạt động văn hóa, tuyên truyền trên địa bàn tỉnh tập trung kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước: Kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng thành phố Đà Lạt (03/4/1975-03/4/2019); ngày giải phóng miền Nam thống nhất Đất nước (30/4/1975- 30/4/218); ngày Quốc tế lao động 1/5; Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2019); kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890- 19/5/2019). Hưởng ứng ngày Sách Việt Nam 21/4/2019. Tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương để cùng tưởng nhớ và tri ân các Vua Hùng diễn ra ngày 14/4/2019 tại khu du lịch thác Prenn. Đặc biệt, Ban chỉ đạo TĐT Dân số và Nhà ở các cấp treo băng rôn; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về cuộc TĐT Dân số và Nhà ở năm 2019, tiến hành thu thập thông tin từ ngày 01/4/2019 đến ngày 25/4/2019 với nội dung các cấp, các ngành, nhân dân nhận thức rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp thông tin cho Tổng điều tra.

Đội chiếu bóng lưu động biểu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số 45 buổi.

Bảo tàng tỉnh: Mở cửa thường xuyên vào tất cả các ngày trong tuần phục vụ khách đến tham quan, nghiên cứu đón trên 2 nghìn lượt khách. Chuẩn bị triển lãm chuyên đề Kỷ niệm chiến thắng 30/4 tại Bảo tàng tỉnh. Thư viện tỉnh cấp mới 50 thẻ, phục vụ trên 200 lượt bạn đọc, luân chuyển trên 100 lượt tài liệu.

 7.2. Hoạt động thể dục - thể thao

Tháng 4 năm 2019, hoạt động thể dục- thể thao Lâm Đồng tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào TDTT quần chúng rộng khắp, thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khoẻ, vui chơi lành mạnh góp phần xây dựng đời sống văn hoá mới ở địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

* Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải vô địch cử tạ thanh thiếu niên toàn quốc tại Đà Lạt ; kết quả đạt 11 huy chương (04 HCV, 01 HCB và 06 HCĐ), xếp thứ 6/24 đoàn tham dự; tham gia giải cờ vua hạng nhất quốc gia; giải cầu lông các câu lạc bộ toàn quốc; chuẩn bị đón đoàn đua xe đạp Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh. 

* Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức giải bóng đá mini doanh nghiệp; giải võ cổ truyền tỉnh; thể dục thể thao người cao tuổi. Hỗ trợ chuyên môn cho các ngành tổ chức hội thao vào các ngày cuối tháng 4/2019. Ngày 11/4/2019, khai mạc tổ chức giải Cầu lông các Câu lạc bộ (CLB) Lâm Đồng mở rộng năm 2019 tại thành phố Đà Lạt, tham dự có gần 200 VĐV của 14 CLB trong tỉnh cùng 6 CLB ngoài tỉnh, các VĐV tranh tài theo 5 nhóm tuổi gồm: Nhóm 1 từ 15 tuổi trở xuống với các nội dung thi đấu đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ; nhóm 2 từ 16-35 tuổi với các nội dung đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ; nhóm 3 từ 36-45 tuổi gồm các nội dung đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ; nhóm 4 từ 46-55 tuổi và nhóm 5 từ 56 tuổi trở lên có 3 nội dung thi đấu gồm đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ. 

7.3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Ngày 03/4/2019 Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị tập huấn công tác thi THPT quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng và trung cấp năm 2019 triển khai các qui định của quy chế thi, quán triệt cho đội ngũ của đơn vị nắm rõ quy trình, nghiệp vụ công tác tổ chức thi; triển khai thực hiện tốt công tác thu nhận hồ sơ đăng ký dự thi; tổ chức kiểm tra thông tin dữ liệu đăng ký dự thi của thí sinh đảm bảo tính chính xác; chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho kỳ thi (khuôn viên, cảnh quang nhà trường, hàng rào đảm bảo an toàn khu vực thi, phòng bảo quản bài thi, đề thi, camera an ninh ...) và lựa chọn đội ngũ cán bộ, giáo viên đủ điều kiện theo qui định, có năng lực và ý thức trách nhiệm để tham gia làm công tác thi; chú trọng công tác hướng dẫn ôn tập cho học sinh để tham dự kỳ thi đạt kết quả.

Triển khai hướng dẫn thi tuyển sinh THPT quốc gia năm 2019 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thời gian nhận hồ sơ đăng ký thi THPT quốc gia năm 2019 bắt đầu từ ngày 21/4 đến ngày 25/4/2019.Trong thời gian này thí sinh sẽ tiến hành nộp hồ sơ đăng ký (học sinh lớp 12 nộp tại các trường THPT nơi đang theo học, thí sinh tự do thi lại nộp tại các địa điểm do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh quy định hoặc tại các trường THPT nơi gần nhất). Trước ngày 15/6/2019 các thí sinh sẽ nhận được giấy báo đăng ký dự thi THPT quốc gia tại các điểm mà thí sinh đăng ký.

Tổ chức Tổng kết và trao giải cuộc thi Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh năm 2019. Cuộc thi có 86 thí sinh vào vòng chung kết cấp tỉnh, kết quả có 27 thí sinh xuất sắc gồm: 02 giải nhất, 04 giải nhì, 06 giải ba và 15 giải khuyến khích. 

7.4. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm.       

Trong tháng 4/2019, ngoài hoạt động thường xuyên, ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục giám sát dịch cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), ( H5N8), (H7N9) và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm, sốt rét, sốt xuất huyết không có dịch xảy ra; có 6 trường hợp mắc sốt rét, không có trường hợp tử vong; có 15 trường hợp mắc sốt xuất huyết, giảm 05 trường hợp so với cùng kỳ, không có tử vong; không phát hiện thêm bệnh nhân phong mới, toàn tỉnh quản lý 156 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 141 bệnh nhân. Từ đầu tháng đến nay khám phát hiện 05 trường hợp bị lao mới, không có trường hợp tử vong, toàn tỉnh đang quản lý điều trị cho 382 bệnh nhân lao. Có 07 trường hợp nhiễm HIV mới (tích luỹ: 1.476 trường hợp), không có trường hợp mắc AIDS mới (tích lũy: 276 trường hợp), có 01 trường hợp tử vong do AIDS (tích luỹ: 559 trường hợp).

Tiêm chủng mở rộng: Tính từ đầu năm đến nay đã thực hiện tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trên 4.000 trẻ dưới 1 tuổi, tiêm UV 2+ cho trên 4.883 phụ nữ có thai; tiêm bạch hầu- ho gà- uốn ván mũi 4 cho 4.828 trẻ 18 tháng tuổi.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Từ đầu tháng đến nay không có vụ ngộ độc xảy ra. UBND các huyện, thành phố đang triển khai Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2019 (15/4/2019-15/5/2019); trong thời gian này các huyện, thành phố sẽ tổ chức lễ phát động tháng hành động vì an toàn thực phẩm trên địa bàn mình quản lý.

7.5. Tình hình an toàn giao thông

Trong tháng, Ban An toàn giao thông tỉnh xây dựng kế hoạch số 60/KH-BATGT về thực hiện cuộc vận động xây dựng phong trào “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước” năm 2019; đôn đốc các cơ quan, địa phương hưởng ứng Giải thưởng Báo chí tuyên truyền về an toàn giao thông 2019; Tiếp nhận và đề nghị các cơ quan chức năng giải quyết 02 đơn khiếu nại, đề nghị của người dân về tình hình bảo đảm trật tự an toàn giao thông và trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Lạt; đôn đốc việc triển khai vòng thi cấp tỉnh Cuộc thi “Giao thông học đường” năm 2019; Ban hành Văn bản số 68/BATGT ngày 09/4/2019 về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế lao động 01/5, tổ chức trực bảo đảm an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương.

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tính từ ngày 16/3/2019 đến ngày 15/4/2019 xảy ra 17 vụ, giảm 05 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 11 người, tăng 01 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 13 người, giảm 01 người so với cùng kỳ. Tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/4/2019, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 58 vụ, giảm 14 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 42 người, giảm 01 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 38 người, giảm 09 người so với cùng kỳ.

Đăng ký mới cho 460 ôtô và 4.006 môtô. Tổng số phương tiện đang quản lý: 57.325 xe ôtô; 992.809 xe môtô; 103 phương tiện đường thủy. Lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 5.254 trường hợp; tổng số tiền xử phạt là 3,7 tỷ đồng; tước 183 giấy phép lái xe; tạm giữ 52 ô tô, 486 mô tô.

7.6. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Từ đầu năm 2019 đến nay trên địa bàn toàn tỉnh chưa có xảy ra vụ hỏa hoạn, cháy nổ và bảo vệ môi trường nào.

7.7. Thiệt hại do thiên tai

Vào chiều 20/4/2019 trận mưa lớn kéo dài kèm gió lốc, mưa đá xảy ra trên địa bàn các phường 7,8,9,10,12 của thành phố Đà lạt gây thiệt hại nặng trên diện rộng làm ngập nhiều khu vực dân cư, vùng sản xuất nông nghiệp, hơn 3.500m2 nhà kính trồng rau bị tốc mái và biến dạng, cây ngã khiến nhà bị hư hỏng, nước tràn vào nhà. Hiện các phường đang thống kê thiệt hại và có các phương án giúp người dân bị thiệt hại. 

Trong 4 tháng đầu năm 2019, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được giữ vững; đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ổn định và được cải thiện./.


Các tin khác

© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt