Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội ước tháng 11 năm 2018

 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp

1.1. Sản xuất nông nghiệp

a.  Sản xuất vụ mùa

Tính từ đầu vụ đến ngày 10/11/2018 đã gieo trồng, xuống giống được 47.501,1 ha cây hàng năm các loại, giảm 3,7% so với cùng kỳ.

Lúa gieo trồng 13.358,2 ha, đạt 110,1% kế hoạch, giảm 6,91% (-991, ha) so với cùng kỳ, tập trung ở Đức Trọng 3.058 ha, chiếm 22,89%; Đơn Dương 2.095 ha, chiếm 15,68%; Di Linh 2.069 ha, chiếm 15,49%; Đam Rông 1.210 ha, chiếm 9,06%; Lâm Hà 1.033 ha, chiếm, 7,73%.

Ngô gieo trồng 2.713,7 ha, giảm 22,73% (-798,3 ha) so với cùng kỳ.

Khoai lang gieo trồng 817,8 ha, tăng 15,69% (+110,9 ha) so với cùng kỳ, do nhiều hộ chuyển đổi ở một số loại cây trồng khác sang, chủ yếu là giống khoai lang Nhật.

Diện tích sắn (mỳ) gieo trồng 496,7 ha, bằng 64,77% (-270,2 ha) so với cùng kỳ, diện tích giảm chủ yếu trồng trên đất lâm nghiệp sau thời kỳ trồng mới cây lâm nghiệp khép tán; trồng tập trung chủ yếu ở Đam Rông, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Diện tích rau các loại gieo trồng 21.865,2 ha, chiếm 46,03% diện tích gieo trồng cây hàng năm của cả vụ, tăng 0,07% (+15,7 ha) so với cùng kỳ, diện tích gieo trồng tập trung phần lớn ở các vùng chuyên canh rau như: Đơn Dương 9.501, chiếm 43,5%; Đức Trọng 8.004 ha, chiếm 36,6%; Đà Lạt 1.495 ha, chiếm 6,8%, Lạc Dương 1.264 ha, chiếm 5,8%.

Diện tích hoa các loại gieo trồng 2.853 ha, tăng 6,52% (+174,6 ha) so với cùng kỳ, diện tích hoa được trồng tập trung chủ yếu ở Đà Lạt 1.971,8 ha, chiếm 69,1%; Lạc Dương 309 ha, chiếm 10,83%; Đơn Dương 220 ha, chiếm 7,7%; Đức Trọng 199,7 ha, chiếm 7%.

Cây hàng năm khác gồm gia vị, dược liệu, cỏ chăn nuôi  4.111,65 ha, trong đó: chủ yếu là cỏ thức ăn chăn nuôi 2.589 ha, tăng 4,14%; cây gia vị, dược liệu 819,2 ha, tăng 39,18%.


Tiến độ sản xuất vụ mùa đến 10/11/2018

 

 

 

 

Thực hiện cùng kỳ năm trước

(Ha)

Thực hiện kỳ báo cáo

(Ha)

So với cùng kỳ (%)

Tổng diện tích gieo trồng

49.328,7

47.501,1

96,30

1. DT gieo trồng lúa mùa

14.349,9

13.358,2

      93,09

2. DTGT một số cây khác

- Ngô

3.512,0

2.713,7

77,27

- Khoai lang

706,9

817,8

115,69

- Sắn (mỳ)

766,9

496,7

64,77

- Mía

506,8

369,0

72,81

- Đậu tương

83,9

57,5

68,53

- Lạc

231,4

170,8

73,81

- Rau các loại

21.849,5

21.865,2

100,07

- Đậu các loại

847,6

556,1

65,61

- Hoa các loại

2.678,4

2.853,0

106,52

  Tính đến ngày 10/11/2018 các địa phương trên địa bàn tỉnh thu hoạch được 23.295 ha cây hàng năm các loại, đạt 49,04% diện tích gieo trồng trong vụ, tăng 3,37% (760 ha) so cùng kỳ.

 

 Diện lúa thu hoạch được 6.850 ha, chiếm 51,28% diện tích gieo trồng, tăng 2,01% so với cùng kỳ; tập trung chủ yếu ở Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Di Linh.

 

Diện tích ngô thu hoạch 950 ha, chiếm 35% diện tích gieo trồng, tăng 1,53% so với cùng kỳ.

Diện tích cây lấy củ có chất bột thu hoạch 325 ha, tăng 0,22% so với cùng kỳ.

Diện tích rau các loại thu hoạch 11.030 ha, tăng 4,22% (+446,3 ha) so với cùng kỳ; và chiếm 48,47% diện tích gieo trồng.

Diện tích đậu các loại thu hoạch 305 ha, bằng 97,76% so với cùng kỳ, chiếm 54,85% diện tích gieo trồng.

Diện tích hoa các loại thu hoạch 1.850 ha, chiếm 64,84% diện tích gieo trồng, tăng 1,32%  so với cùng kỳ.

Nhìn chung tiến độ thu hoạch vụ Mùa năm nay nhanh hơn so với cùng kỳ do tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, giá cả nhiều loại nông sản tăng và ổn định tạo điều kiện khuyến khích bà con nông dân ra sức đầu tư thâm canh, gieo trồng.

  b. Cây lâu năm

Tính từ đầu năm đến nay diện tích trồng mới, tái canh, cải tạo cây lâu năm toàn tỉnh thực hiện 10.831 ha, tăng 5,88% (+601,7 ha) so với cùng kỳ. Trong đó: Di Linh thực hiện 3.780 ha; Bảo Lâm 2.326,4 ha; Lâm Hà 1.741,2 ha; Cát Tiên 585,5 ha; Bảo Lộc 576 ha; Đam Rông 580,5 ha; Đạ Tẻh 490,5 ha; Đạ Huoai 168,9 ha ...

- Diện tích cà phê trồng mới thực hiện 6.527,6 ha, bằng 92,92% (-497 ha) so với cùng kỳ, chiếm 60,27% tổng diện tích trồng mới, tái canh, cải tạo; tiếp tục thực hiện chủ trương tái canh cà phê của tỉnh, trong đó: Trồng mới làm tăng diện tích 386,6 ha, chiếm 5,92%; diện tích tái canh, ghép cành 6.141 ha, chiếm 94,08%. Diện tích trồng mới chủ yếu do chuyển đổi một số diện tích chè hạt ở thành phố Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm, và tái canh cải tạo diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp thay thế bằng giống cà phê vối cao sản như TR4, TR9, TR11, TS1,…. Diện tích trồng tái canh (cây thực sinh, cây ghép), ghép cải tạo giống tập trung ở Di Linh 2.400 ha; Bảo Lâm 1.856,8 ha; Lâm Hà 1.240 ha; Đam Rông 400 ha; Đức Trọng 252 ha; Bảo Lộc 300 ha; Lạc Dương 40 ha; Cát Tiên 28,8 ha; Đà Lạt 10 ha.

- Diện tích chè trồng mới thực hiện 88,6 ha, giảm 62,8% (-149,6 ha) so với cùng kỳ do tình hình giá cả và chế biến chè đang gặp khó khăn trong thời gian qua nên người dân không mở rộng diện tích. Trong đó, diện tích trồng xen dưới tán điều, sầu riêng ở huyện Đạ Huoai 67 ha, chiếm 75,62%; diện tích chuyển đổi giống 20,4 ha, chiếm 23,02% (trên diện tích chè cũ già cỗi, năng suất kém sang giống mới chất lượng và giá trị kinh tế cao như Olong, Kim tuyên, TB14, LD97), tập trung ở Bảo Lộc 20 ha.

- Diện tích trồng mới cây ăn quả thực hiện 2.323,5 ha, tăng 42,87% (+697,2 ha) so với cùng kỳ, chiếm 21,45% tổng diện tích trồng mới, tái canh, cải tạo, trong đó diện tích trồng mới tăng diện tích (trồng xen trong vườn cây cà phê, chè, điều) là 1.950 ha, chiếm 83,92% (bao gồm diện tích trồng mới gồm một số cây như sầu riêng, bơ, mít, măng cụt, mác mác…) diện tích còn lại chuyển đổi giống không làm tăng diện tích 373,5 ha, chiếm 16,08%, diện tích trồng mới tập trung ở huyện Di Linh 1.240 ha, Bảo Lâm 394, Bảo Lộc 195 ha,.... Qua thực tế chứng minh các mô hình trồng xen sầu riêng, bơ... trong vườn cà phê là giải pháp tối ưu mang lại hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác, vừa giữ được độ ẩm cho đất và đảm bảo cho năng suất cao và giúp sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, nên những năm gần đây nhiều bà con nông dân, nhất là đồng bào DTTS cũng đã học hỏi, mạnh dạn đầu tư trồng xen sầu riêng, bơ, tiêu vào vườn cà phê.

- Dâu tằm thực hiện trồng mới 1.215,3 ha, bằng 2,34 lần (+697,5 ha) so với cùng kỳ, chiếm 11,22% tổng diện tích trồng mới, tái canh, cải tạo; trồng mới tập trung chủ yếu ở Lâm Hà 410 ha, Đạ Tẻh 370 ha, Bảo Lâm 70 ha, Đam Rông 50 ha, Bảo Lộc 41 ha.

- Diện tích cây lâu năm khác, mắc ca 188,5 ha được trồng ở huyện Di Linh 100 ha, Đức Trọng 33 ha, Lâm Hà 30 ha, Đam Rông 25,5 ha.

- Diện tích Hồ Tiêu 53,2 ha, trong đó trồng mới tập trung chủ yếu ở TP. Bảo Lộc 20 ha, Đạ Tẻh 18 ha, huyện Lâm Hà 10 ha, Bảo Lâm 5,2 ha.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng (từ 10/10 - 10/11/2018)

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng như sau:

Cây lúa: Rầy nâu gây hại 84 ha giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng; sâu cuốn lá nhỏ gây hại 109 ha; bệnh khô vằn nhiễm 220 ha; bệnh đạo ôn lá nhiễm 186 ha tại Đức Trọng, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 3.450 ha (1.295 ha nhiễm nặng), giảm 200 ha so với tháng trước; bệnh khô cành nhiễm rải rác 714 ha, (giảm 321 ha so với tháng trước); bệnh vàng lá nhiễm rải rác 952 ha, tăng 102 ha so với tháng trước.

Cây chè: Bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, rầy xanh, bệnh phồng lá,… gây hại ở mức nhẹ.

Cây điều: Bệnh thán thư nhiễm 83 ha tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, giảm 214 ha so với tháng trước.

Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus nhiễm 178 ha tại Đơn Dương, Đức Trọng, giảm 41 ha so với tháng trước.

Cây rau họ thập tự: Sâu tơ gây hại 90 ha chủ yếu tại Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương, giảm 30 ha so với tháng trước.  

c. Tình hình chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi ổn định và phát triển, chuyển dịch theo hướng tăng dần các giống, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Theo kết quả điều tra 01/10/2018 tổng đàn trâu 14.924 con, tăng 1,46% (+215 con). Đàn bò 106.874 con, tăng 1,45% (+1.529 con) so với cùng kỳ. Số lượng bò sữa 20.827 con, tăng 4,21% (+842 con); trong đó, bò cái cho sữa 15.072 con, chiếm 72,36% tổng đàn bò sữa, tăng 3,57%. Sản lượng sữa tươi đạt 80.268,9 tấn, tăng 6,34% (+4.784 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng sữa tươi bình quân 1 bò cái sữa đạt 5.320 kg sữa/năm.

Tổng đàn lợn 425.964 con, tăng 1,25% (+5.255 con) so với thời điểm 01/10/2017, so với thời điểm 01/4/2018 tăng 6,6% (+26.380 con), so với thời điểm 01/7/2018 tăng 5,07% (+20.543 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tính trong năm đạt 83.354 tấn, tăng 3,27% (+2.639 tấn) so với cùng kỳ, số con lợn thịt xuất chuồng 880.210 con, trọng lượng bình quân xuất chuồng đạt 94,7 kg/con.

Tổng đàn gia cầm 6.801,4 nghìn con, tăng 17,26% (+1.001,4 nghìn con) so với cùng kỳ. Trong đó, tổng đàn gà 3.281,5 nghìn con, chiếm 48,25% tổng đàn gia cầm, giảm 4,68% (-3.161 nghìn con) so với cùng kỳ, so với thời điểm 01/4/2018 giảm 2,43% (-82 nghìn con); so với thời điểm 01/7/2018 giảm 1,61% (-53,7 nghìn con). Trong năm số gà xuất chuồng 5.253 nghìn con, tăng 4% so với cùng kỳ, sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng 11.490,9 tấn, tăng 6,8% (+735,8 tấn) so với cùng kỳ, bình quân 1 con xuất chuồng đạt 2,19 kg/con, trong đó gà công nghiệp đạt 2,49 kg/con. Sản lượng trứng gà đạt 252.516 nghìn quả, tăng 5,3% (+12.708 nghìn quả) so với cùng kỳ, bình quân đạt 223 quả/con, trong đó: mái đẻ công nghiệp đạt 285 quả/con.

1.2. Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Trồng mới rừng tập trung ở các loại hình kinh tế trên địa bàn trong tháng, tiếp tục thực hiện phần kế hoạch năm còn lại 145,0 ha. Lũy kế đến hết tháng 11/2018 trồng mới rừng tập trung đạt 1.963,0 ha, giảm 21,54% (-538,8 ha) so với cùng kỳ. Diện tích trồng mới giảm, do vốn đầu tư cho công tác trồng rừng ở các đơn vị đạt thấp so với cùng kỳ. Ước tính số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 11/2018  thực hiện 10,2 nghìn cây, tăng 2% so với cùng kỳ. Lũy kế đến hết tháng 11/2018 cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 312,2 nghìn cây, tăng 2,03% (+6,2 nghìn cây) so với cùng kỳ. Loại cây trồng chủ yếu: Thông  ba lá, Tùng, Mai anh đào, Ngân hoa, Tre lấy măng, Vong, Muồng, Sao đen, …

Chăm sóc rừng trồng ước tính đến hết tháng 11/2018 ở các loại hình kinh tế trong tỉnh đạt 7.128 ha, tăng 2,03% (+142 ha) so với cùng kỳ, trong đó: các đơn vị lâm nghiệp thuộc loại hình kinh tế nhà nước thực hiện 5.032,36 ha, chiếm 70,6%, diện tích còn lại thuộc loại hình kinh tế hộ gia đình và tư nhân thực hiện. Tiếp tục triển khai công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, trong 11 tháng năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 430.780 ha rừng (bằng nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 372.976 ha, số hộ nhận khoán 16.692 hộ, trong đó: 12.994 hộ người đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 77,8%; nguồn ngân sách tỉnh 57.804,2 ha, số hộ nhận khoán 1.295 hộ, trong đó: 1.143 hộ người ĐBDTTS) đạt 100% kế hoạch, tăng 2,89% (+12.109 ha) so với cùng kỳ.

Khai thác lâm sản: Ước tính trong tháng 11/2018 khối lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế trong tỉnh 6.500 m3, giảm 0,76%; củi thước 2.060 ster, giảm 1,9% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 11/2018 khối lượng gỗ tròn các loại khai thác ước đạt 46.634,0 m3, giảm 0,12% (-57,6 m3) so với cùng kỳ (trong đó: sản lượng gỗ được nghiệm thu, đóng búa kiểm lâm 39.212 m3), gỗ khai thác phần lớn từ rừng trồng. Củi thước 73.906 Ster, giảm 3,89% (-2.994 Ster) so với cùng kỳ, củi khai thác phần lớn sử dụng ở vùng đồng bào dân tộc là chủ yếu, do tập quán và hộ có thu nhập thấp còn sử dụng.

Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong tháng 11 năm 2018 (từ 20/10/2018 - 20/11/2018) lực lượng Kiểm lâmcác đơn vị chức năng trên địa bàn đã phát hiện, lập biên bản 93 vụ vi phạm lâm luật, chủ yếu ở hành vi: Phá rừng trái phép 32 vụ; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 22 vụ; mua bán và vận chuyển lâm sản trái pháp luật 15 vụ.

Luỹ kế đến hết tháng 11/2018 tổng số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn 835 vụ, giảm 13,29% (-128 vụ) so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi phá rừng trái phép 249 vụ, tăng 10,18% (+23 vụ), diện tích rừng bị phá 59,68 ha, giảm 31,5% (-24,1 ha) so với cùng kỳ. Vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 189 vụ, giảm 23,48% (-58 vụ); mua bánvận chuyển lâm sản trái phép 304 vụ, giảm 24,0% (-96 vụ)  so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 709 vụ, trong đó: xử lý hành chính 673 vụ, xử lý hình sự 36 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 1.172,11 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách  4,63 tỷ đồng.

Công tác cho thuê rừng: Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 329 dự án/312 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 54.340 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần dự án). Đến nay tổng số dự án đã thu hồi 191 dự án/28.420 ha, gồm: 159 dự án thu hồi toàn bộ/25.616 ha và 32 dự án thu hồi một phần/2.803ha do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án...

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2018 tăng 11,98% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 5,12% so với cùng kỳ. Trong đó, đá xây dựng đạt 161,1 ngàn m3, tăng 9,26%; quặng bôxít và tinh quặng bôxit đạt 14 ngàn tấn, tăng 0,33%.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,43% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 45,55% (sản phẩm phân bón NPK của công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 2.774 tấn, tăng 127,94%); ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 35,86% (sản phẩm bê tông trộn sẵn đạt 30,1 ngàn m3, tăng 47,64%; gạch xây dựng đạt 29,1 triệu viên, tăng 15,04%); ngành sản xuất kim loại tăng 27,58% (sản phẩm Alumin đạt 55 ngàn tấn, tăng 27,58%); ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,32% (sản phẩm thuốc dược phẩm khác chưa phân vào đâu của Công ty Cổ phần dược Lâm Đồng - Ladophar đạt 10,5 tấn, tăng 24,93%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,33% (sản phẩm quả và hạt ướp lạnh đạt 416 tấn, tăng 33,87%; chè nguyên chất đạt 3.791 tấn, giảm 4,47%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 1,34% (sản phẩm gỗ cưa hoặc xẻ đạt 3.428 m3, giảm 27,95%), do thực hiện chủ trương chính sách quản lý và bảo vệ rừng, khai thác nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng trồng.

Chỉ số sản xuất ngành phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,57% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng điện phân bổ cho Lâm Đồng đạt 354 triệu kwh, tăng 7,72%; sản lượng điện thương phẩm đạt 94 triệu kwh, tăng 2,92%.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,74% so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,72% và hoạt động thu gom rác thải tăng 6,83%. Sản lượng nước ghi thu đạt 2.360 ngàn m3, tăng 6,72% so với cùng kỳ.

 Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 11 tháng

 

Năm 2016

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2017

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2018

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

104,39

110,40

107,60

1.     Khai khoáng

94,70

102,40

107,25

2.     Chế biến, chế tạo

107,37

107,45

111,42

3.     Sản xuất, phân phối điện

100,37

113,39

104,98

4.     Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

108,6

105,57

106,96

 

 

 

 

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2018 tăng 7,6% so với cùng kỳ. Ngành khai khoáng tăng 7,25%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,98%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải với mức tăng 6,96% so với cùng kỳ.

 

 * Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11 năm 2018 tăng 18,29% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất ngành dệt tăng 35,07%; sản xuất kim loại tăng 22,46%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20,36%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 40,82%; chế biến thực phẩm giảm 31,44% so với cùng kỳ.

 

* Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2018 giảm 7,31% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 44,38%; sản xuất kim loại tăng 11,64%; ngành dệt giảm 61,06%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 39,08%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 28,87%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 20,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 19,5% so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp 11 tháng năm 2018 tăng 1,31% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế cấp II: sản xuất trang phục tăng 46,47%; ngành cung cấp nước tăng 5,06%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,59%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,34%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,84%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 5,17%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 1,39% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước giảm 1,16%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,07%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 51,37% so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Từ đầu năm đến 20/11/2018 trên địa bàn tỉnh có 1.050 doanh nghiệp ngoài quốc doanh được cấp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 6.700 tỷ đồng; cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 368 đơn vị trực thuộc; gửi thông báo tạm ngưng hoạt động cho 236 doanh nghiệp và 93 đơn vị trực thuộc; số doanh nghiệp giải thể là 134 doanh nghiệp.

Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước: từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2018 có 40 dự án được UBND tỉnh cấp Quyết định chủ trương đầu tư với số vốn đăng ký đầu tư 4.263,84 tỷ đồng, quy mô diện tích 475,04 ha; có 72 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư; thu hồi 28 dự án; trong đó, có 04 dự án nhà đầu tư đề nghị dừng thực hiện; 21 dự án chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án theo quy định, không đủ năng lực tài chính thực hiện dự án; 03 dự án thu hồi do các lý do không thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan đến ký quỹ, bồi thường tài nguyên rừng. Tính đến ngày 20/11/2018, trên địa bàn có 823 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 116.216,12 tỷ đồng, quy mô diện tích 71.992,354 ha. Trong đó, có 337 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện là 52.197,66 tỷ đồng.

4. Đầu tư

Dự ước tháng 11/2018, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh (không bao gồm nguồn trái phiếu Chính phủ và phần trả nợ), đạt 311,5 tỷ đồng, tăng 6,63% so với cùng kỳ.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 270,5 tỷ đồng, chiếm 86,83% trong tổng vốn, tăng 6,59% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 62,7 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 87,5 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 13 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 84,6 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 22,6 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 40,3 tỷ đồng, chiếm 12,94% trong tổng vốn, tăng 7,01% so với cùng kỳ. Trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 26 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 10,9 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 0,7 tỷ đồng, chiếm 0,23% trong tổng vốn.

Dự ước 11 tháng năm 2018, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh đạt 1.987,2 tỷ đồng, tăng 11,73% so với cùng kỳ. Trong đó:

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.687,6 tỷ đồng, chiếm 84,92% trong tổng vốn, tăng 11,56% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 762 tỷ đồng; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 316,8 tỷ đồng; vốn xổ số kiến thiết đạt 406,3 tỷ đồng, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, các ngành kinh tế có ưu thế  của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, y tế, giáo dục...

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 293,3 tỷ đồng, chiếm 14,76% trong tổng vốn, tăng 12,5% so với cùng kỳ, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn các huyện, thành phố.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 6,3 tỷ đồng, chiếm 0,32% trong tổng vốn.

Tính đến tháng 11/2018, trên địa bàn tỉnh có 364 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: Xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái, phường 10, thành phố Đà Lạt; xây dựng tuyến đường 26/3 đi đường ĐT 725, đường từ thôn 7 Thị trấn Đạ Tẻh đi trung tâm xã An Nhơn, xây dựng đường Đạ Pal - Tôn K’Long, huyện Đạ Tẻh; xây dựng hồ chống bồi lắng, nhà máy xử lý nước thải khu vực Đan Kia, Suối Vàng, dự án xây dựng đường Đạ Sar, xã Lát, huyện Lạc Dương; xây dựng quảng trường huyện Đạ Huoai; xây dựng đường số 13 đấu nối với dốc trại chăn nuôi xã Quảng Lập, thôn Lộc Thọ, Ka Đơn, huyện Đơn Dương; đường Đạ Đờn - Phi Tô - Nam Ban; đường giao thông nông thôn liên xã Phú Sơn - Đạ Đờn, huyện Lâm Hà...

Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/11/2018 cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 07 dự án với tổng số vốn 1.331,47 tỷ đồng, quy mô diện tích 40,18 ha. Điều chỉnh 22 Giấy chứng nhận đầu tư. Tính đến ngày 20/11/2018, trên địa bàn có 103 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 11.935,41 tỷ đồng, quy mô diện tích 2.428,5 ha. Trong đó, có 91 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện là 7.759,62 tỷ đồng.

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến tháng 11/2018 đạt 6.621 tỷ đồng, bằng 98,09% so dự toán, tăng 13,91% so với cùng kỳ; trong đó, thu nội địa đạt 6.192,1 tỷ đồng, bằng 99,07% so dự toán, tăng 14,88% so với cùng kỳ; thu thuế, phí, lệ phí đạt 4.146,2 tỷ đồng, bằng 93,49% so dự toán, tăng 13,54% so với cùng kỳ. Trong thu thuế, phí, lệ phí: Thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 891,4 tỷ đồng, bằng 95,34% so dự toán, giảm 0,2%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 73,4 tỷ đồng, bằng 86,37% so dự toán, tăng 8,37%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 91,6 tỷ đồng, bằng 107,79% so dự toán, tăng 27,73%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 1.454,8 t đồng, bằng 85,43% so dự toán, tăng 16,44%; thuế thu nhập cá nhân đạt 624,5 tỷ đồng, bằng 113,34% so dự toán, tăng 25,57%; lệ phí trước bạ đạt 384,9 tỷ đồng, bằng 93,87% so dự toán, tăng 39,94%; thu phí, lệ phí đạt 224,6 tỷ đồng, bằng 77,45% so dự toán, giảm 14,7% so với cùng kỳ. Thu từ đất, nhà đạt 868,7 tỷ đồng, bằng 102,2% so dự toán, tăng 6,77% so với cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết đạt 767,3 tỷ đồng, bằng 116,25% so dự toán. Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 428,9 tỷ đồng, bằng 85,79% so dự toán, tăng 1,51% so với cùng kỳ. Để hoàn thành kế hoạch 2018 vượt thu 5%, ngành Thuế, các địa phương và các ngành liên quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, trong đó: tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, chú trọng công tác quản lý kê khai, kế toán thuế và hoàn thuế GTGT; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách; công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; đơn giản hóa và kiểm soát thủ tục hành chính thuế; triển khai thực hiện kê khai thuế qua mạng Internet, nộp thuế điện tử. 

Ước tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến tháng 11/2018 đạt 10.460 tỷ đồng, bằng 90,26% so dự toán, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 1.484,7 tỷ đồng, bằng 77,32% so dự toán, tăng 21,01%; chi thường xuyên đạt 6.293,3 tỷ đồng, bằng 80,41% so dự toán, tăng 4,37%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục đào tạo đạt 2.942,7 tỷ đồng, bằng 83,32% so dự toán, tăng 7,58%; chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 25 tỷ đồng, bằng 68,77% so dự toán, tăng 31,03% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lâm Đồng tiếp tục triển khai các chủ trương, chính sách, quy định của ngành; phối hợp với các chi nhánh ngân hàng và Quỹ tín dụng nhân dân thực hiện các giải pháp để huy động vốn từ khách hàng, tích cực chủ động tìm kiếm nguồn khách hàng để đẩy mạnh huy động vốn, thực hiện nghiêm các quy định về lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà nước; đối với hoạt động cho vay, bên cạnh việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng theo hướng tập trung nguồn vốn cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng nông thôn mới, các chương trình tín dụng chính sách.

Ước năm 2018 vốn huy động đạt 48.500 tỷ đồng, tăng 10,49% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 38.000 tỷ đồng, chiếm 79,38% tổng vốn huy động, tăng 11,78% so với cùng kỳ; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 10.500 tỷ đồng, chiếm 20,62% tổng vốn huy động, tăng 6,05% so với cùng kỳ.

Ước năm 2018 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 84.600 tỷ đồng, tăng 20,38% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 29.600 tỷ đồng, chiếm 34,99% tổng dư nợ, tăng 16,12%; dư nợ ngắn hạn 55.000 tỷ đồng, chiếm 65,01% tổng dư nợ, tăng 22,8% so với cùng kỳ.

Ước năm 2018 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 356 tỷ đồng, chiếm 0,42% tổng dư nợ, tăng 5,64% so với cùng kỳ.

Các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; dư nợ cho vay năm 2018 khoảng 55,27 tỷ đồng, chiếm 65,33% tổng dư nợ; trong đó: thực hiện đầu tư tín dụng cho 116 xã xây dựng nông thôn mới 34.168 tỷ đồng.

6. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2018 đạt 4.031,3 tỷ đồng, tăng 7,41% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 335,3 tỷ đồng, tăng 30,72%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.650,5 tỷ đồng, tăng 5,47% (kinh tế cá thể đạt 2.757,6 tỷ đồng, tăng 5,94%; kinh tế tư nhân đạt 892,5 tỷ đồng, tăng 4,03%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 45,5 tỷ đồng, tăng 28,24% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2018 đạt 42.410,8 tỷ đồng, tăng 11,26% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 3.639,3 tỷ đồng, tăng 26,82%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 38.223 tỷ đồng, tăng 9,81% (kinh tế cá thể đạt 27.572,4 tỷ đồng, tăng 9,37%; kinh tế tư nhân đạt 10.646 tỷ đồng, tăng 10,99%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 548,5 tỷ đồng, tăng 24,27% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2018 ước đạt 2.812,1 tỷ đồng, tăng 4,62% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 171,7 tỷ đồng, tăng 36,71%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.597,3 tỷ đồng, tăng 2,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 43,1 tỷ đồng, tăng 29,61% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 209,2 tỷ đồng, tăng 27,37%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 293,6 tỷ đồng, tăng 61,93%; xăng, dầu các loại đạt 344,6 tỷ đồng, tăng 18,99%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm 2018 đạt 29.179 tỷ đồng, tăng 10,02% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.703,9 tỷ đồng, tăng 33,95%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 26.963,3 tỷ đồng, tăng 8,53%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 511,8 tỷ đồng, tăng 25,75% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 2.833,8 tỷ đồng, tăng 57,43%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 3.592,1 tỷ đồng, tăng 30,83%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 2.407,8 tỷ đồng, tăng 31,74% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 11/2018 ước đạt 418,2 tỷ đồng, tăng 16,53%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 248,7 tỷ đồng, tăng 20,75%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 65 tỷ đồng, tăng 9,31% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) 11 tháng năm 2018 đạt 4.717,5 tỷ đồng, tăng 14,18%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.913,1 tỷ đồng, tăng 17,77%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 715,4 tỷ đồng, tăng 8,28% so với cùng kỳ. 

  - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2018 ước đạt 798,2 tỷ đồng, tăng 13,41% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 101 tỷ đồng, tăng 13,93%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 697,2 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 356,1 nghìn lượt khách, tăng 9,21% (khách trong nước đạt 328,9 nghìn lượt khách, tăng 10,58%; khách quốc tế đạt 27,2 nghìn lượt khách, giảm 4,97%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 11 tháng năm 2018 đạt 8.480,2 tỷ đồng, tăng 14,12% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.095,7 tỷ đồng, tăng 12,7%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 7.384,5 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 3.917,7 nghìn lượt khách, tăng 10,39% (khách trong nước đạt 3.596,7 nghìn lượt khách, tăng 12,38%; khách quốc tế đạt 321 nghìn lượt khách, giảm 7,89%).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11/2018 ước đạt 2,8 tỷ đồng, tăng 3,65% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 5.030 lượt khách, tăng 5,08%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 11 tháng năm 2018 đạt 34,1 tỷ đồng, tăng 4,69% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 53.855 lượt khách, tăng 5,73% so với cùng kỳ.

6.2. Giá cả thị trường

6.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2018 giảm 0,19% so với tháng trước và tăng 2,86% so với cùng kỳ, do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm ngày 6/11/2018 và ngày 21/11/2018 tác động làm mặt hàng xăng A95 giảm 5,53%, xăng E5 giảm 5,71%, dầu diezel giảm 1,26% so với tháng trước. Mặt khác, giá gas thế giới bình quân tháng 11/2018 ở mức 532,5 USD/tấn, giảm 122,5 USD/tấn so với tháng 10/2018, tác động làm giá gas trong nước giảm 40.000 đồng/bình12kg; và giá dầu hỏa giảm 1,03%, do chịu tác động giảm của đợt điều chỉnh giảm giá ngày 6/11 và ngày 21/11/2018. Cụ thể: nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,39%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,23%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; nhóm mặt hàng giảm so với tháng trước như nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,92%; nhóm giao thông giảm 1,96%. Bên cạnh đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục ổn định so với tháng trước. Bình quân 11 tháng năm 2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,9% so với cùng kỳ.

6.2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 3,52 triệu đồng/chỉ, tăng 0,72% so với tháng trước, bình quân 11 tháng năm 2018 giá vàng tăng 4,11% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 11/2018 dao động ở mức 23.350 đồng/USD; chỉ số giá USD tháng 11/2018 giảm 0,04% so với tháng trước, bình quân 11 tháng năm 2018 giá USD tăng 1,34% so với cùng kỳ.

6.3. Vận tải, bưu chính viễn thông

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 11/2018 đạt 490,9 tỷ đồng, tăng 10,54% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 323,9 tỷ đồng, tăng 16,01%; doanh thu vận tải hàng không đạt 144,3 tỷ đồng, giảm 1,89%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 22,6 tỷ đồng, tăng 27,51% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 11 tháng năm 2018 đạt 5.409,7 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 3.425,6 tỷ đồng, tăng 12,86%; doanh thu vận tải hàng không đạt 1.722,3 tỷ đồng, tăng 9,37%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 261,5 tỷ đồng, tăng 4,71% so với cùng kỳ.

- Vận tải hành khách tháng 11/2018 ước đạt 2.653,7 nghìn hành khách, tăng 5,12% và luân chuyển đạt 313,7 triệu hành khách.km, tăng 5,97% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.582,4 nghìn hành khách, tăng 5,07% và luân chuyển đạt 275,3 triệu hành khách.km, tăng 8,03%; vận tải hành khách hàng không đạt 66,5 nghìn hành khách, tăng 8% và luân chuyển đạt 38,4 triệu hành khách.km, giảm 6,77%. Dự ước vận tải hành khách 11 tháng năm 2018 đạt 32.730,5 nghìn hành khách, tăng 9,82%; luân chuyển đạt 4.035,3 triệu hành khách.km, tăng 9,15% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 31.889,5 nghìn hành khách, tăng 9,77% và luân chuyển đạt 3.569,6 triệu hành khách.km, tăng 9,27%; vận tải hành khách hàng không đạt 780,3 nghìn hành khách, tăng 12,22% và luân chuyển đạt 465,7 triệu hành khách.km, tăng 8,22%.

- Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ tháng 11/2018 ước đạt 1.710,2 nghìn tấn, tăng 39,68% và luân chuyển đạt 195,7 triệu tấn.km, tăng 29,79% so với cùng kỳ. Dự ước khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ 11 tháng năm 2018 đạt 13.027,3 nghìn tấn, tăng 24,87%; luân chuyển đạt 1.703,9 triệu tấn.km, tăng 14,61% so với cùng kỳ.

- Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 11/2018 ước đạt 234,2 tỷ đồng, tăng 11,71% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 21.220 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 21.100 thuê bao, thuê bao cố định đạt 120 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 4.500 thuê bao. Dự ước doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông 11 tháng năm 2018 đạt 2.298,9 tỷ đồng, tăng 9,64% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 239.795 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 238.312 thuê bao, thuê bao cố định đạt 1.483 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 46.149 thuê bao.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền 

Trong tháng 11 năm 2018, các hoạt động văn hóa thông tin tiếp tục nâng cao hiệu quả chất lượng về nội dung và hình thức phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo lập môi trường văn hóa vui tươi, lành mạnh, khích lệ mọi người hăng hái thi đua sản xuất.

Tổ chức công tác tuyên truyền, cổ động trực quan, tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi toàn tỉnh, Kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2018).

Trong tháng Đoàn Ca múa nhạc Lâm Đồng xây dựng chương trình mới hội diễn nghệ thuật để tham gia phục vụ biểu diễn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và biểu diễn văn nghệ phục vụ quần chúng với chủ đề “Tôn sư Trọng đạo ngày 20/11”. Hoạt động chiếu phim lưu động thực hiện 45 buổi chiếu tại các huyện trong tỉnh, phục vụ trên 6 nghìn lượt người xem.

Bảo tàng Lâm Đồng, Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và di tích Cát Tiên thường xuyên mở cửa phục vụ khách đến tham quan nghiên cứu, học tập; từ ngày 15/10/2018 đến ngày 15/11/2018 đã đón được 1.388 lượt khách, trong đó có 71 khách quốc tế. Thư viện tỉnh mở cửa phục vụ bạn đọc đến đọc và mượn sách, báo, tài liệu với trên 700 lượt bạn đọc.

7.2. Hoạt động thể dục - thể thao

Trong tháng 11 năm 2018, ngành thể dục - thể thao Lâm Đồng tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng rộng khắp, thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khỏe, vui chơi lành mạnh, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Thể thao thành tích cao: Tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018. Cử huấn luyện viên, hướng dẫn viên tham gia công tác giám sát, trọng tài tại các giải quốc gia và tham dự các lớp tập huấn do Tổng cục Thể dục thể thao và các liên đoàn thể thao quốc gia tổ chức. Sáng 04/11/2018, tại TP. Đà Lạt, Tổng cục Thể dục Thể thao phối hợp với Liên đoàn Karate tỉnh Lâm Đồng tổ chức kỳ thi thăng đẳng Quốc gia môn Karate năm 2018 tại Nhà Văn hoá Lao động tỉnh; tham dự kỳ thi có 61 võ sinh đến từ các CLB Karate trong cả nước, trong đó 37 võ sinh thi thăng Nhất đẳng, 17 võ sinh thi thăng Nhị đẳng, 7 võ sinh thi thăng Tam đẳng. 

Thể dục thể thao quần chúng: Phong trào Thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển. Sáng 08/11/2018, tỉnh Lâm Đồng tổ chức giải Thể thao Người khuyết tật lần thứ IV năm 2018 do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lâm Đồng phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội Lâm Đồng và Hội Người khuyết tật Lâm Đồng tổ chức đã diễn ra tại Đà Lạt. Tham dự giải có 151 VĐV của 7 đơn vị huyện, thành phố trong tỉnh. Các VĐV tranh tài trong 4 bộ môn gồm xe lăn, xe lắc, điền kinh và cờ tướng. 

Từ ngày 02/11/2018 đến ngày 04/11/2018, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lâm Đồng phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng tổ chức giải Cờ vua học sinh toàn tỉnh Lâm Đồng tại thành phố Đà Lạt. Tổng cộng có 575 VĐV đại diện cho 67 đơn vị trong tỉnh tham dự, chủ yếu là học sinh các trường học phổ thông, các câu lạc bộ cờ vua của các huyện, thành phố trong tỉnh. Các VĐV tranh tài trong 4 nội dung gồm: cá nhân nam, cá nhân nữ, đồng đội nam, đồng đội nữ của 9 nhóm tuổi (từ 4 tuổi đến 17 tuổi). Kết thúc giải, Ban tổ chức đã trao 36 bộ huy chương cho 9 nhóm tuổi, mỗi nhóm có 01 giải Nhất huy chương Vàng, 01 giải Nhì huy chương Bạc, 02 giải Ba huy chương Đồng, cùng nhiều giải khuyến khích.

7.3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Ngoài nhiệm vụ thường xuyên, hoạt động giáo dục - đào tạo Lâm Đồng trong tháng 11/2018 tập trung thực hiện và hoàn thành tốt các công tác trọng tâm như tăng cường chỉ đạo, thực hiện các biện pháp củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học ngay từ đầu năm; đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, tăng cường sinh hoạt chuyên đề bộ môn về đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp học, phương pháp kiểm tra đánh giá.

Sáng 15/11/2018, Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 36 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2018) và tôn vinh nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tiêu biểu năm 2018. Trong buổi lễ Kỷ niệm đã được Lãnh đạo của tỉnh trao tặng giấy khen cho 114 giáo viên, cán bộ quản lý tiêu biểu năm 2018.

Hiện ngành giáo dục tỉnh Lâm Đồng có 24.929 người gồm cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên; trong đó: CBQL 1.714 người; giáo viên 18.831 (đạt chuẩn 97,8%, tính cả số giáo viên ở nhóm trẻ độc lập, tư thục); nhân viên 4.384 người. Tính đến hết tháng 10/2018, toàn tỉnh lâm Đồng có 367/639 trường công lập được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 57,3%.

7.4. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm 

Trong tháng 11/2018, ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H2N8), (H5N1), (H7N9), bệnh do viêm não mô cầu và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đầu tháng đến nay không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.

* Công tác phòng bệnh từ đầu tháng đến nay:

- Công tác phòng chống sốt rét: Không có dịch sốt rét xảy ra, có 9 trường hợp mắc sốt rét, giảm 1 trường hợp so với cùng kỳ, không có trường hợp tử vong.

- Công tác phòng chống sốt xuất huyết: Có 10 trường hợp mắc sốt xuất huyết, giảm 03 trường hợp so với cùng kỳ, không có tử vong do sốt xuất huyết.

- Công tác bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng: Toàn tỉnh quản lý và điều trị cho 1.392 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 1.595 bệnh nhân động kinh; tiếp tục duy trì thực hiện công tác khám bệnh tại phòng khám theo quy định. Thực hiện các hoạt động của 135 xã, phường điểm triển khai Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng và trẻ em tại 12 huyện, thành phố trong tỉnh.

- Công tác phòng chống bệnh phong: Không có bệnh nhân phong mới, hiện toàn tỉnh quản lý 162 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 144 bệnh nhân, giám sát 17 bệnh nhân và đa hóa trị liệu cho 1 bệnh nhân. Thực hiện tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định.

- Công tác phòng chống bệnh lao: Không có trường hợp bị lao mới, toàn tỉnh quản lý điều trị 362 bệnh nhân lao.

- Công tác phòng chống bệnh HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện thêm 07 trường hợp nhiễm HIV (tích lũy: 1.458), không có trường hợp mắc AIDS mới (tích lũy: 275) và có 03 trường hợp tử vong AIDS (tích lũy: 555). Hiện đang điều trị bằng thuốc ARV cho 581 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 16 trẻ em đang điều trị.

  - Công tác tiêm chủng mở rộng: Đã tiêm chủng đầy đủ cho trên 18 nghìn trẻ; tiêm viêm gan B trước 24 giờ cho trên 15 nghìn trẻ sơ sinh; uống đủ 3 liều vắc xin ngừa bại liệt cho hơn 18 nghìn trẻ dưới 1 tuổi; tiêm đủ 3 liều Quinvaxem cho trên 17 nghìn trẻ; tiêm sởi mũi 1 cho trẻ dưới 1 tuổi cho hơn 18 nghìn trẻ. Tiêm phòng uốn ván 2+ cho 16.500 phụ nữ có thai và tiêm phòng uốn ván 2+ cho 6.500 phụ nữ tuổi sinh đẻ. Tổ chức tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho trên 17 nghìn trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DTC) mũi 4 cho trên 17 nghìn trẻ 18 tháng tuổi. Tiêm vắc xin Viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi mũi 1: 18.500 trẻ; mũi 2: 18 nghìn trẻ và mũi 3: 17 nghìn trẻ. Tiếp tục duy trì tiêm các loại vắc xin dịch vụ cho độ tuổi tiêm chủng và độ tuổi ngoài chương trình tiêm chủng theo quy định.

7.5. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường.

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy, làm chết 05 người, bị thương 01 người, thiệt hại ước tính 11.850 triệu đồng. Vi phạm môi trường 01 vụ, xỷ lý 01 vụ, số tiền xử phạt là 150 triệu đồng.

7.6. Tai nạn giao thông

Ban An toàn giao thông tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác an toàn giao thông: số 203/BATGT ngày 22/10/2018 về đề nghị kiểm tra hoạt động của phương tiện thủy trên hồ Đan Kia - Suối Vàng; số 210/BATGT ngày 02/11/2018 về việc đẩy mạnh các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm với người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện. Tổ chức tuyên truyền 2.450 áp phích “Uống rượu bia có trách nhiệm và tuân thủ quy định tốc độ khi lái xe”, 2.000 tờ rơi “Hưởng ứng ngày Thế giới tưởng niệm nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông”.

Tính từ ngày 16/10/2018 đến ngày 15/11/2018, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông, tăng 07 vụ so với tháng trước và tăng 01 vụ so với cùng kỳ; làm chết 17 người, tăng 09 người so với tháng trước và tăng 11 người so với cùng kỳ; bị thương 14 người, tăng 02 người so với tháng trước và giảm 12 người so với cùng kỳ.

Tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/11/2018, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông, tăng 12 vụ so với cùng kỳ; làm chết 132 người, tăng 01 người so với cùng kỳ; bị thương 131 người, tăng 14 người so với cùng kỳ. Trong tháng lực lượng chức năng phát hiện, xử lý 5.116 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, xử phạt 2,8 tỷ đồng, tước 146 giấy phép lái xe. Phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới: 541 ô tô và 5.215 mô tô. Tổng phương tiện đang quản lý là 54.966 ô tô và 968.844 mô tô.


Các tin khác

© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt