Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội ước tháng 7 năm 2018

           1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Sản xuất vụ hè thu

Tính đến ngày 10/7/2018 toàn tỉnh đã tiến hành xuống giống, gieo trồng vụ hè thu đạt 40.427 ha cây hàng năm các loại, đạt 95,59% kế hoạch, tăng 3,26% so với cùng kỳ. Trong đó:

Lúa gieo cấy 5.923,2 ha, đạt 99,87% kế hoạch, giảm 3,43% so với cùng kỳ, tập trung ở Cát Tiên 3.609 ha, chiếm 60,93%; Đạ Tẻh 2.209,2 ha, chiếm 37,29%; Đạ Huoai 105 ha, chiếm 1,77% diện tích gieo cấy toàn tỉnh.

Ngô gieo trồng 5.790,4 ha, đạt 80,7% kế hoạch, giảm 9,35% so với cùng kỳ, do diện tích trồng thuần cây ngô ngày càng thu hẹp, diện tích ngô trồng xen trong vườn cây lâu năm đến nay đã khép tán hoặc chuyển sang cây trồng khác như dâu tằm, mía, sắn (mỳ).

Khoai lang gieo trồng 832 ha, đạt 88,51% kế hoạch, tăng 35,26% so với cùng kỳ.

Đỗ tương (đậu nành) gieo trồng 98 ha, tăng 15,62% so với cùng kỳ.

Rau các loại gieo trồng 21.355 ha, đạt 91,05% kế hoạch, tăng 8,86%, các loại rau gieo trồng chủ yếu là bắp sú, cải thảo, cà rốt, khoai tây, cà chua, hành tây; tập trung ở Đơn Dương, Đức Trọng, Đà Lạt, Lạc Dương.

Đậu các loại gieo trồng 725,6 ha, đạt 124,57% kế hoạch, giảm 14,94% so với cùng kỳ.

Hoa các loại gieo trồng 2.269,8 ha, tăng 5,23% so với cùng kỳ, là cây thế mạnh của tỉnh, cùng với giá tiêu thụ tương đối ổn định người dân đã chuyển hướng sang đầu tư chất lượng một số chủng loại hoa có giá trị kinh tế cao như hoa ly, hồng, cúc vạn thọ.

Cây hàng năm khác diện tích gieo trồng 3.346,7 ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ, chủ yếu là diện tích cỏ chăn nuôi 2.522 ha, tăng 1,19%, chiếm 75,36%, do nhiều hộ mở rộng chăn nuôi bò sữa.

b. Sản xuất vụ mùa

Tiến độ gieo trồng đến ngày 10/7/2018 thực hiện 7.517,2 ha, tăng 4,18% so với cùng kỳ. Trong đó, lúa gieo trồng 5.987 ha, đạt 49,34% kế hoạch, tăng 3,17% so với cùng kỳ, tập trung ở Đức Trọng 2.500 ha, Đơn Dương 2.027 ha, Di Linh 900 ha, Lâm Hà 350 ha; cây lấy củ có chất bột 594 ha, trong đó; sắn (mỳ) 565,2 ha tập trung ở Đam Rông, Bảo Lâm.

c. Cây lâu năm

Tính từ đầu năm đến nay trồng mới, chuyển đổi giống cây lâu năm 6.036,2 ha, tăng 11,04% so với cùng kỳ, do thời tiết thuận lợi, mưa sớm bà con nông dân tranh thủ gieo trồng, chăm sóc, chủ trương không mở rộng thêm diện tích cây lâu năm mà chỉ tập trung cải tạo chuyển đổi giống cây trồng già cỗi năng suất thấp, trồng xen và chăm sóc tốt để tăng năng suất cây trồng là chính. Trong đó, Di Linh 1.821 ha; Lâm Hà 1.346,2 ha; Bảo Lâm 1.031,8 ha; Đam Rông 540 ha; Cát Tiên 346,4 ha; Bảo Lộc 377 ha; Đức Trọng 289 ha. 

          Diện tích cà phê trồng mới, ghép cải tạo giống thực hiện 4.261,2 ha, tăng 6,5% so với cùng kỳ, tiếp tục thực hiện chủ trương tái canh cà phê của tỉnh, trong đó: Trồng mới làm tăng diện tích 264,2 ha, chiếm 6,2%; diện tích tái canh chuyển đổi giống, ghép cành 3.997 ha, chiếm 93,8%. Diện tích trồng mới chủ yếu do chuyển đổi một số diện tích chè hạt kém hiệu quả sang trồng cà phê, và tái canh cải tạo diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp thay thế bằng giống cà phê vối có năng suất cao. Tập trung ở Di Linh 1.400 ha; Lâm Hà 950 ha; Bảo Lâm 939,8 ha; Đam Rông 400 ha; Bảo Lộc 280 ha; Đức Trọng 235 ha.

          Diện tích trồng mới cây ăn quả thực hiện 701,8 ha, tăng 41,84% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích trồng mới tăng diện tích là 295 ha, chiếm 42,03% như sầu riêng, bơ, mít, măng cụt, mác mác trồng xen trong vườn cà phê, diện tích còn lại chuyển đổi giống không làm tăng diện tích 406,8 ha, chiếm 57,97%.

          Dâu tằm thực hiện trồng mới 646 ha, tăng 155,74% so với cùng kỳ, chủ yếu ở Lâm Hà 350 ha, Cát Tiên 75 ha, Đạ Tẻh 72,6 ha, Đam Rông 40 ha.

          Cây tiêu thực hiện trồng mới 25,3 ha, tập trung chủ yếu ở Lâm Hà 10 ha, Đạ Tẻh 10 ha, Bảo Lâm 5,3 ha.

* Tình hình dịch bệnh trên cây trồng

          Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng từ 10/6 - 10/7/2018 như sau:

 - Trên cây lúa hè thu: Tại Đạ Tẻh bệnh đạo ôn lá nhiễm 22 ha, giảm 43 ha so với tháng trước.

 - Trên cây cà chua: Tại Đơn Dương, Đức Trọng virus bệnh xoăn lá nhiễm 170 ha; bệnh mốc sương nhiễm 158 ha, tăng 92 ha so với tháng trước.

 - Trên cây rau họ thập tự: Tại Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương sâu tơ gây hại 185 ha, giảm 144 ha so với tháng trước.

- Hoa cúc: Tại Đà Lạt bệnh héo vàng (virus) gây hại 30 ha, giảm 40 ha so với tháng trước.

- Trên cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 447 ha, tăng 210 ha so với tháng trước; bệnh khô cành nhiễm rải rác 559 ha, giảm 184 ha so với tháng trước; bệnh vàng lá nhiễm rải rác 360 ha.

 - Trên cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 200 ha, giảm 23 ha so với tháng trước; bệnh thán thư nhiễm 576 ha, giảm 96 ha so với tháng trước.

d. Tình hình chăn nuôi

          Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, phát triển, dịch bệnh không xảy ra. Giá thịt lợn hơi, giá trứng và thịt gia cầm tăng, đã khuyến khích người người chăn nuôi đầu tư phát triển, tăng đàn. Hiện giá lợn hơi dao động quanh mức 50.000 đồng/kg, giá trứng gà công nghiệp xuất tại chuồng đạt 38.000 – 40.000 đồng/kg, sau thời gian dài gặp nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tăng, các hộ chăn nuôi có lãi đã kích thích người chăn nuôi đầu tư trở lại, có lúc các hộ chăn nuôi, trang trại không có sản phẩm để bán, khả năng tái đàn 6 tháng cuối năm sẽ có nhiều thuận lợi.

          Công tác kiểm dịch, kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi:

          - Kiểm dịch xuất tỉnh: Từ đầu năm đến nay kiểm dịch xuất tỉnh 264.245 con heo, tăng 75%; 1.830 con trâu, bò, tăng 123% so với cùng kỳ; 1.105 con dê; 15 con chó, mèo; 325.000 con cá tầm giống; 73.000 quả trứng gà, vịt; 580.000 quả trứng cút; 34.376 kg sản phẩm đông lạnh, 13.427 kg thịt các loại và 8.650 tấm da bò.

          - Kiểm dịch nhập tỉnh: Từ đầu năm đến nay kiểm dịch nhập tỉnh 6.540 con heo, 840 con trâu bò, 275.850 con gia cầm, 50 con dê, 9.653 kg thịt các loại và 151.510 kg sản phẩm đông lạnh.

          Công tác phòng chống dịch bệnh: Phối hợp với Chi cục Thú y vùng 5 kiểm tra điều kiện kết thúc cách ly kiểm dịch nhập khẩu tại Công ty TNHH MTV Huỳnh Phi, Công ty Cổ phần Bel Gà.

        - Công tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y: Được trung tâm Nông nghiệp  huyện duy trì thực hiện thường xuyên; Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ. Số lượng gia súc, gia cầm kiểm soát giết mổ từ đầu năm đến nay 111.154 con heo; 6.766 con trâu, bò và 445.864 con gia cầm.

        - Kiểm tra an toàn thực phẩm: Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản kiểm tra và lấy 64 mẫu nước tiểu trên đàn heo chờ giết mổ tại lò giết mổ tập trung Đà Lạt và lò giết mổ Vũ Tiến Minh (Đức Trọng) để kiểm tra Salbutamol bằng KIT kiểm tra nhanh, kết quả: 64 mẫu nước tiểu âm tính với chất Salbutamol.

           Công tác kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính: Đã phát hiện và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 09 trường hợp, phạt tiền 33,5 triệu đồng (còn 01 trường hợp chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 8 triệu đồng).

1.2. Sản xuất lâm nghiệp

Lâm sinh: Trong tháng 7/2018 trồng mới rừng tập trung ở các loại hình kinh tế ước thực hiện 201 ha; lũy kế đến hết tháng 7/2018 thực hiện 531 ha, tăng 2,12% so với cùng kỳ, do công tác chuẩn bị hiện trường đất đai, bố trí vốn, lực lượng kịp thời. Trồng cây lâm nghiệp phân tán ước đạt 159 nghìn cây, tăng 0,96% so với cùng kỳ.

Chăm sóc rừng trồng lũy kế đến hết tháng 7/2018 đạt 2.128 ha, tăng 2,06% (+43 ha) so với cùng kỳ, trong đó; các đơn vị lâm nghiệp thuộc loại hình kinh tế nhà nước thực hiện 1.702 ha, chiếm 79,98%.

Giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích  427.958,9 ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 8,15% so với cùng kỳ. Trong đó, bằng nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 370.154,7 ha; còn lại là ngân sách tỉnh 57.804,2 ha.

Khai thác lâm sản: Ước tính tháng 7/2018 sản lượng gỗ khai thác ở các loại hình kinh tế thực hiện 2.492 m3, giảm 0,32%; củi thước 4.900 ster, giảm 10,9% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2018 sản lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 22.762 m3 (trong đó: sản lượng gỗ khai thác của các đơn vị được nghiệm thu, xác nhận đóng búa kiểm lâm 16.716 m3 ), giảm 5,51% so với cùng kỳ, do tiếp tục thực hiện chủ trương hạn chế khai thác gỗ nhằm bảo tồn phát triển tài nguyên rừng. Củi thước 63.240 Ster, giảm 12,35% so với cùng kỳ, củi khai thác phần lớn sử dụng ở vùng đồng bào dân tộc do tập quán và những hộ có thu nhập thấp còn sử dụng; các loại lâm sản khác như: Song, mây 260 tấn, giảm 16,13%; mung cây 420 nghìn cây, giảm 16%; lồ ô các loại 2.022 nghìn cây, giảm 6,17%; hạt giống lâm nghiệp các loại 200 kg, giảm 0,09% so với cùng kỳ.

Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng: Công tác trực và triển khai nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy rừng được ngành chức năng quan tâm theo dõi. Từ đầu mùa khô đến 20/7/2018 đã xảy ra 6 vụ cháy, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ,  diện tích rừng bị cháy 10,03 ha, giảm 45,16% so với cùng kỳ.

Tình hình vi phạm lâm luật: Trong tháng 7/2018 công tác bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường nhưng tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn diễn ra, lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 75 vụ vi phạm lâm luật, giảm 13,79% so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi phá rừng trái phép 17 vụ, giảm 41,38%, diện tích rừng bị phá 5,76 ha, giảm 61,05%; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 26 vụ, tăng 52,94% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến 20/7/2018 tổng số vụ vi phạm lâm luật 514 vụ, giảm 18,41% (-116 vụ), trong đó hành vi chặt phá rừng trái phép 138 vụ, giảm 16,87% (-28 vụ), diện tích rừng bị phá 35,93 ha, giảm 38,88%; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 125 vụ, giảm 19,35% (-30 vụ); mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 217 vụ, giảm 22,78% (-64 vụ) so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 427 vụ (xử lý hành chính 407 vụ, chuyển xử lý hình sự 20 vụ). Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 153 chiếc phương tiện, dụng cụ; 692,5 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách 3,47 tỷ đồng.

Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 393 dự án/327 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai dự án với tổng diện tích là 56.734 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần dự án). Đến nay tổng số dự án đã thu hồi 184 dự án/26.618 ha, gồm 152 dự án thu hồi toàn bộ/24.095 ha và 32 dự án thu hồi một phần/2.523 ha do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2018 tăng 6,48% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7

 

Năm 2016

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2017

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2018

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

104,14

107,03

106,48

1.     Khai khoáng

96,55

100,16

112,61

2.     Chế biến, chế tạo

108,27

102,35

107,00

3.     Sản xuất, phân phối điện

97,40

117,47

105,94

4.     Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

108,43

105,58

107,05

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,61% so với cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm quặng boxit đạt 3,3 ngàn tấn, tăng 49,98%; đá xây dựng đạt 218,1 ngàn m3, tăng 17,97% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 19,75% (sản phẩm gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 31,6 triệu viên, tăng 22,15%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,68% (sản phẩm phân bón NPK của công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 16.375 tấn, tăng 18,69%); sản xuất kim loại tăng 15,38% (trong đó, sản phẩm Alumin đạt 60 ngàn tấn, tăng 15,38%); ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 15,24% (tăng mạnh là sản phẩm dược phẩm khác 8.800 kg, tăng 31,32%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 4,12% % (trong đó, sản phẩm gỗ cưa hoặc xẻ đạt 2.709 m3, tăng 16,27%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,23% (trong đó, sản phẩm rau ướp lạnh đạt 290 tấn, tăng 9,49%; chè nguyên chất đạt 4.270 tấn, giảm 18,91%); ngành dệt giảm 1,46% (trong đó: sản phẩm vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 284 ngàn m2, giảm 0,28%); ngành sản xuất trang phục tăng 1% (trong đó, quần áo bảo hộ lao động 135 ngàn cái, tăng 3,85%).

Chỉ số sản xuất ngành phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,94% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng điện sản xuất được phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng là 247 triệu kwh, tăng 5,74%; sản lượng điện thương phẩm đạt 98 triệu kwh, tăng 11,52% so với cùng kỳ. Đến nay trên địa bàn tỉnh mưa nhiều nên hầu hết các hồ thủy điện đã tích đủ lượng nước đảm bảo yêu cầu phát điện theo kế hoạch điều động của Trung tâm điều động quốc gia.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,05% so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,69% và hoạt động thu gom rác thải tăng 8,53% so với cùng kỳ. Sản lượng nước ghi thu đạt 2.520 ngàn m3, tăng 6,69%; dịch vụ thu gom rác thải không thể tái chế 4.032 triệu đồng, tăng 8,53% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2018 tăng 6,83% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 2,03%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,53% (trong đó, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 23,4%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 15,95%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,98%; ngành sản xuất kim loại tăng 9,83%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,38%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí tăng 7,38%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,22% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2018 tăng 0,76% so với cùng kỳ. Chủ yếu ở một số ngành như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 38,95%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 36,33%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 24,3%; sản xuất đồ uống tăng 22,72%; sản xuất kim loại tăng 9,86%; sản xuất trang phục giảm 17,79%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 12,9%; chế biến thực phẩm giảm 6,59%; sản xuất chế biến gỗ giảm 3,92%; sản xuất sản phẩm plastic giảm 1,33%.

* Chỉ số tồn kho tháng 7/2018 giảm 20,46% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 35,26%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 73,56%; sản xuất đồ uống giảm 64,58%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 48,97%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 36,23%; ngành dệt giảm 20,16%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 18,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 13,6%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 7,62% so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 7 năm 2018 giảm 2,08% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế cấp 2: Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 89,39%; sản xuất trang phục tăng 19,05%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,18%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,98%; ngành dệt giảm 10,66%; ngành khai khoáng khác giảm 9,7%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 6,85%; ngành công nghiệp chế biến thực phẩm giảm 5,79%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 4,27%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 1,94%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 1,21% so với cùng kỳ. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước giảm 2,38%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 2,53%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,37% so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Đăng ký kinh doanh: Trong 7 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp thành lập mới 583 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký 3.813,3 tỷ đồng, giảm 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 3,69% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, bình quân đạt 6,54 tỷ đồng/doanh nghiệp; số đơn vị trực thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) đăng ký hoạt động là 521 đơn vị, tăng 27,51% so với cùng kỳ.

Về tình hình hoạt động, giải thể doanh nghiệp: Số cơ sở hoạt động trở lại là 144 doanh nghiệp, tăng 23,08% và 61 đơn vị trực thuộc, tăng 33,33% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 199 doanh nghiệp, tăng 2,05%; đăng ký giải thể tự nguyện 97 doanh nghiệp, tăng 25,97% so với cùng kỳ.

Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước: Có 21 dự án được cấp mới với tổng vốn đầu tư đăng ký 858,41 tỷ đồng, quy mô diện tích 307,6 ha; có 40 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư; thu hồi 04 dự án, với tổng vốn đăng ký 196,84 tỷ đồng, quy mô diện tích 224,11 ha.

          Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: Tính đến ngày 30/6/2018 có 02 dự án được cấp mới với tổng vốn đầu tư đăng ký 122,52 tỷ đồng, quy mô diện tích 3,19 ha; có 12 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư, bằng 66,67% về số dự án, bằng 85,59% về vốn và tăng 52,05% về diện tích.

4. Đầu tư

Hoạt động đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước đã được quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành tạo điều kiện cho việc giải ngân và thực hiện vốn đầu tư. Tuy nhiên, công tác đầu tư xây dựng cũng gặp một số khó khăn nhất định, một số công trình thuộc kế hoạch năm 2018 đã được thi công nhưng không nhiều, công tác đền bù giải tỏa còn nhiều bất cập. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 7 tháng đầu năm 2018 tăng khá so cùng kỳ. 

Dự ước tháng 7/2018, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ( không bao gồm nguồn trái phiếu Chính phủ và phần trả nợ), đạt 243,2 tỷ đồng, tăng 16,85% so với cùng kỳ.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 203,7 tỷ đồng, chiếm 83,76% trong tổng vốn, tăng 20,1% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 85,5 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 29,8 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 24 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 59,6 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 4,7 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 38,8 tỷ đồng, chiếm 15,96% trong tổng vốn, tăng 8,39% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 33,6 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 3,6 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 0,7 tỷ đồng, chiếm 0,28% trong tổng vốn.

Dự ước 7 tháng năm 2018, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh đạt 1.210,4 tỷ đồng, tăng 18,51% so với cùng kỳ, bằng 56,24% so với kế hoạch. Trong đó:

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.033,4 tỷ đồng, chiếm 85,38% trong tổng vốn, tăng 23,81% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 509,8 tỷ đồng; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 136,3 tỷ đồng; vốn xổ số kiến thiết đạt 267,3 tỷ đồng, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, các ngành kinh tế có ưu thế  của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, y tế, giáo dục...

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 173,6 tỷ đồng, chiếm 14,34% trong tổng vốn, giảm 0,96% so với cùng kỳ, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn các huyện, thành phố.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3,42 tỷ đồng, chiếm 0,28% trong tổng vốn.

Một số công trình đang triển khai trên địa bàn tỉnh: Nâng cấp đường Mạc Đĩnh Chi; xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư – tái định cư Phạm Hồng Thái; khu quy hoạch dân cư 5b (thành phố Đà Lạt); nâng cấp đường Đạ Sar- Xã Lát; dự án xây dựng đường Đạ sar- Xã lát 2,818km (huyện Lạc Dương); đường NTM (huyện Đạ Tẻh); xây dựng khối 12 phòng học, phòng chức năng, khu hiệu bộ trường THCS Đinh Tiên Hoàng; xây dựng trường tiểu học Trần Quốc Toản; xây dựng trường tiểu học Quảng Lập (huyện Đơn Dương); dự án xây dựng đường dọc bờ sông Đa Nhim đoạn từ cầu sắt Phú Hội đến thác Liên Khương (huyện Đức Trọng).

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính

Ngành Thuế phối hợp với các Sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp về thu ngân sách nhà nước, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, hạn chế tình trạng nợ đọng thuế. Công tác chi ngân sách đảm bảo theo đúng nhiệm vụ chi theo dự toán được duyệt và thực tế phát sinh; trong đó chủ yếu các nhu cầu chi hoạt động thường xuyên để phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đồng thời quản lý chặt chẽ chi tiêu công, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát đảm bảo hiệu quả.    

          Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 15/7/2018 đạt 3.930,7 tỷ đồng, bằng 58,23% so với dự toán, tăng 15,14% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 3.639,7 tỷ đồng, bằng 58,24% so với dự toán, tăng 16,22% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 590,3 tỷ đồng, đạt 63,13% so với dự toán, tăng 29,89%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 46,6 tỷ đồng, đạt 54,77% so với dự toán, tăng 35%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 59,2 tỷ đồng, đạt 69,64% so với dự toán, tăng 56,04%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 815,1 tỷ đồng, đạt 47,86% so với dự toán, tăng 12,46%; thuế thu nhập cá nhân đạt 401,6 tỷ đồng, đạt 72,89% so với dự toán, tăng 30,7%; lệ phí trước bạ đạt 218,8 tỷ đồng, đạt 53,37% so với dự toán, tăng 19,2%; thu phí, lệ phí đạt 150 tỷ đồng, đạt 51,73% so với dự toán, tăng 23,85%; thu từ đất, nhà đạt 510 tỷ đồng, đạt 60% so với dự toán, tăng 5%; thu xổ số kiến thiết đạt 429 tỷ, đạt 65,01% so với dự toán, tăng 12,87% so với cùng kỳ. Thu thuế qua hải quan đạt 291 tỷ đồng, đạt 58,2% so với dự toán, tăng 58,79% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 15/7/2018 đạt 7.988,2 tỷ đồng, bằng 68,31% so với dự toán, tăng 8,7% so với cùng kỳ. Trong đó, thu điều tiết đạt 3.650 tỷ đồng, tăng 18,25%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 2.438,2 tỷ đồng, giảm 0,2% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 15/7/2018 đạt 6.985,7 tỷ đồng, bằng 60,28% so với dự toán, tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 980,4 tỷ đồng, bằng 51,06% so với dự toán, giảm 10,73%; chi thường xuyên đạt 5.572 tỷ đồng, bằng 71,2% so với dự toán, tăng 13,85%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục và đào tạo đạt 1.830 tỷ đồng, đạt 51,81% so với dự toán, tăng 14,18%; chi sự nghiệp y tế đạt 562 tỷ đồng, tăng 18,78%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 350 tỷ đồng, tăng 16,25%; chi quản lý hành chính đạt 1.030 tỷ đồng, tăng 12,14% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng

          Trong 7 tháng đầu năm 2018 Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Lâm Đồng và các tổ chức tín dụng tiếp tục chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động và cho vay. Đồng thời đảm bảo an toàn thông suốt của hệ thống máy rút tiền ATM, xây dựng và đăng ký kế hoạch cho vay phát triển nông thôn mới, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay tái canh cây cà phê, cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

          Ước đến 30/7/2018 vốn huy động đạt 47.500 tỷ đồng, tăng 13,18% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 36.300 tỷ đồng, chiếm 76,42% tổng vốn huy động, tăng 5,82%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 11.200 tỷ đồng, chiếm 25,58% tổng vốn huy động, tăng 46,1% so với cùng kỳ.

Ước đến 30/7/2018 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 80.000 tỷ đồng, tăng 31,73% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 28.000 tỷ đồng, chiếm 35% tổng dư nợ, tăng 23,6%; dư nợ ngắn hạn 52.000 tỷ đồng, chiếm 65% tổng dư nợ, tăng 36,57% so với cùng kỳ.

         Ước đến 30/7/2018 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 380 tỷ đồng, chiếm 0,48% tổng dư nợ, tăng 0,8% so với cùng kỳ.

6. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2018 đạt 3.979,1 tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 350,4 tỷ đồng, tăng 28,6%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.575,4 tỷ đồng, tăng 13,15% (kinh tế cá thể đạt 2.504 tỷ đồng, tăng 12,06%; kinh tế tư nhân đạt 1.070,9 tỷ đồng, tăng 15,8%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 53,3 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 07 tháng năm 2018 đạt 27.008 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 2.307,5 tỷ đồng, tăng 24,89%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 24.341,1 tỷ đồng, tăng 12,21% (kinh tế cá thể đạt 17.318,3 tỷ đồng, tăng 10,35%; kinh tế tư nhân đạt 7.019,8 tỷ đồng, tăng 17,08%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 359,4 tỷ đồng, tăng 23,31% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7/2018 ước đạt 2.693,4 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 154,5 tỷ đồng, tăng 43,83%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.489,4 tỷ đồng, tăng 14,77%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 49,5 tỷ đồng, tăng 24,39% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 244,1 tỷ đồng, tăng 59,6%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 484,9 tỷ đồng, tăng 85,74%; nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.053,9 tỷ đồng, tăng 8,31%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 07 tháng năm 2018 đạt 18.619,3 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.069 tỷ đồng, tăng 33,02%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 17.216 tỷ đồng, tăng 11,46%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 334,3 tỷ đồng, tăng 24,65% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 1.977,1 tỷ đồng, tăng 64,16%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.581,7 tỷ đồng, tăng 44,66%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.271,7 tỷ đồng, tăng 19,06%.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 7/2018 ước đạt 450,8 tỷ đồng, tăng 10,69%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 294,8 tỷ đồng, tăng 14,59%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 59,9 tỷ đồng, tăng 4,01% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) 07 tháng năm 2018 đạt 2.966,9 tỷ đồng, tăng 13,19%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.865,1 tỷ đồng, tăng 16,89%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 435,3 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ. 

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7/2018 ước đạt 831 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 105,5 tỷ đồng, tăng 13,58%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 725,5 tỷ đồng, tăng 10,75% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 410,3 nghìn lượt khách, tăng 4,4% (khách trong nước đạt 386,2 nghìn lượt khách, tăng 7,4%; khách quốc tế đạt 24,1 nghìn lượt khách, giảm 27,88%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 07 tháng đầu năm 2018 đạt 5.398,9 tỷ đồng, tăng 15,57% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 696,7 tỷ đồng, tăng 13,06%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 4.702,2 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 2.590,5 nghìn lượt khách, tăng 13,51% (khách trong nước đạt 2.380,2 nghìn lượt khách, tăng 16,04%; khách quốc tế đạt 210,3 nghìn lượt khách, giảm 8,93%).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 7/2018 ước đạt 3,9 tỷ đồng, tăng 2,36% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 5.465 lượt khách, tăng 10,76%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 07 tháng năm 2018 đạt 22,9 tỷ đồng, tăng 10,23% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 32.732 lượt khách, tăng 5,21%.

         6.2. Giá cả thị trường

         6.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2018 giảm 0,46% so với tháng trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ, do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm ngày 23/7/2018, như giá xăng A95 bình quân giảm từ 21.847 đồng/lít xuống 21.590 đồng/lít (-1,18%), giá xăng sinh học E5 bình quân tháng giảm từ 20.242 đồng/lít xuống 20.000 đồng/lít (-1,2%), dầu diezel bình quân tháng giảm từ 17.976 đồng/lít xuống 17.738 đồng/lít (-1,32%) so với tháng trước. Mặt khác, nhóm giao thông công cộng tăng 0,72% do giá vé dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt của công ty cổ phần Vận tải ô tô Lâm Đồng tuyến Đà Lạt - Đức Trọng điều chỉnh tăng từ 15.000 đồng/vé lên 20.000 đồng/vé.

          Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,65%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,04%; nhóm mặt hàng giảm so với tháng trước như nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,03%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,28%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%; nhóm giao thông giảm 0,52%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD giảm 2,67%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 6,43%. Bên cạnh đó, nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục ổn định so với tháng trước. Bình quân 07 tháng năm 2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,11% so với cùng kỳ.

6.2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh dao động ở mức 3,57 triệu đồng/chỉ, giảm 1,89% so với tháng trước, bình quân 07 tháng năm 2018 giá vàng tăng 6,74% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 7/2018 dao động ở mức 23.029 đồng/USD; chỉ số giá USD tháng 7/2018 tăng 0,72% so với tháng trước, bình quân 07 tháng năm 2018 giá USD tăng 0,55% so với cùng kỳ.

         6.3. Vận tải, bưu chính viễn thông

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 7/2018 đạt 525,6 tỷ đồng, tăng 8,25% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 325,5 tỷ đồng, tăng 14%; doanh thu vận tải hàng không đạt 173,6 tỷ đồng, bằng 99,52%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 26,5 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 7 tháng đầu năm 2018 đạt 3.473,8 tỷ đồng, tăng 11,18% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 2.172,1 tỷ đồng, tăng 12,77%; doanh thu vận tải hàng không đạt 1.130,5 tỷ đồng, tăng 9,43%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 170,9 tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ.

- Vận tải hành khách tháng 7/2018 ước đạt 3.298,6 nghìn hành khách, tăng 16,53% và luân chuyển đạt 379,6 triệu hành khách.km, tăng 3,1% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 3.214,5 nghìn hành khách, tăng 16,89% và luân chuyển đạt 332,4 triệu hành khách.km, tăng 4,62%; vận tải hành khách hàng không đạt 78,5 nghìn hành khách, tăng 3,83% và luân chuyển đạt 47,2 triệu hành khách.km, bằng 93,54%. Dự ước vận tải hành khách 7 tháng đầu năm 2018 đạt 22.554,5 nghìn hành khách, tăng 12,1% và luân chuyển đạt 2.811 triệu hành khách.km, tăng 9,94% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 22.006 nghìn hành khách, tăng 12,15% và luân chuyển đạt 2.504,3 triệu hành khách.km, tăng 10,01%; vận tải hành khách hàng không đạt 508,3 nghìn hành khách, tăng 10,74% và luân chuyển đạt 306,8 triệu hành khách.km, tăng 8,35%.

- Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ tháng 7/2018 ước đạt 1.110,7 nghìn tấn, tăng 32,7% và luân chuyển đạt 169,3 triệu tấn.km, tăng 22,18% so với cùng kỳ. Dự ước khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ 7 tháng đầu năm 2018 đạt 6.946,3 nghìn tấn, tăng 19,53% và luân chuyển đạt 1.012,2 triệu tấn.km, tăng 10,05% so với cùng kỳ.

         - Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 7/2018 ước đạt 207,2 tỷ đồng, bằng 92,07% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 27.739 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 27.539 thuê bao, thuê bao cố định đạt 200 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 5.735 thuê bao. Dự ước doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông 7 tháng đầu năm 2018 đạt 1.426  tỷ đồng, tăng 11,14% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 163.396  thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 162.349 thuê bao, thuê bao cố định đạt 1.047 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 30.807 thuê bao.

         7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền 

Trong tháng 7 năm 2018, ngành văn hóa- thông tin Lâm Đồng tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư trong tỉnh, đặc biệt được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến huyện đã tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các gia đình thương binh, liệt sỹ và bà Mẹ Việt Nam anh hùng nhân Kỷ niệm 71 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2018). Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh; qua đó góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, tạo môi trường văn hoá vui tươi, lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, khích lệ mọi người hăng hái thi đua lao động sản xuất. Đẩy mạnh công tác phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội trên phạm vi rộng và trên các lĩnh vực trọng điểm.

Các đội chiếu bóng lưu động và đoàn ca múa nhạc dân tộc tiếp tục tổ chức các buổi chiếu phim và biểu diễn với 45 buổi phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hoạt động bảo tàng mở cửa thường xuyên đã đón trên 800 lượt khách. Thư viện tỉnh mở cửa phục vụ 850 lượt bạn đọc.

7.2. Hoạt động thể dục - thể thao

Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” luôn được ngành thể dục thể thao Lâm Đồng chú trọng với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng rộng khắp, thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khỏe, vui chơi lành mạnh, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Thể thao thành tích cao: Tham gia giải các câu lạc bộ thể dục thể hình toàn quốc; giải cầu lông thiếu niên toàn quốc; giải quần vợt năng khiếu toàn quốc; giải quần vợt thanh thiếu niên toàn quốc.

Thể dục thể thao quần chúng: Chuẩn bị kế hoạch hỗ trợ chuyên môn cho các giải bóng đá hè của thanh thiếu niên và các đơn vị trong tỉnh tổ chức các hội thao thi đấu các môn như: Bóng đá, bóng bàn, cầu lông, cờ tướng và kéo co.

7.3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm học 2017-2018.  Hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên hè 2018 và năm học mới 2018-2019 các cấp học, ngành học. Kiểm tra công nhận trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Thực hiện công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ, trang thiết bị dạy học... cho khai giảng năm học mới 2018-2019. Thành lập các Đoàn kiểm tra hoạt động hè 2018 tại 12 huyện, thành phố.

Hoàn thành công tác tuyển sinh vào lớp 10 cho năm học 2018-2019 ở 2 trường chuyên của tỉnh. Những thí sinh không đạt khi thi vào 2 trường chuyên trên sẽ được xét tuyển bình thường vào lớp 10 tại các trường THPT công lập trong tỉnh. Kỳ thi THPT quốc gia 2018 diễn ra an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế. Toàn tỉnh có 14.146 thí sinh dự thi (bao gồm cả thí sinh tự do), số thí sinh đỗ tốt nghiệp 13.997 học sinh, đạt tỷ lệ 98,9%. Trong đó, thí sinh hệ THPT 13.650/13.764 thí sinh, đạt tỷ lệ 99,17%; Thí sinh hệ GDTX 347/382 thí sinh, tỷ lệ 90,84%; có 33 đơn vị có tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp 100%, gồm 31/58 trường THPT và 02/08 Trung tâm GDNN - GDTX.

7.4. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm        

Ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), (H5N8), (H7N9), dịch sởi, tiêu chảy cấp, sốt rét, sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ đầu tháng đến nay có 7 trường hợp mắc sốt xuất huyết, giảm 01 trường hợp so với cùng kỳ, không có tử vong. Bệnh sốt rét có 7 trường hợp sốt rét mới, tăng 01 trường hợp so với cùng kỳ. Bệnh phong không phát hiện thêm bệnh nhân mới, toàn tỉnh quản lý 161 bệnh nhân phong và chăm sóc tàn phế cho 144 bệnh nhân. Không phát hiện bệnh nhân lao mới, không có tử vong, hiện toàn tỉnh đang quản lý điều trị cho 145 bệnh nhân lao. Không có trường hợp nhiễm HIV mới (tích lũy: 1.361), không có trường hợp chuyển sang AIDS mới (tích lũy: 272), không có tử vong do AIDS mới (tích lũy: 531).

Công tác tiêm chủng mở rộng: Đã thực hiện tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trên 13.000 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm UV2+ cho 12.000 phụ nữ có thai.

Ngoài ra trong tháng 7/2018 tổ chức tuyên truyền về Ngày dân số Thế giới 11/7; tổ chức hoạt động nhân ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 01/7/2018.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tiếp tục được quan tâm chú trọng nên từ đầu năm đến nay không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh.

7.5. Tình hình an toàn giao thông

Ban An toàn giao thông tỉnh ban hành Văn bản số 11/BATGT ngày 22/6/2018 về việc kiểm tra lắp đặt bảng quảng cáo, biển hiệu trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ trên các tuyến đường thuộc tỉnh; ban hành và triển khai Kế hoạch số 113/KH-BATGT ngày 25/6/2018 về việc kiểm tra, xử lý vi phạm hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô; tham mưu UBND tỉnh tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông 6 tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm từ Quý III/2018; đôn đốc triển khai bước 2 Chương trình trao tặng Mũ bảo hiểm cho trẻ em năm 2018 với chủ đề “Giữ trọn ước mơ”.

 Công an tỉnh chỉ đạo Cảnh sát giao thông và các lực lượng Công an tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh vận tải, kiểm soát xe chở quá tải trọng và triển khai các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh.

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tính từ ngày 16/6/2018 đến ngày 15/7/2018 xảy ra 16 vụ, giảm 2 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 11 người, giảm 1 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 8 người, bằng cùng kỳ.

Số vụ tai nạn giao thông 7 tháng đầu năm 2018 là 129 vụ, tăng 10 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 80 người, giảm 13 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 88 người, tăng 22 người so với cùng kỳ.

  Đăng ký mới cho 348 ôtô và 3.662 môtô. Tổng số phương tiện đang quản lý: 52.631 xe ô tô; 948.969 xe môtô; 103 phương tiện đường thủy. Lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 4.768 trường hợp; tổng số tiền xử phạt là 4.013,8 triệu đồng; tước 191 giấy phép lái xe; tạm giữ 15 ô tô, 325 mô tô. Thông qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng Cảnh sát đường thủy toàn tỉnh kiểm tra, phát hiện, lập biên bản và ra quyết định xử phạt 01 trường hợp vi phạm, tạm giữ 01 tàu.

 7.6. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

 Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy, làm chết 5 người, thiệt hại ước tính 10.750 triệu đồng. Vi phạm môi trường 01 vụ, xỷ lý 01 vụ, số tiền xử phạt là 150 triệu đồng.

         Trong 7 tháng đầu năm 2018, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được giữ vững; đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ổn định và được cải thiện./.


Các tin khác

© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt