Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình Kinh tế - Xã hội ước tháng 3 và Quý 1 năm 2017

 1. Tăng trưởng GRDP quý I năm 2017

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn quý I năm 2017 theo giá so sánh 2010 đạt 8.133,9 tỷ đồng, tăng 8,49% so với cùng kỳ; tốc độ tăng trưởng quý I cao nhưng chỉ chiếm khoảng 17% so với cả năm, trong đó ngành nông nghiệp khoảng 10% cho nên tốc độ tăng trưởng của quý I cũng chưa quyết định đến tăng trưởng của cả năm:

- Khu vực I đạt 1.926 tỷ đồng, tăng 2,19%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; đây là mức tăng thấp nhất trong quý I của các năm trở về đây (quý I năm 2014 tăng 6,8%; quý I năm 2015 tăng 8%; quý I năm 2016 tăng 3,2%). Sau thời gian hơn 10 năm ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao cơ bản năng suất các loại cây trồng đã ổn định, diện tích canh tác không mở rộng; nhưng tình hình dịch bệnh trên cây trồng (đặc biệt bệnh bọ xít muỗi và bệnh thán thư trên cây điều đã làm sản lượng dự báo chỉ đạt 52% so với cùng kỳ); bệnh trên gia súc, gia cầm cũng đang có chiều hướng gia tăng, giá cả sản phẩm chăn nuôi giảm (riêng thịt heo hơi giảm trên 10%); hiện tượng được mùa mất giá xảy ra thường xuyên đã ảnh hưởng đến sản lượng và khả năng tái đàn của các cơ sở gặp khó khăn; nên tăng trưởng của ngành nông nghiệp các năm về sau càng chậm lại, trong khi cơ cấu chiếm trên 48% đã tác động chung đến tăng trưởng của nền kinh tế.

- Khu vực II đạt 1.813,8 tỷ đồng, tăng 9,04%, đóng góp 2,01 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; trong đó ngành công nghiệp đạt 1.301,2 tỷ đồng, chiếm 71,7% trong KVII, tăng 9%, với mức đóng góp 1,43% do tác động của sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,14% đã kéo tăng trưởng chung của ngành công nghiệp lên 9% là mức tăng tương đối cao so với quý I năm 2015 là 5,57%, quý I năm 2016 là 7,92%.

- Khu vực III đạt 4.013,4 tỷ đồng, tăng 11,19% so với cùng kỳ, đóng góp 5,39 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực III có mức tăng khá so với cùng kỳ là hoạt động bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 10,45%; hoạt động vận tải kho bãi tăng 15,73%; hoạt động thông tin truyền thông tăng cao 40,3%; hoạt động nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 34,46%.

- Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 380,7 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ, với mức đóng góp 0,54% trong mức tăng GRDP.

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn quý I năm 2017 theo giá hiện hành đạt 11.675,1 tỷ đồng, tăng 10,14% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực I đạt 3.031,3 tỷ đồng, tăng 4,25% so với cùng kỳ; khu vực II đạt 2.530,1 tỷ đồng, tăng 7,35%, tăng thấp hơn giá so sánh 2010 do ảnh hưởng của giá điện sản xuất quý I/2017 giảm 4,7% so với cùng kỳ; khu vực III đạt 5.567,4 tỷ đồng, tăng 14,63%; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 546,3 tỷ đồng, tăng 14,03% so với cùng kỳ.

Cơ cấu các ngành kinh tế quý I năm 2017: khu vực I là 27,24%, khu vực II là 22,73% và khu vực III từ 50,03%; khác với cơ cấu cả năm là KVI, KVIII, KVII. Lâm Đồng vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu của nền kinh tế công nghiệp; tỷ trọng khu vực I trong GRDP vẫn còn khá cao; trong khi đó, các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất “động lực” hay “huyết mạch” của nền kinh tế như tài chính, tín dụng còn chiếm tỷ trọng thấp. Nhiều loại hình kinh tế khuyến khích phát triển như doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhưng quy mô còn nhỏ; số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa ngày càng nhiều nhưng hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nhà nước sang ngoài nhà nước vẫn chưa cao; cần nhiều giải pháp thiết thực như đầu tư về vốn, dây chuyền sản xuất, xúc tiến thương mại để tăng giá trị sản phẩm góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

         2. Hoạt động tài chính, tín dụng

2.1. Hoạt động tài chính

          Trong quý I/2017 ngành Thuế phối hợp với các Sở, ban, ngành tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp về thu ngân sách nhà nước, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sau thông quan, hoàn thuế giá trị gia tăng, chống chuyển giá; hạn chế nợ đọng thuế, tích cực thu hồi nợ đóng thuế và có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp gian lận, trốn thuế. Thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính, phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để giảm bội chi ngân sách nhà nước, quản lý chặt việc ứng trước và chuyển nguồn chi thường xuyên các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải thực hiện theo dự toán.        

          Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 15/3/2017 đạt 939,2 tỷ đồng, bằng 16,2% so với dự toán, tăng 28,66% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 865,2 tỷ đồng, bằng 15,95% so với dự toán, tăng 30,08% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 139,3 tỷ đồng, tăng 90,37%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 20,8 tỷ đồng, tăng 74,74%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 17,6 triệu đồng, giảm 5,17%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 257,7 t đồng, tăng 13,91%; thuế thu nhập cá nhân đạt 89,4 tỷ đồng, tăng 59,45%; lệ phí trước bạ đạt 57,9 tỷ đồng, tăng 31,85%; thu phí, lệ phí đạt 21,3 tỷ đồng, tăng 21,88%; thu từ đất, nhà đạt 91,8 tỷ đồng, tăng 14,98%; thu xổ số kiến thiết đạt 75,2 tỷ, tăng 3,58% so với cùng kỳ. Thu thuế qua hải quan đạt 70,4 tỷ đồng, bằng 18,93% so với dự toán, tăng 102,25% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 15/3/2017 đạt 2.226,5 tỷ đồng, bằng 22,19% so với dự toán, giảm 15,66% so với cùng kỳ do trong 3 tháng đầu năm nay không tạm vay của ngân sách nhà nước. Trong đó, thu điều tiết đạt 828,4 tỷ đồng, tăng 8,9%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 1.216 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 15/3/2017 đạt 3.652,7 tỷ đồng, bằng 36,85% so với dự toán, tăng 1,56% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 578,5 tỷ đồng, tăng 22,74%; chi thường xuyên đạt 1.226,7 tỷ đồng, tăng 5,72%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục đào tạo đạt 565,2 tỷ đồng, tăng 4,4%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 74,4 tỷ đồng, giảm 9,53%; chi quản lý hành chính đạt 254,9 tỷ đồng, tăng 3,35% so với cùng kỳ.

2.2. Hoạt động tín dụng

          Trong quý I/2017 Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Lâm Đồng phối hợp với các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn để tạo nguồn cho vay phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện các giải pháp để ngăn chặn và xử lý nợ xấu, trong đó thực hiện đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý, thu nợ; tiếp tục cơ cấu lại nợ để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay phục vụ sản xuất - kinh doanh. Đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn đảm bảo an toàn, thông suốt của hệ thống máy rút tiền ATM; xây dựng và đăng ký kế hoạch cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2017.

          Ước đến 31/3/2017 vốn huy động đạt 41.000 tỷ đồng, tăng 25,79% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 33.200 tỷ đồng, chiếm 80,98% tổng vốn huy động, tăng 22,14%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 7.800 tỷ đồng, chiếm 19,02% tổng vốn huy động, tăng 44,1% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/3/2017 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 55.200 tỷ đồng, tăng 26,95% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 19.600 tỷ đồng, chiếm 35,51% tổng dư nợ, tăng 20,98%; dư nợ ngắn hạn 35.600 tỷ đồng, chiếm 64,49% tổng dư nợ, tăng 30,49% so với cùng kỳ.

         Ước đến 31/3/2017 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 350 tỷ đồng, chiếm 0,63% tổng dư nợ, tăng 0,57% so với cùng kỳ.

         3. Đầu tư và xây dựng

3.1. Đầu tư

Dự ước vốn đầu tư phát triển quý I/2017 đạt 3.141,4 tỷ đồng, tăng 7,55% so với cùng kỳ, chủ yếu thực hiện đầu tư vốn cho các công trình chuyển tiếp của năm 2016, trong đó:

Nguồn vốn nhà nước trên địa bàn đạt 620,2 tỷ đồng, chiếm 19,74% trong tổng vốn, tăng 8,94% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý đạt 159,4 tỷ đồng, tăng 196,17% so với cùng kỳ do từ quý IV/2016 đến nay Công ty thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi tập trung đầu tư mở rộng dự án thủy điện Đa Nhim; vốn do Địa phương quản lý đạt 460,8 tỷ đồng, giảm 10,61%, giảm chủ yếu vốn tín dụng đầu tư phát triển đạt 90,73% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước đạt 2.473,3 tỷ đồng, tăng 7,69% so với cùng kỳ, chiếm 78,74% trong tổng vốn. Trong đó, vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 488,6 tỷ đồng, tăng 11,56% và vốn đầu tư của các hộ gia đình đạt 1.984,7 tỷ đồng, tăng 6,78%, chủ yếu đầu tư trong xây dựng, sửa chữa nhà ở và sản xuất kinh doanh.

Vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 47,8 tỷ đồng, tương đương 2,1 triệu USD, bằng 87,25% so với cùng kỳ, chiếm 1,52% trong tổng vốn.

* Tiến độ thực hiện một số dự án/công trình từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh.

Dự án trường mầm non 8, đường Lương Thế Vinh, Huỳnh Tấn Phát, nâng cấp đường Ngô Quyền, Sương Nguyệt Ánh... (TP Đà Lạt). Tiếp tục thực hiện: đường Phan Đình Phùng, đường Nguyễn Công Trứ, trường THCS Lộc Nga, trường mẫu giáo ĐamBri...(TP Bảo Lộc); tiếp tục xây dựng trường mầm non Rô Men, hồ chứa nước Đạ Chao, trụ sở UBND xã Đạ Tông, … (huyện Đam Rông); đường Langbiang thị trấn Lạc Dương, đường Đạ Sar - Xã Lát …(huyện Lạc Dương); đường  Tân Hà - Đan Phượng, trường tiểu học Từ Liêm, hồ chứa nước Đạ Tô Tôn...(huyện Lâm Hà); công trình/ dự án mở rộng trung tâm y tế, xây dựng thêm phòng học trường THCS Lạc Xuân, các công trình thuộc chương trình nông thôn mới...(huyện Đơn Dương); công trình/ dự án sắp xếp dân di cư tự do xã Hòa Bắc - Hòa Nam, trường tiểu học  Kim Đồng, Đinh Trang Hòa 3, trường mẫu giáo Liên Đầm...(huyện Di Linh); Công trình/ dự án Đường nội thị thị trấn Lộc Thắng, nhà văn hóa thể thao huyện, chương trình nông thôn mới, các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn ...(huyện Bảo Lâm); công trình/ dự án nhà máy cấp nước huyện Cát Tiên, trạm bơm xã Quảng Ngãi, trường THCS Phù Mỹ, đường nội thị thị trấn Cát Tiên, đường giản dân xã Đồng Nai Thượng...(huyện Cát Tiên).

Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: từ đầu năm đến ngày 20/3/2017 có 02 dự án được cấp Quyết định chủ trương đầu tư tại khu công nghiệp, với tổng số vốn đăng ký 11,45 triệu USD. Đến nay 103 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn 492 triệu USD.

3.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2017 theo giá so sánh 2010 ước đạt 1.908 tỷ đồng, tăng 9,16% so với cùng kỳ, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước đạt 39,9 tỷ đồng, tăng 1,89%; doanh nghiệp ngoài nhà nước 556 tỷ đồng, tăng 2,49% và loại hình khác (xã, phường, hộ dân cư) 1.312,1 tỷ đồng, tăng 12,51% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, trong đó công trình nhà ở đạt 1.024,5 tỷ đồng, chiếm 53,69% trong tổng số và tăng 5,51%; công trình kỹ thuật dân dụng 525,5 tỷ đồng, chiếm 27,54% và tăng 8,95% so với cùng kỳ.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp

Trong quí I/2017 sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung công tác gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch cây trồng hàng năm vụ đông xuân, chăm sóc cây công nghiệp dài ngày và tập trung phòng chống khô hạn.

        *Gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân:

Tính từ đầu vụ đến ngày 10/3/2017 toàn tỉnh gieo trồng, xuống giống được 34.357,5 ha cây hàng năm các loại, tăng 1,5% so với cùng kỳ, cụ thể:

        - Cây lương thực có hạt thực hiện 11.636,7 ha, giảm 0,31% so với cùng kỳ. Trong đó:

        + Lúa gieo trồng 9.622,7 ha, chiếm 26,25% tổng diện tích gieo trồng trong vụ, đạt 102,05% kế hoạch, giảm 0,58% so với cùng kỳ, do ảnh hưởng thiếu nước mùa khô và hiệu quả kinh tế không cao một số địa phương chuyển diện tích lúa sang trồng rau màu. Tập trung ở Cát Tiên 4.039,5 ha, chiếm 41,98%, tăng 2,99%; Đạ Tẻh 1.297,5 ha, chiếm 13,48%, giảm 13,04%; Di Linh 1.000 ha, chiếm 10,39%, tăng 1%; Lâm Hà 980 ha, chiếm 10,38%, giảm 2%; Đức Trọng 840 ha, chiếm 8,73%, tăng 1,2%; Đơn Dương 500 ha, chiếm 5,19%, giảm 3,85% so với cùng kỳ.

         + Ngô gieo trồng 1.980,6 ha, đạt 47,49% kế hoạch, giảm 9,44% so với cùng kỳ, do một số diện tích chuyển đổi sang trồng dưa hấu, diện tích trồng xen trong cây lâu năm chủ yếu là cây cà phê hoặc trên đất lâm nghiệp thu hẹp. Tập trung ở Đạ Tẻh 976 ha, chiếm 49,31%, giảm 18,95%; Cát Tiên 523,7 ha, chiếm 26,44%, giảm 2,1%; Bảo Lâm 119,7 ha, chiếm 6,04%, tăng 0,2%; Lạc Dương 102 ha, chiếm 5,15%, tăng 13,3%; Đam Rông 83 ha, chiếm 4,19%, giảm 2,35%.

 - Cây khoai lang gieo trồng 334,6 ha, tăng 35,23% so với cùng kỳ.

- Rau các loại gieo trồng 16.780 ha, đạt 83,74% kế hoạch, tăng 0,73% so với cùng kỳ, thu hoạch rau ở vụ trước kịp thời, công tác chuẩn bị đất gieo trồng vụ đông xuân chủ động, một số vùng thuộc huyện Đơn Dương và Đức Trọng chuyển đổi một số diện tích ở cây trồng khác kém hiệu quả sang trồng rau. Tập trung ở Đơn Dương 7.852 ha, chiếm 41,88%, tăng 0,95%; Đức Trọng 5.650 ha, chiếm 30,14%, tăng 23,74%; Đà Lạt 2.865 ha, chiếm 15,28%, giảm 0,3%; Lạc Dương 1.090 ha, chiếm 5,8%, tăng 8,35% so với cùng kỳ. Hiện nay cây rau các loại tại Lâm Đồng do giá xuống thấp, riêng vùng Đơn Dương không tiêu thụ được, nhiều hộ phá bỏ, do một số thương lái nhập lậu rau các loại của Trung Quốc.

- Diện tích hoa các loại gieo trồng 2.581 ha, đạt 88,55% kế hoạch, tăng 6,94% so với cùng kỳ. Chủ yếu ở Đà Lạt 1.615 ha, chiếm 62,57%, giảm 0,25%; Đức Trọng 450 ha, chiếm 17,44%, giảm 7,22%; Lạc Dương 240 ha, chiếm 9,3%, tăng 17,07%; Đơn Dương 205 ha, chiếm 7,94%, giảm 44,59%.

- Cây hàng năm khác 2.790 ha; trong đó, cỏ làm thức ăn gia súc 2.484 ha, chiếm 89,03%, tăng 10,4% so với cùng kỳ, tập trung ở Đơn Dương 1.135 ha; Đức trọng 409 ha; Đạ Tẻh 227 ha; Cát Tiên 310 ha; Đạ Huoai 147,1 ha do nhiều hộ, đơn vị mở rộng chăn nuôi bò sữa.

Tiến độ gieo trồng vụ đông xuân đến ngày 10/3/2017

 

Kế hoạch 2017

Thực hiện

cùng kỳ năm trước

Thực hiện

kỳ báo cáo

% so sánh

 

Kế hoạch

Cùng kỳ

Tổng diện tích gieo trồng (ha)

 

33.848,7

34.357,5

 

101,50

Trong đó:

 

 

 

 

 

   - Lúa

    9.429,2

9.679,2

9.622,7

102,05

99,42

   - Ngô

    4.170,8

2.187,2

1.980,6

47,49

90,56

   - Khoai lang

       262,9

247,4

334,6

127,27

135,23

   - Rau các loại

  20.038,9

16.658,5

16.780,0

83,74

100,73

   - Hoa các loại

    2.914,9

2.413,5

2.581,0

88,55

106,94

        * Thu hoạch vụ đông xuân: Tính đến ngày 10/3/2017 toàn tỉnh thu hoạch được 12.899 ha cây hàng năm các loại, đạt 37,54% diện tích gieo trồng, tăng 3,18% so với cùng kỳ, do thời tiết đầu vụ thuận lợi cho gieo trồng và phát triển của một số loại cây trồng.

- Lúa thu hoạch 3.362 ha, đạt 34,94% diện tích gieo trồng, tăng 2,91% so với cùng kỳ, chủ yếu ở Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, năng suất ước đạt 58,7 tạ/ha.

- Ngô thu hoạch 726,4 ha, đạt 36,68% diện tích gieo trồng, giảm 5,91% so với cùng kỳ.

- Rau các loại thu hoạch 6.668,5 ha, đạt 39,74% diện tích gieo trồng, tăng 1,66% so với cùng kỳ.

- Đậu các loại thu hoạch 133 ha, đạt 40,74% diện tích gieo trồng.

- Hoa các loại thu hoạch 1.452,6 ha, đạt 56,28% diện tích gieo trồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ.

Cây lâu năm: hiện các địa phương đang tiếp tục đầu tư chăm sóc, tỉa cành, tưới nước chống hạn, phòng trừ sâu bệnh, giữ cho cây trồng phát triển tốt đảm bảo năng suất (cà phê, chè,…); chăm sóc vườn ươm cây con, thu hoạch điều. Riêng cây điều năm nay bị bọ xít muỗi, bệnh thán thư ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng. Trong thời kỳ cao điểm của mùa khô nhưng nguồn nước tưới từ các các ao, hồ, sông, suối vẫn còn đáp ứng cho tưới tiêu. Đến nay diện tích cà phê được tưới nước lần 2 đạt trên 80% và chuẩn bị tưới cho lần 3.

* Công tác đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi: tiếp tục thực hiện Đề án hỗ trợ đào ao, hồ nhỏ phát triển thêm là 942 cái với vốn nhà nước hỗ trợ khoảng 31,2 tỷ đồng. Cùng với nguồn vốn huy động từ người dân khoảng 24 tỷ đồng dự kiến tưới nước cho khoảng 2.000 ha đất canh tác trong năm 2017. Xây dựng và đẩy mạnh thực hiện kế hoạch chống hạn sắp tới. Từ nguồn vốn đầu tư trung hạn sẽ đầu tư chuyển tiếp 25 công trình.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng tháng 03/2017 (từ ngày 10/02/2017 -10/3/2017)

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng trong tháng như sau:

- Trên cây lúa: Có 1.566 ha bị nhiễm rầy nâu tại Đạ Tẻh, Cát Tiên; bệnh đạo ôn lá nhiễm 450 ha tại Đức Trọng, Đạ Huoai, Đạ Tẻh; bệnh khô vằn nhiễm 215 ha tại Đạ Tẻh.

- Trên cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại nhiễm 622 ha; bệnh mốc sương nhiễm 249,5 ha; sâu xanh gây hại 140 ha.

- Trên cây rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ nhiễm 281,9 ha (12 ha nhiễm nặng).

- Trên cây cà phê: Sâu đục thân gây hại 750 ha tại Đà Lạt; bọ xít muỗi gây hại 4.742,5 ha (nhiễm nặng 3.516,6 ha); mọt đục cành 12.879,1 ha; bệnh rỉ sắt nhiễm 8.249 ha.

- Trên cây chè: Bọ cánh tơ gây hại 1.990 ha; bọ xít muỗi gây hại 2.770 ha.

- Trên cây điều: Bọ xít muỗi và bệnh thán thư tiếp tục gây hại mạnh tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên (bọ xít muỗi có 16.709 ha nhiễm nặng, 9.243 ha nhiễm trung bình; bệnh thán thư 17.021 ha nhiễm nặng, 8.692 ha nhiễm trung bình).

Các ngành chức năng đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai phòng trừ cộng đồng dịch bệnh bọ xít muỗi, bệnh thán thư trên 3.184,6 ha cà phê. Hiện nay đã xử lý 1.558 ha, còn lại 1.626,6 ha sẽ tiếp tục triển khai sau khi cà phê thụ phấn xong.

Tình hình chăn nuôi

Đến thời điểm 20/3/2017 tổng đàn trâu ước đạt 15.932 con, tăng 0,42%; đàn bò 94.591 con, tăng 10,6%. Trong đó, đàn bò sữa ước đạt 19.235 con, tăng 9,32% so với cùng kỳ.

 Tổng đàn lợn đạt 439.306 con, tăng 15,48% so với cùng kỳ. Hiện nay, giá lợn hơi trên địa bàn tỉnh dao động từ 28.500/kg – 30.000đ/kg giảm nhiều so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm đạt 5.261,9 nghìn con, tăng 8,01%. Trong đó, tổng đàn gà ước đạt 3.172 nghìn con, tăng 9,56% so với cùng kỳ.

        Tình hình dịch bệnh:Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin diễn biến tình hình dịch bệnh, giám sát chặt chẽ các hộ gia đình, trang trại có chăn nuôi gia súc, gia cầm để có giải pháp xử lý kịp thời. Đã kiểm dịch xuất tỉnh 84 con trâu, bò; 21.256 con heo; 905.626 con gia cầm; 6,67 triệu trứng gia cầm; 967 ngàn trứng cút; 3.803 tấn sữa tươi. Kiểm dịch nhập tỉnh 160 con trâu, bò; 4.251 con heo; 11,27 ngàn con gia cầm; 439 xe phân gia súc, gia cầm.

4.2.Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Hiện các địa phương, đơn vị hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất lâm nghiệp năm 2017. Chuẩn bị cây giống cho công tác trồng rừng mới, rừng tập trung 2.783 ha và 143,4 nghìn cây phân tán; thực hiện công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng là 418.873,5 ha. Tính hết tháng 03 đã rà soát, thẩm định kiểm tra ký kết chuyển giao hợp đồng giao khoán thực hiện được 395.709 ha, đạt 94,6% kế hoạch, tăng 10,21% so với cùng kỳ.

Khai thác lâm sản:

Ước tính trong tháng 03/2017 sản lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế trong tỉnh 2.300 m3, giảm 74,59%; củi thước 10.000 ster, giảm 48,72% so với cùng kỳ. Ước quí I/2017 sản lượng gỗ tròn khai thác 8.750 m3 , đạt 34,02%; củi thước 30,3 ngàn ster, giảm 47,84%; lồ ô các loại 167 ngàn cây, giảm 75,62%; song mây 6 nghìn sợi, giảm 72,73% so với cùng kỳ. Chủ trương của Chính phủ đóng cửa rừng tự nhiên hạn chế xâm hại đến tài nguyên rừng trong việc bảo tồn nhằm đa dạng hệ sinh thái rừng, bên cạnh đó nhiều hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng có nhận thức trong việc phát triển tài nguyên rừng.

Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng:

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 335 doanh nghiệp/401 dự án quản lý bảo vệ rừng đang đầu tư triển khai dự án với tổng diện tích là 57.322 ha. Trong thời gian qua đã thu hồi 175 dự án/25.650 ha (gồm 140 dự án thu hồi toàn bộ/22.889 ha và 35 dự án thu hồi một phần/2.761 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn.

Thời tiết trên địa bàn đang mùa khô hanh, nắng ráo nguy cơ cháy rừng dễ xảy ra, công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng xác định là nhiệm vụ trọng tâm, được các cấp, ban ngành chức năng quan tâm chỉ đạo. Ngoài công tác phòng cháy, chữa cháy, các đơn vị chủ rừng tuân thủ quy trình kỹ thuật xử lý thực bì, phát dọn cỏ bụi, đốt trước có điều khiển, xây dựng đường băng cản lửa … làm giảm vật liệu cháy ở rừng thông, cảnh quan ước tính trên 150 nghìn ha. Từ đầu năm đến nay đã xảy ra 04 vụ cháy (03 vụ cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán rừng, diện tích 3,95 ha, không thiệt hại về rừng và 01 vụ cháy rừng trồng thông ba lá năm thứ 4), diện tích rừng bị cháy khoảng 12,96 ha, mức độ thiệt hại tài nguyên rừng khoảng 70%.

Tình hình vi phạm lâm luật:

Tính từ 20/02/2017 đến 20/3/2017 các ngành chức năng đã phát hiện, lập biên bản 99 vụ vi phạm lâm luật, chủ yếu ở hành vi phá rừng trái phép 17 vụ, giảm 29,17%; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 35 vụ, tăng 52,17%; mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 41 vụ, giảm 10,87%. Lũy kế từ đầu năm đến 20/3/2017 đã phát hiện, lập biên bản 272 vụ vi phạm, trong đó; vi phạm hành vi phá rừng trái phép 61 vụ, giảm 16,44%, diện tích rừng bị phá 13,9 ha; vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản 79 vụ, giảm 9,2%; vi phạm quy định về quản lý lâm sản 121 vụ, giảm 18,24%. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý là 211 vụ; trong đó, xử lý hành chính 204 vụ, chuyển xử lý hình sự 7 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm gồm 77 phương tiện, dụng cụ các loại; 349,1 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách 1,5 tỷ đồng. Lực lượng chức năng giải tỏa được 13,69 ha diện tích đất rừng bị phá, lấn chiếm trái phép.

5. Sản xuất công nghiệp

Dự tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tháng 3 năm 2017 tăng 7,25% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,11%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 15,31% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,95%. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 18,41% so với cùng kỳ.

 Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I các năm

 

Năm 2015 so với cùng kỳ (%)

Năm 2016 so với cùng kỳ (%)

Năm 2017 so với cùng kỳ (%)

Toàn ngành công nghiệp

114,32

108,24

106,80

1.      Khai khoáng

127,17

87,11

87,03

2.      Chế biến, chế tạo

118,99

113,36

104,77

3.      Sản xuất, phân phối điện

104,30

102,71

115,14

4.      Cung cấp nước; hoạt động  quản lý và xử lý rác thải, nước thải

104,8

111,16

105,77

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I năm 2017 tăng 6,8% so với cùng kỳ. Cụ thể:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 12,97% so với cùng kỳ. Trong đó, cao lanh đạt 62,77 ngàn tấn, tăng 14,83%;  đá xây dựng 216,02 ngàn m3, giảm 25,82%; cát tự nhiên các loại đạt 64,48 ngàn m3, giảm 19,81% so với cùng kỳ. Nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp khai khoáng hạn chế do thực hiện chính sách nhằm bảo vệ môi trường tài nguyên.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,77% (trong đó, ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 15,77%; ngành sản xuất kim loại tăng 8,11%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,56%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 1,4%). Một số sản phẩm chủ yếu: quả và hạt ướp lạnh đạt 1,24 ngàn tấn, tăng 36,24%; alumin 139,14 ngàn tấn, tăng 11,42%; rau ướp lạnh 1,25 ngàn tấn, giảm 15,26%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng 9,86 ngàn lít, giảm 13,45%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 621,5 ngàn m2, giảm 7,91%; chè nguyên chất 12,28 ngàn tấn, giảm 0,23% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí tăng 15,14% so với cùng kỳ. Trong đó, điện sản xuất đạt 585,7 triệu kwh, tăng 67,82% (năm 2017 sản lượng điện có thêm thủy điện Krông Nô 2 và 3); điện thương phẩm đạt hơn 263,2 triệu kwh, tăng 2,86%.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,77%.  Trong đó, sản lượng nước ghi thu đạt 4.826,3 ngàn m3, tăng 5,53%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế 22,51 ngàn tấn, tăng 5,95% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 2 năm 2017 tăng  44,69% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 152,87%; sản xuất trang phục tăng 142,29%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 29,79%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 15,43%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 10,79%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 29,04%; ngành dệt giảm 15,75% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến cuối tháng 02/2017 tăng 14,9% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất trang phục tăng 105,82%; sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 48,34%; dệt tăng 4,43%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 61%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 37,5%; chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 22,36%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 19,85%.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp 3 tháng năm 2017 giảm  3,15% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: ngành khai khoáng giảm 0,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,06%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 1,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,06%. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước tăng 1,23%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 10,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,51% so với cùng kỳ.

6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Đăng ký kinh doanh: từ đầu năm đến 23/3/2017 đã cấp đăng ký kinh doanh cho 241 đơn vị với tổng vốn đăng ký 1.067,7 tỷ đồng, tăng 17% về số doanh nghiệp và giảm 31,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ. Số đơn vị trực thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) đăng ký hoạt động là 83 đơn vị, tăng 38,3% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp đăng ký thay đổi 138 doanh nghiệp và 64 đơn vị trực thuộc, giảm 10,2% so với cùng kỳ. Đăng ký tạm ngừng hoạt động 134 doanh nghiệp và 68 đơn vị trực thuộc, tăng 61,6% so với cùng kỳ. Giải thể 29 doanh nghiệp và 21 đơn vị trực thuộc, tăng 66,7% so với cùng kỳ.

Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước: từ đầu năm đến thời điểm 23/3/2017 có 07 dự án được UBND tỉnh cấp Quyết định chủ trương đầu tư và 01 dự án cấp Giấy chứng nhận đầu tư (không thuộc diện Quyết định chủ trương đầu tư) với số vốn đăng ký đầu tư 266 tỷ đồng, quy mô diện tích 16,59 ha; điều chỉnh 18 Giấy chứng nhận đầu tư; 02 dự án bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư.

Xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp:

Xu hướng quý I năm 2017 so với quý IV năm 2016 các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn thông qua các chỉ tiêu: khối lượng sản xuất: có 25% doanh nghiệp trả lời tăng, 33,33% doanh nghiệp trả lời giảm (chỉ số cân bằng (CSCB): -8,33%); số lượng đơn đặt hàng mới: có 25,53% doanh nghiệp trả lời tăng, 23,4% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: 2,13%); số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới: có 20% doanh nghiệp trả lời tăng, 25% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: -5%); số lượng lao động bình quân: có 14,58% doanh nghiệp trả lời tăng, 16,67% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: -2,08%).

Xu hướng kinh doanh trong quý II/2017 so với quý I/2017, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh có những bước chuyển biến tích cực thông qua các chỉ tiêu: khối lượng sản xuất: có 64,58% doanh nghiệp trả lời tăng, 14,58% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: 50%); số lượng đơn đặt hàng mới: có 58,33% doanh nghiệp trả lời tăng, 10,42% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: 47,92%); số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới: có 42,11% doanh nghiệp trả lời tăng, 21,05% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: 21,05%); số lượng lao động bình quân: có 29,17% doanh nghiệp trả lời tăng, 10,42% doanh nghiệp trả lời giảm (CSCB: 18,75%).

7. Thương mại, dịch vụ và giá cả

         7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

         Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2017 đạt 3.079,1 tỷ đồng, tăng 10,66% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 253,1 tỷ đồng, tăng 19,43%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.791,7 tỷ đồng, tăng 10,22% (kinh tế tư nhân đạt 766,3 tỷ đồng, tăng 14,21%; kinh tế cá thể đạt 2.025 tỷ đồng, tăng 8,77%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,3 tỷ đồng, giảm 9,07% so với cùng kỳ. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 3 tháng 2017 đạt 9.723,4 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ và bằng 24,31% kế hoạch. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 806,9 tỷ đồng, tăng 18,1%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 8.786,8 tỷ đồng, tăng 9,15% (kinh tế tư nhân đạt 2.435,6 tỷ đồng, tăng 21,19%; kinh tế cá thể đạt 6.349,9 tỷ đồng, tăng 5,14%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 129,7 tỷ đồng, giảm 7,05% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2017 ước đạt 2.290,1 tỷ đồng, tăng 11,07% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 119,9 tỷ đồng, tăng 40,49%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.138,6 tỷ đồng, tăng 9,75%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,6 tỷ đồng, tăng 13,17% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.076,5 tỷ đồng, tăng 15,24%; nhóm xăng, dầu các loại đạt 261,2 tỷ đồng, tăng 22,15%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 165,5 tỷ đồng, tăng 38,76%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 3 tháng 2017 đạt 7.238,9 tỷ đồng, tăng 9,74% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 350,1 tỷ đồng, tăng 31,51%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 6.769,7 tỷ đồng, tăng 8,82%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 119,1 tỷ đồng, tăng 9,37% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 3.395,8 tỷ đồng, tăng 16,04%; nhóm xăng, dầu các loại đạt 736,8 tỷ đồng, tăng 18,02%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 598,2 tỷ đồng, tăng 31,86%.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 3/2017 ước đạt 323,5 tỷ đồng, tăng 17,56%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 205,3 tỷ đồng, tăng 32,93%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 52,4 tỷ đồng, giảm 6,29% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) 03 tháng 2017 đạt 1.045,7 tỷ đồng, tăng 15,07%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 681,9 tỷ đồng, tăng 35,33%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 160 tỷ đồng, giảm 14,68% so với cùng kỳ.

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 3/2017 ước đạt 463,5 tỷ đồng, tăng 4,49% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 50,4 tỷ đồng, tăng 6,56%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 413,1 tỷ đồng, tăng 4,24% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách phục vụ đạt 223,8 nghìn lượt khách, tăng 0,74% so với cùng kỳ; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 222,4 nghìn lượt khách, tăng 0,79% (khách trong nước đạt 195,3 nghìn lượt khách, tăng 0,48%; khách quốc tế đạt 27,1 nghìn lượt khách, tăng 3,1%). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 3 tháng 2017 đạt 1.433,3 tỷ đồng, tăng 5,18% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 180 tỷ đồng, tăng 2,25%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.253,3 tỷ đồng, tăng 5,61% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách phục vụ đạt 815,4 nghìn lượt khách, tăng 7,11% so với cùng kỳ; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 811,3 nghìn lượt khách, tăng 7,82% (khách trong nước đạt 708,5 nghìn lượt khách, tăng 5,24%; khách quốc tế đạt 102,8 nghìn lượt khách, tăng 29,73%).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 3/2017 ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 6,19% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 1.099 lượt khách, tăng 16,05%. Dự ước doanh thu du lịch lữ hành 3 tháng 2017 đạt 5,5 tỷ đồng, tăng 6,25% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 3.568 lượt khách, tăng 11,22%.

                   7.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

         7.2.1. Xuất khẩu hàng hóa

                   Kim ngạch xuất khẩu quý I năm 2017 đạt 127,2 triệu USD, bằng 23,13% so kế hoạch, tăng 35% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 49 triệu USD, chiếm 38,55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu; kinh tế tư nhân đạt 29,2 triệu USD, chiếm 22,92% và tăng 8,42%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 49 triệu USD, chiếm 38,53% và tăng 28,27% so với cùng kỳ. Các mặt hàng như: Alumin đạt 136,5 nghìn tấn, trị giá 43,2 triệu USD, tăng 8,33% về lượng và tăng 58,23% về giá trị; hàng rau quả đạt 2.086,7 tấn, trị giá 4,8 triệu USD, tăng 11,6% về lượng và tăng 8,09% về giá trị; hạt điều đạt 232 tấn, trị giá 2,1 triệu USD, giảm 29% về lượng và giảm 15,46% về giá trị; cà phê đạt 23.241,7 tấn, trị giá 50,8 triệu USD, tăng 33,26% về lượng và tăng 67,76% về giá trị; chè chế biến đạt 2.756,3 tấn, trị giá 5,9 triệu USD, tăng 2,74% về lượng và tăng 1,82% về giá trị; sản phẩm bằng plastic đạt 760 nghìn USD, giảm 22,18%; hàng dệt may đạt 2,8 triệu USD, giảm 28,26%; hàng hóa khác đạt 13,1 triệu USD, giảm 17,49% so với cùng kỳ.

         7.2.2. Nhập khẩu hàng hóa  

                   Kim ngạch nhập khẩu quý I năm 2017 đạt 32 triệu USD, bằng 35,57% so kế hoạch, tăng 123,92% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 24,1 triệu USD, chiếm 75,39% trong tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 249,12%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,9 triệu USD, chiếm 24,6% và tăng 10,06% so với cùng kỳ. Các sản phẩm nhập khẩu như: phân bón đạt 421,5 tấn, trị giá 176 nghìn USD, giảm 49,33% về lượng và giảm 44,18% về giá trị; sản phẩm tơ sợi dệt đạt 92,2 tấn, trị giá 2,6 triệu USD, tăng 79,73% về lượng và tăng 63,97% về giá trị; vải may mặc đạt 690 nghìn USD, giảm 32,64%; phụ liệu hàng may mặc đạt 154 nghìn USD, tăng 69,97%; sắt thép các loại đạt 40 nghìn tấn, trị giá 16,9 triệu USD, tăng 298,76% về lượng và tăng 523,34% về giá trị; hàng hóa khác đạt 5,5 triệu USD, giảm 23,14% so với cùng kỳ.

         7.3. Vận tải, bưu chính viễn thông

         - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 3/2017 đạt 409,7 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 269,7 tỷ đồng, tăng 15,77%; doanh thu vận tải hàng không đạt 118,8 tỷ đồng, tăng 3,84%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 21,1 tỷ đồng, tăng 31,72% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 3 tháng 2017 đạt 1.289,3 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 820,3 tỷ đồng, tăng 11,7%; doanh thu vận tải hàng không đạt 402,8 tỷ đồng, tăng 22,96%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 66,2 tỷ đồng, tăng 37,75% so với cùng kỳ.

 - Vận tải hành khách tháng 3/2017 ước đạt 2.825,2 nghìn hành khách, tăng 13,2% và luân chuyển đạt 396,7 triệu hành khách.km, tăng 19,04% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.766,3 nghìn hành khách, tăng 13,42% và luân chuyển đạt 365,7 triệu hành khách.km, tăng 20,12%; vận tải hành khách hàng không đạt 53,5 nghìn hành khách, tăng 5,16% và luân chuyển đạt 31 triệu hành khách.km, tăng 7,66%. Dự ước vận tải hành khách 3 tháng 2017 đạt 9.779,6 nghìn hành khách, tăng 8,89% và đạt 29,55% kế hoạch; luân chuyển đạt 1.249,1 triệu hành khách.km, tăng 16,81% so với cùng kỳ và đạt 43,07% kế hoạch; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 9.585,1 nghìn hành khách, tăng 8,71% và luân chuyển đạt 1.142,4 triệu hành khách.km, tăng 15,76%; vận tải hành khách hàng không đạt 178,7 nghìn hành khách, tăng 22,05% và luân chuyển đạt 106,7 triệu hành khách.km, tăng 29,3%.

- Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ tháng 3/2017 ước đạt 761,8 nghìn tấn, tăng 16,59% và luân chuyển đạt 112,5 triệu tấn.km, tăng 22,81% so với cùng kỳ. Dự ước khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ 3 tháng 2017 đạt 2.450,5 nghìn tấn, tăng 10,93% và đạt 31,02% kế hoạch; luân chuyển đạt 375,7 triệu tấn.km, tăng 20,02% so với cùng kỳ và đạt 39,97% kế hoạch.

- Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 3/2017 ước đạt 151,6 tỷ đồng, tăng 33,32% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 13.512 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 11.412 thuê bao, thuê bao cố định đạt 2.100 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 3.500 thuê bao, bằng 65,13% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông 3 tháng 2017 đạt 479,6 tỷ đồng, tăng 42,33% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 73.151 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 66.706 thuê bao, thuê bao cố định đạt 6.445 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 11.638 thuê bao, giảm 6,73% so với cùng kỳ.

          7.4. Giá cả thị trường

         7.4.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

            Trong các tháng đầu năm 2017 hàng hóa trên thị trường phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng. Trong dịp Tết giá cả hàng hóa không có biến động tăng cao, các mặt hàng thiết yếu giữ ổn định, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá. Sau Tết cung cầu hàng hóa, dịch vụ trong nước tiếp tục được giữ vững, nhu cầu tiêu dùng đối với nhiều mặt hàng sau Tết đã trở lại bình thường, chương trình bình ổn thị trường tiếp tục thực hiện đã góp phần bình ổn giá cả; các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khâu lưu thông, vận chuyển hàng hóa, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. CPI tháng 03/2017 giảm 0,77% so với tháng 02/2017, tăng 3,29% so với cùng kỳ. Cụ thể: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,68%; nhóm giao thông tăng 0,44%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,24%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04% so với tháng trước. Bên cạnh đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,37%, trong đó nhóm lương thực tăng 0,04%, nhóm thực phẩm giảm 2,67%, nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 3,42%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,09%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch ổn định so với tháng trước. Bình quân 3 tháng năm 2017, CPI tăng 3,84% so với bình quân cùng kỳ. 

7.4.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh ngày 23/3/2017 được bán ra bình quân 3,4 triệu đồng/chỉ, giảm 0,56% so với tháng trước tăng 6,79% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 3/2017 dao động ở mức 22.708 đồng/USD. Chỉ số giá USD tháng 3/2017 tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ.

         7.4.3. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2017 tăng 2,57% so với quý trước. Trong đó: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp tăng 2,62%; cụ thể: cây hàng năm giảm 0,1%, một số mặt hàng chủ yếu là thóc tăng 1,33%; ngô và cây lương thực có hạt khác tăng 12,67%; củ có chất bột giảm 5,1%; rau, đậu, hoa, cây cảnh giảm 0,81% so với quý trước. Cây lâu năm tăng 8,22% so với quý trước, một số mặt hàng chủ yếu hạt điều tăng 8,58%; hồ tiêu giảm 6,57%; cà phê tăng 10,19%; chè giảm 4,05%; sản phẩm chăn nuôi giảm 6,7% so với quý trước, trong đó trâu, bò tăng 1,03%, gia cầm giảm 1,79%. Sản phẩm lâm nghiệp tăng 0,47% so với quý trước; trong đó, sản phẩm lâm sản khai thác tăng 0,36%; sản phẩm lâm sản thu nhặt tăng 3,64%. Sản phẩm thủy sản tăng 0,71% so với quý trước.

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý I năm 2017 tăng 3,7% so với quý trước; trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 1,82%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,33%; điện và phân phối điện tăng 16,26%; nước sạch và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,5% so với quý trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm 2017 tăng 2,69% so với quý trước và tăng 8,06% so với cùng kỳ; trong đó, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,52% so với quý trước và tăng 11,94% so với cùng kỳ; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,01% so với quý trước và tăng 6,36% so với cùng kỳ; sử dụng cho xây dựng tăng 0,54% so với quý trước và tăng 3,52% so với cùng kỳ. 

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I năm 2017 tăng 2,75% so với quý trước. Trong đó, Giá cước vận tải hành khách tăng 2,91%; vận tải hàng hóa tăng 3,04%; dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 0,06% so với quý trước. Chia theo ngành đường thì dịch vụ vận tải đường bộ tăng 3,04%; trong đó, dịch vụ vận tải hành khách đường bộ trong nội, ngoại thành tăng 1,71%; dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường bộ tăng 3,04% so với quý trước.

Chỉ số giá dịch vụ quý I năm 2017 tăng 0,83% so với quý trước; trong đó hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 0,74%; hoạt động hành chính và hỗ trợ tăng 0,53%; hoạt động nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 0,45%; hoạt động thông tin truyền thông ; hoạt động kinh doanh bất động sản; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ; hoạt động giáo dục và đào tạo; hoạt động y tế và trợ giúp xã hội; hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình ổn định so với quý trước. 

                   8. Các vấn đề xã hội

8.1. Thực trạng đời sống dân cư và tình hình xây dựng nông thôn mới  

Đời sống dân cư: Tình hình sản xuất, thu hoạch và thu nhập của hộ dân cư nông thôn từ trồng trọt, chăn nuôi và các ngành nghề khác có chuyển biến khá tốt, thời tiết khí hậu cũng tương đối thuận lợi, thiệt hại thiên tai không xảy ra, chi phí đầu tư cho sản xuất có giảm, giá sản phẩm hàng hóa bán ra ổn định, khuyến khích các hộ dân cư tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất cả về quy mô và đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trên cây trồng và gia súc gia cầm đang xảy ra cũng phần nào ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ trong quý I/2017. Lâm Đồng tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, góp phần tăng hộ nông dân làm giàu; việc tổ chức sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao đã đem lại giá trị sản xuất cao hơn nhiều so với canh tác truyền thống, cụ thể: sản xuất rau cao cấp đạt bình quân trên 400 triệu đồng/ha/năm cao gấp 2 lần so với bình quân chung, trên cây hoa cao cấp đạt bình quân 800 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp 1,6 lần so với bình quân chung; chè chất lượng cao đạt từ 200-250 triệu đồng/ha.

Tình hình xây dựng nông thôn mới : Qua các chương trình nông thôn mới đã tạo ra phong trào thi đua làm giàu của nhiều hộ gia đình, hộ nghèo và cận nghèo đã giảm khá nhanh. Trên địa bàn tỉnh hình thành những vùng chuyên canh rau được đầu tư kỹ thuật, mô hình công nghệ cao, đảm bảo nguồn nước, giảm thiểu sâu bệnh. Tổng diện tích ứng dụng công nghệ cao 43.810 ha, chiếm 16,5% diện tích đất canh tác. Trong đó, rau 13.023 ha, cây hoa 2.782 ha, chè 5.854 ha; cà phê 18.341 ha; lúa 3.705 ha. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đạt 32% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; năng suất giá trị sản phẩm cây trồng, vật  tăng 25 - 30%, giúp tăng lợi nhuận cho người sản xuất đạt trên 30% so với doanh thu. Qua kết quả sản xuất kinh doanh, phát triển chương trình này đã góp phần vào tăng thu nhập và làm giàu cho rất nhiều hộ gia đình trong tỉnh.

8.2. Thực trạng đời sống cán bộ, công nhân, viên chức

Trong quý I/2017, đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao dộng hưởng lương có cuộc sống ổn định, trong dịp lễ tết vừa qua cũng được hưởng tăng thêm bình quân mỗi người từ 01 đến 12 triệu đồng; đời sống cán bộ công chức, viên chức khu vực nhà nước vẫn ổn định. Ước thu nhập bình quân đầu người khu vực nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn đạt 6.600 nghìn đồng/người/tháng, cao hơn khu vực địa phương quản lý 1,4 lần (thu nhập bình quân khu vực địa phương: 4.700 nghìn đồng/người/tháng). Đối với các đơn vị Trung ương quản lý thu nhập bình quân đầu người 1 tháng cao nhất đạt 9.500 nghìn đồng, đối với các đơn vị địa phương quản lý có ngành xây dựng thu nhập bình quân đầu người 1 tháng cao nhất đạt 6.800 nghìn đồng.

8.3. Công tác xóa đói, giảm nghèo và tình hình thăm hỏi, hỗ trợ, tặng quà Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017

Trong dịp tết Đinh Dậu 2017, các đối tượng gồm người có công, đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, cận nghèo được tặng quà và trợ cấp tết bằng tiền mặt và hiện vật, trị giá tổng số tiền là 32,8 tỷ đồng, trong đó chi hỗ trợ cho 115.397 đối tượng, tương ứng với 115.397 suất quà được nhận (kể cả tiền và hiện vật quy tiền). Trong tổng số tiền (32,8 tỷ đồng) chi hỗ trợ được lấy từ các nguồn cụ thể như sau: (1) Nguồn ngân sách Trung ương (quà của Chủ tịch nước) là 1,9 tỷ đồng; (2) Nguồn ngân sách tỉnh: 30,1 tỷ đồng. Các khoản hỗ trợ thăm hỏi và tặng quà cho các đối tượng trong dịp tết Đinh Dậu 2017 hoàn thành trước ngày 24/01/2017.

8.4. Tình hình thất nghiệp, giải quyết việc làm

Dự ước tỷ lệ lao động thất nghiệp thời điểm 31/3/2017 là 0,76%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ (khu vực thành thị là 1,26%, khu vực nông thôn là 0,46%); tỷ lệ thiếu việc làm là 2,23%, giảm 3,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ (khu vực thành thị là 1,51%, khu vực nông thôn là 2,66%), điều này đã nói lên sự nỗ lực trong công tác giải quyết việc làm tại chỗ của tỉnh, tình hình thất nghiệp của khu vực đã giảm so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh; các chính sách của nhà nước mang lại hiệu quả.

  8.5. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền    

 Trong quí I/2017, hoạt động văn hóa, tuyên truyền trên địa bàn tỉnh tập trung công tác thông tin tuyên truyền mừng sinh nhật lần thứ 87 Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua hình thức treo băng rôn, pa nô, cờ phướn với chủ đề “Mừng Đất nước đổi mới, Mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Đinh Dậu 2017”. Các đội chiếu phim lưu động tăng cường số buổi chiếu phim Việt Nam, phim tuyên truyền về Bác Hồ, về Đảng, phim điện ảnh đề tài quê hương, đất nước, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng Tổ quốc; phim truyện, phim tài liệu, phim thiếu nhi. Đã tổ chức trên 50 buổi chiếu phim, tăng cường phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng trước, trong và sau tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017.

8.6. Hoạt động thể dục - thể thao

Trong quý I/2017, ngành thể dục- thể thao Lâm Đồng tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào TDTT quần chúng rộng khắp. Sở văn hóa, thể thao và du lịch tiếp tục chỉ đạo các phòng VHTT-TT và trung tâm VH-TT các huyện, thành phố tổ chức các hoạt động, thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khoẻ.

 Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức giải cờ tướng mừng Đảng mừng Xuân Đinh Dậu từ ngày 01-02/02/2017.

Thể thao thành tích cao: Tham gia giải việt dã Bình Dương mở rộng từ ngày 30/12/2016 đến ngày 02/01/2017, kết quả đạt 01 huy chương đồng ( đồng đội nam- đội tuyển); giải vô địch việt dã leo núi Bà Rá toàn quốc từ ngày 02-07/01/2017 tại Bình Phước, đạt 02 huy chương (01HCV giải đồng đội nam trẻ và 01HCB giải cá nhân nam trẻ).

8.7. Giáo dục - đào tạo

Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân. Tính đến cuối học kỳ I năm học 2016 - 2017, toàn tỉnh có 712 trường, tăng 02 trường so với cùng kỳ; với tổng số 24.668 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên (kể cả ngoài công lập); trong đó, 1.676 cán bộ quản lý, 18.574 giáo viên và 4.418 nhân viên; khối học nhà trẻ là 69.822 trẻ, tăng 13,47%; học sinh tiểu học là 119.395 học sinh, giảm 0,6%; học sinh trung học cơ sở là 77.832 học sinh, giảm 4,2%; học sinh trung học phổ thông là 43.275 học sinh, tăng 1,7% so với cùng kỳ.

Công tác phổ cập giáo dục: Đến tháng 12/2016, toàn tỉnh có 147/147 xã, phường, thị trấn và 12/12 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi; 147/147 xã, phường, thị trấn được công nhận duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 147/147 xã, phường, thị trấn và 12/12 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Giáo dục thường xuyên: Toàn tỉnh hiện có 2 Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 10 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện. Mỗi huyện, thành phố đều có một Trung tâm giáo dục thường xuyên hoặc Trung tâm giáo dục nghề nghiệp thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên và nhiệm vụ hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông. Chất lượng giáo dục thường xuyên ổn định và tương đương năm học trước, tỷ lệ duy trì sĩ số là 93,4% (cao hơn năm trước 1,3%).

 8.8. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm       

          Trong quý I/2017 ngành y tế tỉnh Lâm Đồng ngay từ đầu năm đã tập trung, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh, tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), (H5N8), (H7N9), và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm, sốt rét, sốt xuất huyết không có dịch xảy ra.

Từ đầu năm đến nay, không có dịch sốt rét xảy ra, có 51 trường hợp mắc bệnh, giảm 5 trường hợp so cùng kỳ, không có tử vong. Sốt xuất huyết có 45 trường hợp mắc bệnh mới, giảm 7 trường hợp, không có tử vong. Không phát hiện thêm bệnh phong mới, hiện toàn tỉnh quản lý 185 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 164 bệnh nhân, tổ chức giám sát 17 bệnh nhân và đa hóa trị lệu cho 3 bệnh nhân. Khám phát hiện 20 bệnh nhân lao mới, không có tử vong.

Công tác phòng chống bệnh HIV/AIDS: phát hiện 3 trường hợp nhiễm HIV mới (tích luỹ: 1.139 trường hợp), không trường hợp chuyển AIDS mới (tích lũy: 263 trường hợp), không có trường hợp tử vong do AIDS mới (tích luỹ: 504 trường hợp). Triển khai hoạt động của 03 cơ sở điều trị thuốc kháng HIV tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Bệnh viện II Lâm Đồng và TTYT huyện Đức Trọng: Điều trị bằng thuốc ARV cho 472 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 44 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị và 13 trẻ em.

Công tác tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi tính từ đầu năm đến nay trên 3.600 trẻ, đạt 19% so kế hoạch. Tiêm phòng uốn ván cho gần 3.300 phụ nữ có thai, đạt 18% so kế hoạch và cho 700 phụ nữ tuổi sinh đẻ, đạt 6,5% so kế hoạch. Số trẻ được bảo vệ phòng uốn ván sơ sinh là 3.500, đạt tỷ lệ 17,5% kế hoạch.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào trên địa bàn toàn tỉnh. Ngành y tế đã phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm các điểm kinh doanh trước dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017.

8.9. Tình hình an toàn giao thông

Ban An toàn giao thông tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 32/CT –TTg ngày 25/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kiểm soát tải trọng phương tiện tham gia giao thông; triển khai kế hoạch kiểm tra, xử lý triệt để tình trạng sử dụng vỉa hè, lòng đường, hành lang an toàn giao thông để kinh doanh, đậu đỗ xe, lập chợ tạm tự phát, quảng cáo... gây mất trật tự an toàn giao thông, mất mỹ quan đô thị trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, dù công tác tuyên truyền, nhắc nhở được triển khai thường xuyên nhưng tình trạng đậu đỗ xe, lấn chiếm, tái lấn chiếm lòng lề đường, vỉa hè vẫn còn xảy ra.

Tính từ thời điểm 16/02/2017 đến ngày 15/3/2017, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ tai nạn, giảm 1 vụ; làm 5 người chết, giảm 4 người, bị thương 10 người, tăng 4 người so với cùng kỳ. Tính chung 03 tháng năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, tăng 4 vụ; làm 46 người chết, tăng 11 người và bị thương 34 người.

          Lực lượng Công an tỉnh, phát hiện, xử lý 4.742 trường hợp; tổng số tiền phạt là 2.176 triệu đồng; tước 222 giấy phép lái xe; tạm giữ 21 ô tô; 545 mô tô.

         Phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới: 400 ô tô và 5.555 mô tô. Tổng phương tiện đang quản lý là 45.172 ô tô và 869.710 mô tô; 103 phương tiện đường thủy.

8.10. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Từ đầu năm đến ngày 20/03/2017 trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra vụ hỏa hoạn, cháy nổ nào. Số vụ vi phạm môi trường 01 vụ, đã xử lý với số tiền phạt 12 triệu đồng.


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt