Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế xã hội ước năm 2016

 Năm 2016 tình hình kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, kinh tế Mỹ phục hồi nhưng đang chậm lại, kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc; các nền kinh tế chủ chốt trong EU tăng trưởng yếu; kinh tế Nhật Bản tăng trưởng không đạt như kỳ vọng. Thị trường, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp, thương mại toàn cầu chưa có dấu hiệu phục hồi. Kinh tế trong nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu. Tình hình hạn hán những tháng đầu năm các tỉnh Tây Nguyên, xâm nhập mặn nghiêm trọng Đồng bằng sông Cửu Long, sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung; đặc biệt trong những ngày qua mưa lớn trên diện rộng gây lũ lụt ở các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống nhân dân.

          Trên địa bàn tỉnh doanh nghiệp vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn để tái đầu tư; tồn kho sản phẩm vẫn còn ở mức cao; doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn còn nhiều nhưng doanh nghiệp mới đi vào sản xuất kinh doanh còn ít; đời sống một bộ phận dân cư vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa vẫn còn những khó khăn nhất định. Năm 2016 là năm đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2016-2020; các ngành, các cấp tập trung đẩy mạnh các hoạt động cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, rà soát và kêu gọi các dự án đầu tư; tiếp tục tăng cường ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; chủ động hội nhập trên thị trường trong và ngoài nước; đẩy mạnh việc quảng cáo và xúc tiến các sản phẩm chủ lực của địa phương để từng bước nâng cao chất lượng, đa dạng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo tiền đề cho phát triển các năm sau. Đặc biệt, ngày 05/6/2016 Thủ tướng Chính phủ công bố Quyết định 1528/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng trở thành thành phố thông minh, trung tâm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp, trung tâm hội nghị, nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển trong thời gian tới.

     1. Tăng trưởng GRDP năm 2016

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn năm 2016 theo giá so sánh 2010 đạt 42.676,7 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cùng kỳ, cụ thể:

 - Khu vực I đạt 17.873,9 tỷ đồng, tăng 5,19%, đóng góp 2,23 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; với lợi thế về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng kết hợp với kinh nghiệm và khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, công tác tái canh cây cà phê và chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi đang được đẩy mạnh đã góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, do tình hình hạn hán xảy ra trên diện rộng trong những tháng đầu năm đã tác động trực tiếp đến năng suất cây trồng; giá cả sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh phụ thuộc vào thị trường trong nước và thế giới, đặc biệt là được mùa mất giá nên ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

- Khu vực II đạt 7.489 tỷ đồng, tăng 7,09%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; trong đó ngành công nghiệp đạt 4.947,5 tỷ đồng, chiếm 66,1% trong KVII, tăng 5,62%, với mức đóng góp 0,67% do tác động của công nghiệp chế biến tăng 7,22%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,6%; riêng ngành khai khoáng giảm 5,95%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,41% đã kéo tăng trưởng chung của ngành công nghiệp xuống còn 5,62% là mức tăng tương đối thấp so với các năm trước do một số công trình, nhà máy thuỷ điện, nhà máy sản xuất alumin đi vào hoạt động ổn định từ các năm trước; những công trình đầu tư mới trong công nghiệp chưa triển khai dẫn đến tăng trưởng khu vực công nghiệp thấp nên cần có hướng kêu gọi đầu tư các ngành chế biến nguyên liệu địa phương chất lượng cao giảm dần việc xuất khẩu nguyên liệu thô hoặc gia công sản phẩm giá trị thấp. Đặc biệt, do tình hình hạn hán làm mực nước trên các hồ thủy điện xuống thấp và việc điều tiết điện của các nhà máy do Trung tâm điều độ điện Miền Nam chỉ đạo để đảm bảo ổn định nguồn điện trong thời gian tới đã tác động đến ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí trên địa bàn.

- Khu vực III đạt 15.624,5 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ, đóng góp 3,95 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP; một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực III có mức tăng khá so với cùng kỳ là hoạt động bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 8,98%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%; hoạt động vận tải do mở thêm các đường bay mới tăng 13,5%; sau khi công bố cơ chế đặc thù cho TP Đà Lạt thì thị trường bất động sản tăng cao 16,09%; hoạt động nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 11,61%. Tình hình giá cả năm 2016 cơ bản ổn định nên sức mua, lộ trình tăng lương thực hiện đảm bảo nên thị trường cũng có nhiều khởi sắc, nhưng giá xăng dầu tăng giảm thất thường đã ảnh hưởng chung đến các ngành sản xuất và lưu thông, lộ trình tăng lương vẫn chưa thực hiện theo kế hoạch đề ra nên cũng tác động đến mức tăng trưởng của khu vực này.

- Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 1.689,3 tỷ đồng, tăng 13,17% so với cùng kỳ, với mức đóng góp 0,5% trong mức tăng GRDP.

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn năm 2016 theo giá hiện hành đạt 63.123,5 tỷ đồng, tăng 8,71% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực I đạt 29.243,1 tỷ đồng, tăng 5,86% so với cùng kỳ; khu vực II đạt 10.525,9 tỷ đồng, tăng 7,61%; khu vực III đạt 20.853,5 tỷ đồng, tăng 12,82%; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 2.501 tỷ đồng, tăng 15,03% so với cùng kỳ.

Bảng 1: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

                                                         

Ước thực hiện năm 2016

(Tỷ đồng)

% So sánh với

cùng kỳ

1) Tổng sản phẩm (GRDP) giá hiện hành

   63.123,5

108,71

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

   29.243,1

      105,86

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

   10.525,9

      107,61

      + Trong đó: Công nghiệp

     7.039,9

      105,91

 - Khu vực dịch vụ

   20.853,5

      112,82

- Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

     2.501,0

115,03

2) Tổng sản phẩm (GRDP) giá SS 2010

   42.676,7

107,93

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

   17.873,9

      105,19

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

     7.489,0

      107,09

      + Trong đó: Công nghiệp

     4.947,5

      105,62

 - Khu vực dịch vụ

   15.624,5

      111,10

- Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

     1.689,3

113,17

 *Đóng góp trong tăng trưởng (%)

7,93

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

2,23

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

1,25

 

      + Trong đó: Công nghiệp

0,67

 

 - Khu vực dịch vụ

3,95

 

- Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

0,50

 

 *Cơ cấu kinh tế (%)

100,00

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

48,24

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

17,36

 

      + Trong đó: Công nghiệp

11,61

 

 

 - Khu vực dịch vụ

34,40

 

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Lâm Đồng vẫn còn chậm, tỷ trọng nông nghiệp công nghệ cao chiếm nhiều so với cả nước nhưng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ lại thấp. Cơ cấu các ngành kinh tế khu vực I là 48,43%, khu vực II là 17,28% và khu vực III từ 34,29%. Qua kết quả khảo sát Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu của một nước công nghiệp. Tỷ trọng khu vực I trong GRDP vẫn còn khá cao trên 48%; trong khi đó, các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất “động lực” hay “huyết mạch” của nền kinh tế như tài chính, tín dụng còn chiếm tỷ trọng thấp. Nhiều loại hình kinh tế khuyến khích phát triển như doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhưng quy mô còn nhỏ; số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa ngày càng nhiều nhưng hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nhà nước sang ngoài nhà nước vẫn chưa cao; cần nhiều giải pháp thiết thực như đầu tư về vốn, dây chuyền sản xuất, xúc tiến thương mại để tăng giá trị sản phẩm góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

            2. Hoạt động tài chính, tín dụng

2.1. Hoạt động tài chính

Trong năm 2016, ngành Thuế Lâm Đồng tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai minh bạch các quy trình, thủ tục hành chính thuế; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, trong đó tập trung vào các ứng dụng hỗ trợ người nộp thuế; tăng cường công tác tuyên truyền, đối thoại, hỗ trợ và tư vấn pháp luật về thuế cho doanh nghiệp và người dân như: tổ chức các “tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế”; kiểm soát việc khai báo trị giá tính thuế đối với mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu, mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phục vụ dịp tết Nguyên đán. Đồng thời, công khai những trường hợp trốn thuế, gian lận thuế, nhất là những doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước năm 2016. Một số khoản thu có tỷ trọng lớn trong dự toán đã tăng cao nên đã tác động đến mức tăng thu khá như: thu hải quan, thu từ đất nhà, thu từ xổ số kiến thiết.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 15/12/2016 đạt 6.474,5 tỷ đồng, bằng 95,21% so dự toán, tăng 38,16% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 4.561,7 tỷ đồng, bằng 95,04% so dự toán, tăng 15,02% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 547,5 tỷ đồng, bằng 54,49% so dự toán, giảm 12,06%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 81,8 tỷ đồng, bằng 105,42% so dự toán, giảm 19,28%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 114,3 tỷ đồng, bằng 114,51% so dự toán, tăng 60,2%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 1.149,2 t đồng, bằng 80,56% so dự toán, tăng 14,31%; thuế thu nhập cá nhân đạt 351,5 tỷ đồng, bằng 86,56% so dự toán, tăng 19,57%; lệ phí trước bạ đạt 253,4 tỷ đồng, bằng 98,86% so dự toán, tăng 24,02%; thu phí, lệ phí đạt 241,7 tỷ đồng, bằng 114,69% so dự toán, tăng 9,69% so với cùng kỳ; thu từ đất, nhà đạt 886,5 tỷ đồng, bằng 130,37% so dự toán, tăng 26,95% so với cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết đạt 504,7 tỷ đồng, bằng 117,38% dự toán, tăng 18,72% so với cùng kỳ. Thu thuế qua hải quan đạt 316 tỷ đồng, bằng 316,01% so dự toán, tăng 287,41% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 15/12/2016 đạt 10.942,5 tỷ đồng, bằng 105,78% so dự toán, tăng 10,42% so với cùng kỳ. Trong đó, thu điều tiết đạt 5.645,6 tỷ đồng, tăng 33,43%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 3.314,2 tỷ đồng, giảm 15,27% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 15/12/2016 đạt 14.839,4 tỷ đồng, bằng 143,45% so dự toán, tăng 10,37% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 3.302,7 tỷ đồng, bằng 271,04% so dự toán, tăng 48,3%; chi thường xuyên đạt 6.101,2 tỷ đồng, bằng 99,3% dự toán, tăng 2,35%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục đào tạo đạt 2.591,3 tỷ đồng, bằng 94,14% so dự toán, giảm 1,02%; chi y tế đạt 567,4 tỷ đồng, bằng 72,55% so dự toán, giảm 0,76%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 811,2 tỷ đồng, bằng 119,7% so dự toán, tăng 0,39%; chi quản lý hành chính đạt 1.335,6 tỷ đồng, bằng 108,8% so dự toán, tăng 5,78% so với cùng kỳ.

2.2. Hoạt động tín dụng

Năm 2016 Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Lâm Đồng tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức công tác điều hòa và cung ứng tiền mặt, nhất là chi lương, thưởng trong dịp Lễ, Tết; chỉ đạo các tổ chức tín dụng bảo đảm hệ thống máy ATM hoạt động an toàn, thông suốt; tăng cường các hoạt động thanh toán phục vụ sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu; tổ chức các dịch vụ ngoại hối, thu đổi ngoại tệ phục vụ khách du lịch; tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng tiền mệnh giá nhỏ, lẻ hợp lý, tiết kiệm trong dịp Tết; bảo đảm an ninh, an toàn kho quỹ, ổn định thị trường tiền tệ, tỷ giá và thị trường vàng; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, bảo đảm thanh khoản.

Ước đến ngày 30/11/2016 vốn huy động đạt 37.530 tỷ đồng, tăng 29,03% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 31.011 tỷ đồng, chiếm 82,63% tổng vốn huy động, tăng 28,07%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 6.519 tỷ đồng, chiếm 17,37% tổng vốn huy động, tăng 33,81% so với cùng kỳ.

Ước đến ngày 30/11/2016 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 52.218 tỷ đồng, tăng 27,19% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 18.649 tỷ đồng, chiếm 35,71% tổng dư nợ, tăng 22,99%; dư nợ ngắn hạn 33.569 tỷ đồng, chiếm 64,29% tổng dư nợ, tăng 29,66% so với cùng kỳ.

         Ước đến ngày 30/11/2016 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 361 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng dư nợ, tăng 9,73% cùng kỳ.

         3. Giá cả thị trường

         3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tháng 12/2016 giá tiêu dùng tăng nhẹ do xu hướng chung trong những tháng cuối năm nhu cầu chuẩn bị hàng hóa cho Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán tăng. Bên cạnh đó, Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường công tác quản lý và bình ổn giá; theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường, cung cầu hàng hóa nhất là các mặt hàng thiết yếu, đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, định hướng cho các doanh nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chuẩn bị các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân. Mặt khác, tăng cường các hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường; việc chấp hành các quy định về giá như đăng ký giá, kê khai giá, niêm yết và bán theo giá niêm yết tại cơ sở; tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, các hành vi đầu cơ, găm hàng tăng giá trái pháp luật, nhất là các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân trong dịp tết Đinh Dậu năm 2017. CPI tháng 12/2016 tăng 0,12% so với tháng 11/2016, tăng 3,52% so với cùng kỳ. Cụ thể: Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,36%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,36%, trong đó nhóm lương thực tăng 0,02%, nhóm thực phẩm tăng 0,59%, nhóm ăn uống ngoài gia đình ổn định; nhóm nhà ở, chất đốt và VLXD tăng 0,21%; nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,2% so với tháng trước. Bên cạnh đó; nhóm giao thông giảm 0,92%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,18%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%; nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục ổn định so với tháng trước. Bình quân 12 tháng năm 2016, CPI tăng 1,69% so với bình quân cùng kỳ. 

3.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh ngày 22/12/2016 được bán ra bình quân 3,32 triệu đồng/chỉ, giảm 3,07% so với tháng trước tăng 10,17% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giá vàng trên thế giới giảm do đà tăng của đồng USD và việc tăng lãi suất của Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã làm giá vàng trong nước giảm theo đà giảm của giá vàng thế giới. Giá USD bán ra bình quân tháng 12/2016 dao động ở mức 22.647 đồng/USD. Chỉ số giá USD tháng 12/2016 tăng 1,03% so với tháng trước và giảm 0,24% so với cùng kỳ.

         3.3. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý 4 năm 2016 tăng 8,62% so với quý trước. Trong đó: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp tăng 8,78%; cụ thể: cây hàng năm tăng 12,57%, một số mặt hàng chủ yếu là thóc tăng 0,27%; ngô và cây lương thực có hạt khác giảm 4,78%; củ có chất bột tăng 7,83%; rau, đậu, hoa, cây cảnh tăng 14,76% so với quý trước. Cây lâu năm tăng 6,56% so với quý trước, một số mặt hàng chủ yếu hạt điều giảm 3,85%; hồ tiêu giảm 0,82%; cà phê tăng 10,31%; chè tăng 11,79%; sản phẩm chăn nuôi giảm 2,61% so với quý trước, trong đó gia súc giảm 5,21%; gia cầm tăng 0,85%. Sản phẩm lâm nghiệp tăng 1,36% so với quý trước; cụ thể: sản phẩm lâm sản khai thác tăng 0,77%; sản phẩm lâm sản thu nhặt tăng 14,03%. Sản phẩm thủy sản tăng 2,49% so với quý trước.

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý 4 năm 2016 giảm 6,92% so với quý trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,92%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,67%; điện và phân phối điện giảm 28,88%; nước sạch và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,5% so với quý trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý 4 năm 2016 tăng 4,1% so với quý trước và tăng 2,36% so với cùng kỳ; trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,49% so với quý trước và tăng 6,78% so với cùng kỳ; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,86% so với quý trước và giảm 0,27% so với cùng kỳ; sử dụng cho xây dựng tăng 1,58% so với quý trước và tăng 3,08% so với cùng kỳ. 

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý 4 năm 2016 giảm 1,31% so với quý trước. Trong đó: Giá cước vận tải hành khách giảm 1,72%; vận tải hàng hóa giảm 0,78%; dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải giảm 4,59% so với quý trước. Chia theo ngành đường thì dịch vụ vận tải đường bộ giảm 0,37%; trong đó, dịch vụ vận tải hành khách đường bộ trong nội, ngoại thành ổn định; dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường bộ giảm 0,78% so với quý trước.

  Chỉ số giá dịch vụ quý 4 năm 2016 giảm 0,63% so với quý trước; trong đó: hoạt động nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 0,41%; hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,13%; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm giảm 3,99%; hoạt động thông tin truyền thông; kinh doanh bất động sản; chuyên môn khoa học và công nghệ; hành chính và hỗ trợ; giáo dục và đào tạo; y tế và trợ giúp xã hội; dịch vụ làm thuê các công việc trong hộ gia đình ổn định so với quý trước.

4. Đầu tư và xây dựng

4.1. Vốn đầu tư

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2016 ước đạt 23.000 tỷ đồng, tăng 18,38% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở khu vực vốn ngoài nhà nước (Doanh nghiệp và hộ dân cư). Trong đó, vốn do trung ương quản lý đạt 1.345,9 tỷ đồng, tăng 36,86% so với  cùng kỳ.

Vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực nhà nước quản lý đạt 4.454,5 tỷ đồng, tăng 1,98% so với cùng kỳ, chủ yếu thực hiện các công trình đầu tư phát triển các ngành kinh tế có ưu thế của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế…và các công trình trọng điểm của tỉnh.

Vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước đạt 18.026,1 tỷ đồng, tăng 23,88% so với cùng kỳ, chiếm 78,37% trong tổng vốn. Trong đó, vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 5.590,1 tỷ đồng và vốn đầu tư của hộ gia đình đạt 12.436 tỷ đồng.

 Nguồn vốn thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 519,4 đồng, tương đương 22,8 triệu USD, tăng 1,77% so với cùng kỳ, chiếm 2,26% trong tổng vốn.

Bảng 2:  Tổng vốn đầu tư phát triển

 

Thực hiện

năm 2015

(triệu đồng)

Ước thực hiện

năm 2016

(triệu đồng)

Năm 2016 so với năm 2015 (%)

Tổng vốn đầu tư phát triển

19.428.957

23.000.000

118,38

1. Vốn nhà nước

4.368.019

4.454.506

101.98

2. Vốn ngoài nhà nước

14.551.284

18.026.131

123,88

3. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

510.330

519.363

101,77

4. Tỷ lệ vốn đầu tư trong GRDP

33,46

36,44

+2,98

Tiến độ thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn:

Một số công trình đang triển khai trên địa bàn tỉnh: Dự án Quảng trường Trung tâm thành phố Đà Lạt, trường TH mầm non 8, trường tiểu học Nam Thiên, đường Thông Thiên Học, hệ thống thoát nước đường Thiện Ý- Trần Quốc Toản...(thành phố Đà Lạt); đường Lộc Nga- Tân Lạc, đường Trần Quốc Toản, đường Phan Đình Phùng, trường THCS Lộc Nga, trường mầm non Sao Sáng...(thành phố Bảo Lộc); công trình/ dự án đường Tân Hà -Phúc Thọ, hồ chứa nước Đạ Tô Tôn, đường Đạ Đờn- Phi Tô- Nam Ban, hệ thống thoát nước, cây xanh đường Đinh Văn...(huyện Lâm Hà); công trình/ dự án trường TH Lạc Lâm, Thạch Mỹ, UBND xã Pró, đường giao thông thôn kinh tế mới Châu Sơn, các công trình thuộc chương trình nông thôn mới...(huyện Đơn Dương).

4.2. Tình hình thu hút đầu tư

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài: trong năm 2016 tuy không có dự án mới nhưng có 05 dự án điều chỉnh vốn tăng thêm 38,7 triệu USD. Đến nay còn 101 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 478,6 triệu USD. Trong đó, có 86 dự án đi vào hoạt động, tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp (61 dự án).

Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước: trong năm 2016 có 49 dự án được cấp Quyết định chủ trương đầu tư với số vốn đăng ký đầu tư 3.242 tỷ đồng; điều chỉnh 34 dự án với tổng vốn điều chỉnh 1.166 tỷ đồng, tổng quy mô diện tích điều chỉnh giảm 235,3 ha; thu hồi toàn bộ 07 dự án với tổng vốn đăng ký 7.908 tỷ đồng, quy mô diện tích 3.468,3 ha. Đến nay còn 756 dự án trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 108.477 tỷ đồng, quy mô diện tích 74.012 ha, trong đó 217 dự án đang thực hiện thủ tục đầu tư; 320 dự án đang triển khai xây dựng và 219 dự án đã hoàn thành toàn bộ và đi vào hoạt động, vốn đầu tư thực hiện 36.716 tỷ đồng.

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh doanh nghiệp

Từ đầu năm đến ngày 20/12/2016, đã cấp đăng ký kinh doanh cho 830 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 6.847,3 tỷ đồng, tăng 16% về số doanh nghiệp và tăng 84,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ. Giải thể 100 doanh nghiệp, số doanh nghiệp ngưng hoạt động là 201 doanh nghiệp.

5.2. Tình hình sản xuất và xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp

* Xu hướng sản xuất kinh doanh của 6 tháng tiếp theo so với 6 tháng hiện tại của các doanh nghiệp công nghiệp thông qua chỉ số cân bằng:

-         Khối lượng sản xuất: có 37,78% doanh nghiệp trả lời tăng; 11,11% doanh nghiệp trả lời giảm;

-         Số lượng đơn đặt hàng mới: có 40,48% doanh nghiệp trả lời tăng; 11,9% doanh nghiệp trả lời giảm;

-         Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới: có 33,33% doanh nghiệp trả lời tăng; 16,67% doanh nghiệp trả lời giảm;

-         Số lượng lao động bình quân: có 24,44% doanh nghiệp trả lời tăng; 15,56% doanh nghiệp trả lời giảm.

    * Xu hướng năm 2017 so với năm 2016:

Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh có những bước chuyển biến tích cực thông qua các chỉ tiêu như: khối lượng sản xuất: có 40% doanh nghiệp trả lời tăng; 15,56% doanh nghiệp trả lời giảm. Số lượng đơn đặt hàng mới: có 42,86% doanh nghiệp trả lời tăng; 14,29% doanh nghiệp trả lời giảm. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới: có 38,89% doanh nghiệp trả lời tăng; 16,67% doanh nghiệp trả lời giảm. Số lượng lao động bình quân: có 24,44% doanh nghiệp trả lời tăng, 17,78% doanh nghiệp trả lời giảm.

Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp đều lạc quan về triển vọng phục hồi, phát triển hơn trong 6 tháng và năm tiếp theo, dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu 6 tháng và năm tiếp theo đều cao hơn hiện tại (đặc biệt là các chỉ tiêu về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng). Điều này chứng tỏ môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn, kinh tế vĩ mô dần ổn định, thị trường trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi theo hướng dần giảm bớt khó khăn, đồng nghĩa với thuận lợi ngày càng tăng giúp các doanh nghiệp lạc quan hơn, đầu tư hơn và kỳ vọng sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn trong năm tiếp theo.

6. Sản xuất nông nghiệp

6.1. Trồng trọt:

         Tiến độ sản xuất vụ đông xuân 2016 – 2017

       Tính đến 10/12/2016 tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm đạt 11.597,6 ha, giảm 2,02% so với cùng kỳ. Trong đó, lúa gieo trồng 2.572 ha, tăng 0,86%; ngô 576,2 ha, tăng 2,89%; rau các loại 4.613,3 ha, giảm 11,96%; hoa các loại 1.131,5 ha, giảm 1,61% so với cùng kỳ.

Bảng 3: Tiến độ gieo trồng cây hàng năm

Chỉ tiêu

Năm 2015

(Ha)

Năm 2016 (Ha)

So với

cùng kỳ

(%)

Tổng diện tích gieo trồng

126.529,4

126.241,7

99,77

1. DT gieo trồng lúa

31.987,0

29.842,7

93,30

2. DTGT một số cây khác

     

 - Ngô

13.884,4

12.766,1

91,95

 - Khoai lang

1.424,2

1.788,9

125,61

 - Đỗ tương (đậu nành)

151,9

171,0

112,57

 - Rau các loại

57.268,2

59.035,6

103,09

 - Hoa các loại

7.761,9

7.919,6

102,03

Sản xuất nông nghiệp năm 2016

Tổng diện tích gieo trồng năm 2016 ước đạt 359.604,7 ha, tăng 0,59% so với cùng kỳ. Trong đó, cây hàng năm đạt 126.241,7 ha, giảm 0,23% so với cùng kỳ, đạt 99,68% kế hoạch.

Cây lương thực có hạt: lúa gieo trồng 29.842,7 ha, đạt 94,76% kế hoạch, giảm 6,7%; năng suất bình quân đạt 49,08 tạ/ha; sản lượng ước đạt 146.480 tấn, giảm 6,23% so với cùng kỳ. Ngô gieo trồng 12.766 ha, giảm 8,05%; năng suất bình quân đạt 54,24 tạ/ha, tăng 1,36%; sản lượng đạt 69.247,3 tấn, giảm 6,8% so với cùng kỳ.

Cây lấy củ có chất bột: gieo trồng 4.228,3 ha, giảm 4,86% so với cùng kỳ. Trong đó, khoai lang gieo trồng 1.788,9 ha, tăng 25,61%, năng suất đạt 134,77 tạ/ha, sản lượng ước đạt 24.108,4 tấn, tăng 31,08% so với  cùng kỳ.

  Cây có hạt chứa dầu: gieo trồng 547,8 ha, tăng 25,3% so với cùng kỳ. Trong đó, cây đỗ tương (đậu nành) gieo trồng 171 ha, năng suất đạt 12,82 tạ/ha, sản lượng đạt 219,1 tấn, tăng 17,17%; cây lạc (đậu phộng) gieo trồng 370,8 ha, năng suất đạt 11,37 tạ/ha, sản lượng đạt 421,6 tấn, tăng 23,17% so với cùng kỳ.

Cây rau, đậu, hoa, cây cảnh các loại: diện tích gieo trồng đạt 69.228,2 ha, tăng 2,81% so với cùng kỳ. Trong đó, cây rau các loại diện tích đạt 59.035,6 ha, tăng 3,09%; năng suất bình quân đạt 335,21 tạ/ha, giảm 1,46%, sản lượng rau đạt 1.978,9 ngàn tấn, tăng 1,58% so với cùng kỳ. Hoa gieo trồng 7.919,6 ha, tăng 2,03%, sản lượng hoa đạt 2.515 triệu bông, tăng 4,19% so với cùng kỳ.

        Sản xuất vụ đông xuân 2015 - 2016

Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 36.108,9 ha, giảm 0,29% so với cùng kỳ. Trong đó:

Lúa gieo cấy 9.652,2 ha, đạt 92,45% kế hoạch, giảm 8,08% so với cùng kỳ, do một số địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn như rau, dâu tằm, mặt khác một số diện tích chân ruộng bị thiếu nước gây khô hạn cục bộ không thể gieo trồng. Tập trung ở Cát Tiên 3.922 ha, đạt 97,56% kế hoạch, giảm 2,44%; Đạ Tẻh 1.492 ha, đạt 93,25% kế hoạch, giảm 0,41%; Lâm Hà 1.024 ha, giảm 3,5%; Đức Trọng 797 ha, giảm 17,16%; Đơn Dương 506 ha, giảm 11,85% so với cùng kỳ. Năng suất bình quân đạt 48,84 tạ/ha, giảm 4,35%. Sản lượng đạt 47.137 tấn, giảm 12,08% so với cùng kỳ.

Ngô gieo trồng 2.360,9 ha, giảm 7% so với cùng kỳ. Tập trung ở Đạ Tẻh 1.226 ha, chiếm 51,93%; Cát Tiên 535 ha, chiếm 22,66%; Đơn Dương 112,6 ha, chiếm 4,77%. Năng suất đạt 66,19 tạ/ha, tăng 1,05%. Sản lượng đạt 15.625,8 tấn, giảm 6,03% so với cùng kỳ.

 Cây lấy củ có chất bột gieo trồng 507,7 ha, tăng 35,85%. Trong đó, khoai lang gieo trồng 504,5 ha, chiếm 99,36%, tăng 36,16% so với cùng kỳ; năng suất đạt 142,83 tạ/ha; sản lượng ước đạt 7.206 tấn, tăng 37,45% so với cùng kỳ.

 Cây có hạt chứa dầu gieo trồng 38,6 ha, giảm 15,4% so với cùng kỳ. Trong đó, cây đỗ tương (đậu nành) gieo trồng 8,5 ha, năng suất đạt 12,33 tạ/ha, sản lượng đạt 10,5 tấn; cây lạc (đậu phộng) gieo trồng 25,5 ha, sản lượng đạt 30,3 tấn,  năng suất đạt 11,92 tạ/ha.

Cây rau, đậu, hoa, cây cảnh gieo trồng 20.763 ha, tăng 2,14% so với cùng kỳ. Trong đó, rau các loại gieo trồng 17.369,7 ha, tăng 2,56%; năng suất đạt 332,69 tạ/ha, tăng 0,44%; sản lượng đạt 577.872,5 tấn, tăng 3,01%. Hoa gieo trồng 2.718,9 ha, tăng 0,43%; sản lượng đạt 879,7 triệu bông, tăng 6,3% so với cùng kỳ.

Sản xuất vụ hè thu năm 2016

Tổng diện tích gieo trồng thực hiện 40.829,7 ha, giảm 1,52% so với cùng kỳ.

Lúa gieo trồng 5.569,2 ha, giảm 13,55 %, năng suất bình quân đạt 52,21 tạ/ha, tăng 5,11%, sản lượng 29.078,2 tấn, giảm 9,12% so với cùng kỳ.

Ngô gieo trồng 6.848,7 ha, giảm 7,09% so với cùng kỳ, năng suất bình quân đạt 51,75 tạ/ha, tăng 1,07%, sản lượng 35.441,7 tấn, giảm 6,09% so với cùng kỳ, do diện tích trồng xen trong cây cà phê thu hẹp.

Rau đạt 20.828,7 ha, tăng 3,32%, năng suất bình quân đạt 332,71 tạ/ha, tăng 0,1%, sản lượng đạt 693.001 tấn, tăng 3,43% so với cùng kỳ.

Hoa gieo trồng đạt 2.591,2 ha, giảm 0,51%, sản lượng đạt 847,2 triệu bông, tăng 2,59% so với cùng kỳ.

Sản xuất vụ mùa năm 2016

Tổng diện tích gieo trồng thực hiện 49.303,1 ha, tăng 0,92% so với cùng kỳ.

Lúa gieo trồng 14.621,3 ha, giảm 2,81%, năng suất bình quân đạt 48,06 tạ/ha, tăng 2,39%, sản lượng 70.264,8 tấn, giảm 0,48% so với cùng kỳ.

Ngô gieo trồng 3.556,5 ha, giảm 10,51% so với cùng kỳ, năng suất bình quân đạt 51,12 tạ/ha, tăng 1,94%, sản lượng 18.179,8 tấn, giảm 8,77% so với cùng kỳ.

Rau đạt 20.837,2 ha, tăng 3,29%, năng suất bình quân đạt 339,81 tạ/ha, giảm 4,41%, sản lượng đạt 708.064 tấn, giảm 1,27% so với cùng kỳ.

Hoa gieo trồng đạt 2.609,5 ha, tăng 6,51%, sản lượng đạt 788,1 triệu bông, tăng 3,64% so với cùng kỳ.

Cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 233.363 ha, chiếm 73,8% diện tích gieo trồng, tăng 1,04% so với cùng kỳ.

Cây lâu năm ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại như cà phê với diện tích hiện có 160.610,1 ha, chiếm gần 68,82%; tiếp đến là chè búp 20.366,7 ha, chiếm 8,73%; Điều 20.107,5 ha, chiếm 8,62%; cây ăn quả 14.610,6 ha, chiếm 6,26%; cao su 9.064,8 ha, chiếm 3,88%; dâu tằm 5.071,2 ha, chiếm 2,17%; hồ tiêu 1.962,3 ha, chiếm 0,84%; ca cao 348,4 ha, chiếm 0,15%; còn lại các loại cây lâu năm khác chiếm tỷ trọng thấp như cà ri, mác ca, dược liệu 1.213 ha, chiếm 0,52%.

Diện tích cây lâu năm tập trung ở Bảo Lâm 50.747 ha, chiếm 21,75%; Di Linh 44.860 ha, chiếm 19,22%; Lâm Hà 43.974,7 ha, chiếm 18,84%; Đức Trọng 21.508 ha, chiếm 9,22%; Bảo Lộc 17.982 ha, chiếm 7,71%; Đạ Huoai 13.891 ha, chiếm 5,95%; Đạ Tẻh 10.862 ha, chiếm 4,65%; Đam Rông 10.298,7 ha, chiếm 4,41%; Cát Tiên 7.188,3 ha, chiếm 3,08%; các huyện còn lại Lạc Dương, Đơn Dương và TP. Đà Lạt chiếm tỷ trọng thấp 5,16%.

 Sản lượng thu hoạch cây lâu năm:

Cây cà phê: diện tích cho sản phẩm 149.012,7 ha, chiếm 92,78% tổng diện tích cà phê hiện có; năng suất bình quân đạt 28,3 tạ/ha, tăng 1,47%; sản lượng đạt 421.836,2 tấn, tăng 2,98% so niên vụ trước, do bà con tích cực đầu tư phân bón, tưới nước trong mùa khô, áp dụng thâm canh, chuyển đổi giống.

        Cây chè: diện tích cho sản phẩm 19.522 ha, chiếm 95,85% tổng diện tích chè hiện có, giảm 1,88% so với cùng kỳ; năng suất bình quân đạt đạt 115,5 tạ/ha, tăng 0,41%; sản lượng đạt 225.478,2 tấn, giảm 1,45% so với cùng kỳ, do diện tích giảm và cung vượt cầu, hai thị trường tiêu thụ chè olong là Đài Loan và Trung Quốc thu hẹp đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tiêu thụ, xuất khẩu chè của Lâm Đồng.

Cây điều: diện tích cho sản phẩm 18.071,6 ha, chiếm 89,87% diện tích hiện có; năng suất đạt 9,2 tạ/ha, giảm 1,18%; sản lượng đạt 16.701,7 tấn, tăng 16,05% so với cùng kỳ.

Cây tiêu: diện tích cho sản phẩm đạt 831,4 ha; năng suất đạt 22,2 tạ/ha; sản lượng thu hoạch đạt 1.848,7 tấn, tăng 49% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay giá tiêu ở mức cao và ổn định, nhiều hộ trồng tiêu tích cực đầu tư cải tạo mở rộng diện tích.

Cây dâu tằm: hiện giá kén tằm trên thị trường đang tăng cao dao động ở mức 110 -120 nghìn đồng/kg nên người dân trồng dâu, nuôi tằm tích cực đầu tư phát triển. Diện tích cho sản phẩm 4.704,5 ha; năng suất đạt 178,9 tạ/ha, tăng 2,4%; sản lượng đạt 84.164,8 tấn, tăng 12,18% so với cùng kỳ.

Cây ăn quả: Cây sầu riêng diện tích hiện có 5.698,5 ha, sản lượng thu hoạch đạt 41.960,8 tấn, tăng 30,66%; cây hồng (hồng đỏ, hồng ngâm) diện tích hiện có 1.617,1 ha, sản lượng thu hoạch đạt 14.507,6 tấn, giảm 10,69%; cây bơ với diện tích 2.216,3 ha, sản lượng thu đạt 11.992 tấn, tăng 27,62% so với cùng kỳ; do thuận lợi về địa hình, khí hậu diện tích các loại cây khác như chuối, mít, cam, chanh dây đều tăng về diện tích và sản lượng.

Một số chương trình trọng tâm trong nông nghiệp năm 2016

Tổng diện tích ứng dụng công nghệ cao 43.810 ha, chiếm 16,5% diện tích đất canh tác. Trong đó, rau 13.023 ha, cây hoa 2.782 ha, chè 5.854 ha; cà phê 18.341 ha; lúa 3.705 ha.

 Thực hiện tái canh, ghép cải tạo, trồng mới cây lâu năm: cây cà phê 12.734,4 ha (trồng mới 1.665,5 ha, trồng tái canh 4.326 ha, ghép cải tạo 6.742,9 ha); chè 212,3 ha (trồng mới 4,4 ha, trồng tái canh 207,9 ha); cây ăn quả 1.945,3 ha; dâu tằm 506,3 ha.

        Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng tháng 12/2016:

Theo Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh Lâm Đồng tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng trong tháng 12 (từ 10/11 - 10/12/2016) như sau:

-Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá nhiễm 122,4 ha; bệnh khô vằn 211 ha; rầy nâu gây hại 62 ha.

-Trên cây cà chua: Sâu xanh gây hại 283,1 ha; bệnh xoăn lá nhiễm 481,4 ha; bệnh héo lá xanh nhiễm 46,3 ha.

- Rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ nhiễm 195,5 ha.

- Trên cây cà phê: Sâu đục thân gây hại 1.338,7 ha; bọ xít muỗi gây hại 1.331,2 ha.

- Trên cây chè: Bọ xít muỗi gây hại 1.395 ha; bọ cánh tơ gây hại 1.584 ha.

- Trên cây điều: Bệnh thán thư gây hại 1.676 ha; bọ xít muỗi gây hại 2.070 ha.

Tình hình thiệt hại do thiên tai trong nông nghiệp

Trong năm đã xảy ra 01 đợt hạn hán làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương như Cát Tiên 242 ha lúa bị khô hạn; Đức Trọng 98 ha lúa bị thiếu nước, trong đó có 51 ha bị mất trắng; Di Linh 82 ha bị thiếu nước ảnh hưởng tới năng suất; 05 đợt mưa đá, 22 đợt mưa lớn kèm lốc xoáy, 01 đợt ngập lụt do xả lũ làm thiệt hại hơn 900 ha lúa, 1.300 ha rau màu, 31.000 ha cây công nghiệp bị ảnh hưởng.

6.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi ổn định và phát triển, chuyển dịch theo hướng tăng dần các giống, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Theo kết quả điều tra 01/10/2016 tổng đàn trâu 14.959 con, giảm 5,62% (-890 con). Đàn bò 96.027 con, tăng 12,32% (+10.530 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 4.159,2 tấn, tăng 8,21% (315,7 tấn) so với cùng kỳ; trọng lượng bình quân 1 con xuất bán đạt 222,6 kg/con. Số lượng bò sữa 19.284 con, tăng 12,82% (+2.191 con) so với cùng kỳ. Trong đó, bò cái cho sữa 13.837 con, chiếm 71,75% tổng đàn bò sữa, tăng 19,15%. Sản lượng sữa tươi đạt 69.883,8 tấn, tăng 16,49% (+9.892,7 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng sữa tươi bình quân 1 bò cái sữa đạt 5.491,9 kg sữa/năm.

Tổng đàn lợn 436.261 con, tăng 14,35% (+54.743 con) so với thời điểm 01/10/2015, so với thời điểm 01/01/2016 tăng 12,39% (+48.091 con), so với thời điểm 01/4/2016 tăng 15,85% (+59.671 con), so với thời điểm 01/7/2016 tăng 2,48% (+10.540 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tính trong năm đạt 73.772,3 tấn; tăng 11,99% so với cùng kỳ; số con lợn thịt xuất chuồng 786.295 con, trọng lượng bình quân xuất chuồng đạt 93,8 kg/con.

Tổng đàn gia cầm 5.693 nghìn con, tăng 27,94% (+1.243,3 nghìn con) so với cùng kỳ. Trong đó, tổng đàn gà hiện có 3.435,0 nghìn con, chiếm 60,34% tổng đàn gia cầm, tăng 16,88% (+496 nghìn con) so với cùng kỳ; so với thời điểm 01/01/2016 tăng 10,43% (+324,3 nghìn con); so với thời điểm 01/4/2016 tăng 18,7% (+542 nghìn con); so với thời điểm 01/7/2016 giảm 0,95% (-32,9 nghìn con). Số gà xuất chuồng 4.538,2 nghìn con, tăng 8,24% so với cùng kỳ; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng 9.680,5 tấn, tăng 13,37% (+1.141,9 tấn) so với cùng kỳ; bình quân 1 con xuất chuồng đạt 2,1 kg/con, trong đó gà công nghiệp đạt 2,5 kg/con. Sản lượng trứng gà đạt 226.843,8 nghìn quả, tăng 6,53% (+13.904,8 nghìn quả) so với cùng kỳ, bình quân đạt 174,9 quả/con, trong đó: mái đẻ công nghiệp đạt 243,9 quả/con.

Công tác phòng chống dịch bệnh trên vật nuôi được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm không để xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

6.3. Lâm nghiệp

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: mùa khô 2015 – 2016 đã xảy ra 34 vụ, tăng 01 vụ; diện tích rừng bị cháy là 118,2 ha, tăng 37,52 ha so với cùng kỳ. Các vụ cháy đã được phát hiện và tổ chức lực lượng chữa cháy kịp thời nên hạn chế mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra.

Ước tính năm 2016 diện tích rừng trồng mới thực hiện 948 ha, không đạt kế hoạch do một số đơn vị xây dựng kế hoạch trồng rừng không đúng đối tượng quy định và không chuẩn bị kịp hiện trường và cây gống đảm bảo thời vụ trồng rừng. Trồng cây lâm nghiệp phân tán thực hiện 699,1 nghìn cây, tăng 1,9%. Chăm sóc rừng trồng đạt 12.500 ha, giảm 1,5% so với cùng kỳ.

  Giao khoán, quản lý bảo vệ rừng toàn tỉnh thực hiện 399.051 ha, tăng 0,94% so với cùng kỳ. Trong đó, hình thức khoán bảo vệ rừng được chi trả bằng tiền từ nguồn ngân sách tỉnh 37.746 ha; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 339.612 ha, còn lại là doanh nghiệp thuê rừng và cộng đồng dân cư 21.693 ha.

        Khai thác lâm sản: Ước tính trong tháng 12/2016 sản lượng gỗ khai thác các loại 2.284,2 m3. Ước năm 2016 đạt 86.374,2 m3, giảm 29,15% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác giảm chủ yếu ở rừng tự nhiên do chủ trương của Chính phủ đóng cửa rừng cấm khai thác, nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gien động-thực vật rừng.

Sản lượng củi tận dụng và khai thác ước năm 2016 đạt 177.864 ster, giảm 28,88%; lồ ô các loại 2.661,9 nghìn cây, giảm 0,08%; song mây 313,2 nghìn sợi, giảm 30,46%; le choái cấm đậu 352,8 nghìn cây, giảm 2%; lá buông khô 20 tấn; mung cây 1.376 ster, giảm 48,65%; hạt giống lâm nghiệp các loại 250 kg, giảm 22,36% so với cùng kỳ.

Tình hình vi phạm lâm luật:

Trong tháng 12/2016 lực lượng chức năng đã phát hiện lập biên bản 102 vụ vi phạm, trong đó: khai thác gỗ và lâm sản trái phép 30 vụ; phá rừng trái pháp luật 21 vụ/2,57 ha rừng; vận chuyển, mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước 10 vụ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý là 94 vụ, trong đó: xử lý hành chính 93 vụ, chuyển xử lý hình sự 01 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 11 phương tiện, dụng cụ các loại; 130 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách: 1,7 tỷ đồng.

Lũy kế từ đầu năm đến 20/12/2016 tổng số vụ vi phạm lâm luật là 1.471 vụ, giảm 21,67% so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 674 vụ, giảm 16,06%; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 379 vụ, giảm 9,55%; hành vi phá rừng trái phép 347 vụ, giảm 32,36%, diện tích rừng bị phá 125,1 ha, giảm 26,87% so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 1.377 vụ, trong đó xử lý hành chính 1.322 vụ, chuyển xử lý hình sự 55 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 502 chiếc phương tiện, dụng cụ các loại; gỗ các loại 2.526 m3. Thu nộp ngân sách 12,97 tỷ đồng.

        Tình hình cho thuê rừng và đất lâm nghiệp: hiện có 334 doanh nghiệp/401 dự án thuê đất, thuê rừng đang triển khai thực hiện dự án với tổng số diện tích là 57.255,4 ha (đã trừ phần diện tích thu hồi một phần của các dự án). Thu hồi 177 dự án/25.855,2 ha (gồm 141 dự án thu hồi toàn bộ/23.071 ha và 36 dự án thu hồi một phần/2.784,1 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc chậm tiến độ, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn.

        6.4. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng 2.630,9 ha, tăng 3,41%, phổ biến nuôi cá trắm, cá chép 1.579,1 ha, chiếm 60%, tăng 3,9%; cá rô phi 703 ha, chiếm 26,7%, tăng 7,28%; cá mè 221,6 ha, chiếm 8,4%, giảm 12,2% so với cùng kỳ.

Hiện có 5 cơ sở nuôi thủy sản lồng, bè trên sông, hồ; trong đó, 01 doanh nghiệp nuôi  và 04 hộ; số lồng, bè nuôi 190 cái, tăng 2,7% (+5 cái); số lồng bè nuôi cá tầm 152 cái, chiếm 80% tổng số lồng, bè; thể tích lồng nuôi 30.020 m3, tăng 25,1%. Số cơ sở nuôi thủy sản bể, bồn có 9 doanh nghiệp và 02 hộ với thể tích nuôi 112,9 nghìn m3, sản lượng các tầm, hồi thu trong năm đạt 254,5 tấn. Sản phẩm nuôi trồng chủ yếu là cá nước ngọt, các loại thủy sản khác được nuôi với diện tích rất ít; đặc biệt có 2 cơ sở ở Đạ Tẻh và Đà Lạt nuôi cá sấu với số lượng 190 con, giảm 30 con so với cùng kỳ.

Số cơ sở ươm giống thủy sản là 11 cơ sở, giảm 41,11% (-8 cơ sở), trong đó: có 2 doanh nghiệp và Viện nghiên cứu thủy sản III ươm giống thủy sản chủ yếu cá hồi, tầm giống với thể tích 1.565 m3, sản lượng cá giống bán ra là 0,28 triệu con; 08 cơ sở cá thể với diện tích là 0,78 ha, sản lượng cá giống bán ra trong năm đạt 26,94 triệu con.

  7. Sản xuất công nghiệp

Tăng trưởng công nghiệp năm 2016 của tỉnh vẫn chưa đồng đều ở các ngành, chủ yếu tăng cao ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Một số doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm thị trường, có chiến lược kinh doanh tốt tạo được thương hiệu sản phẩm tiêu thụ nhiều trong nước và xuất khẩu, chú trọng đến đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng, tiết kiệm tối đa chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm tăng cạnh tranh, tiêu thụ nhanh lượng hàng tồn kho.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tháng 12 năm 2016 tăng 23,46% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,71%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 66,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,14% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2016 toàn tỉnh tăng 5,82% so với cùng kỳ. Cụ thể:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 5,95%. Trong đó, sản phẩm đá xây dựng 1.539,4 ngàn m3, giảm 8,21%; cát tự nhiên các loại đạt 382,8 ngàn m3, giảm 20% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%. Một số sản phẩm chủ yếu đã tác động đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng 61,7 ngàn lít, tăng 47,56%; bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 6.972 ngàn cái, tăng 10,32%; alumin 536 ngàn tấn, tăng 5,54%; chè nguyên chất 42,9 ngàn tấn, tăng 3,63%; bên cạnh đó một số sản phẩm giảm như: quần áo bảo hộ lao động 292 ngàn cái, giảm 14,87%; vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 1.632 ngàn m2, giảm 18,6%; rau ướp lạnh 3,4 ngàn tấn, giảm 4,64%; quả và hạt ướp lạnh đạt 6,1 ngàn tấn, giảm 0,75% so với cùng kỳ.

Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,41%. Trong đó, điện thương phẩm đạt 1.007 triệu kwh, tăng 9,74% so với cùng kỳ.

Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,6%. Trong đó, sản lượng nước ghi thu đạt 22.833 ngàn m3, tăng 8,34%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế 90.915 tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ.

Bảng 3: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

 

 

 

 

Năm 2014

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2015

so với

cùng kỳ

(%)

Năm 2016

so với

cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

121,49

105,82

105,82

1.     Khai khoáng

106,27

80,49

94,05

2.     Chế biến, chế tạo

132,88

112,36

107,22

3.     Sản xuất, phân phối điện

106,69

99,56

105,41

4.     Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

103,31

104,70

108,60

           

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11 giảm 6,95% so với tháng trước và giảm 10,3% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2016, chỉ số tiêu thụ tăng 1,72% so với cùng kỳ (năm 2015 giảm 5,71%). Trong đó, sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 184,27%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,21%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,12%; ngành dệt giảm 31,92%; sản xuất trang phục giảm 20,95%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 8,35% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 11 năm 2016 tăng 7,72% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 33,56%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,57%; sản xuất trang phục tăng 9,19%; ngành dệt tăng 6,85%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 59,33%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 24,79%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 21,55% so với cùng kỳ.

* Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp năm 2016 giảm 0,65% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: ngành khai khoáng tăng 2,55%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 0,1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,3%. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước giảm 0,22%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,32%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,31% so với cùng kỳ.

8. Thương mại, dịch vụ

8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2016 ước đạt 3.249,2 tỷ đồng, tăng 12,38% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố giá tăng 8,6% so với cùng kỳ). Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 248,6 tỷ đồng, tăng 11,48%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.966,8 tỷ đồng, tăng 12,92% (kinh tế tư nhân đạt 820,8 tỷ đồng, tăng 25,25%; kinh tế cá thể đạt 2.145,8 tỷ đồng, tăng 8,84%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,8 tỷ đồng, giảm 19,1% so với cùng kỳ. Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2016 đạt 36.055,3 tỷ đồng, tăng 8,68% (loại trừ yếu tố giá tăng 6,9% so với cùng kỳ) và bằng 83,85% kế hoạch năm. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 2.698,9 tỷ đồng, giảm 11,19%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 32.908,4 tỷ đồng, tăng 11,02% (kinh tế tư nhân đạt 8.858 tỷ đồng, tăng 31,24%; kinh tế cá thể đạt 24.046,2 tỷ đồng, tăng 5,05%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 448 tỷ đồng, giảm 9,53% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12/2016 ước đạt 2.390,9 tỷ đồng, tăng 13% (loại trừ yếu tố giá tăng 9,2% so với cùng kỳ). Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 107,1 tỷ đồng, giảm 2,98%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.252,7 tỷ đồng, tăng 14,02%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,1 tỷ đồng, tăng 4,53% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.084,9 tỷ đồng, tăng 49,82%; nhóm xăng, dầu các loại đạt 280,5 tỷ đồng, tăng 14,77%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 148,3 tỷ đồng, giảm 13,4%. Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2016 đạt 26.081,2 tỷ đồng, tăng 9,57% (loại trừ yếu tố giá tăng 7,8% so với cùng kỳ). Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.107,1 tỷ đồng, giảm 21,5%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 24.581,5 tỷ đồng, tăng 11,71%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 392,6 tỷ đồng, tăng 1,35% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 11.953,7 tỷ đồng, tăng 26,01%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.823 tỷ đồng, tăng 3,36%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 1.585,3 tỷ đồng, giảm 10,25%.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 12/2016 ước đạt 339,3 tỷ đồng, tăng 28,01%; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 190,8 tỷ đồng, tăng 23,26%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 82,1 tỷ đồng, tăng 116,46% so với cùng kỳ. Ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) năm 2016 đạt 3.703,6 tỷ đồng, tăng 10,1%; trong đó, doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 91,1 tỷ đồng, tăng 25,56%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.263,1 tỷ đồng, tăng 6,66%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 686,7 tỷ đồng, tăng 51,02% so với cùng kỳ.

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 12/2016 ước đạt 515,4 tỷ đồng, tăng 1,74% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 71,1 tỷ đồng, giảm 11,47%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 444,3 tỷ đồng, tăng 4,23% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách phục vụ đạt 297,2 nghìn lượt khách, giảm 1,54% so với cùng kỳ; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 296,1 nghìn lượt khách, giảm 0,69% (khách trong nước đạt 271,7 nghìn lượt khách, giảm 2,84%; khách quốc tế đạt 24,4 nghìn lượt khách, tăng 31,81%). Ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2016 đạt 6.229,6 tỷ đồng, tăng 4,48% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 701,1 tỷ đồng, tăng 1,14%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 5.528,5 tỷ đồng, tăng 4,92%. Tổng lượt khách phục vụ đạt 3.559,4 nghìn lượt khách, tăng 6,31%; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 3.540,1 nghìn lượt khách, tăng 6,82% (khách trong nước đạt 3.254,3 nghìn lượt khách, tăng 4,22%; khách quốc tế đạt 285,8 nghìn lượt khách, tăng 49,31% so với cùng kỳ).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 12/2016 ước đạt 3,6 tỷ đồng, giảm 6,79% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 1.583 lượt khách, tăng 1,42%. Ước doanh thu du lịch lữ hành năm 2016 đạt 40,9 tỷ đồng, giảm 13,35%; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 17.704 lượt khách, giảm 14,67% so với cùng kỳ.

         8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

         8.2.1. Xuất khẩu hàng hóa

         Kim ngạch xuất khẩu tháng 12/2016 đạt 50,7 triệu USD, tăng 37,3% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 17,9 triệu USD, tăng 68,5%; kinh tế tư nhân đạt 17,3 triệu USD, tăng 32,53%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15,1 triệu USD, tăng 14,58% so với cùng kỳ. Các mặt hàng như: Alumin đạt 55 nghìn tấn, trị giá 16,5 triệu USD, tăng 34,53% về lượng và tăng 81,4% về giá trị; hàng rau quả đạt 1,2 nghìn tấn, trị giá 2,3 triệu USD, tăng 95,9% về lượng và tăng 22,98% về giá trị; hạt điều đạt 150 tấn, trị giá 1,4 triệu USD, tăng 44,22% về lượng và tăng 80,63% về giá trị; cà phê đạt 6.727 tấn, trị giá 13,7 triệu USD, tăng 27,18% về lượng và tăng 33,18% về giá trị; chè chế biến đạt 1.993,3 tấn, trị giá 4,5 triệu USD, giảm 22,04% về lượng và giảm 11,99% về giá trị; sản phẩm bằng plastic đạt 420 nghìn USD, giảm 18,01%; hàng dệt may đạt 1,5 triệu USD, giảm 35,13%; hàng hóa khác đạt 8,1 triệu USD, tăng 39,28% so với cùng kỳ.

         Ước năm 2016 đạt 440,6 triệu USD, bằng 80,1% kế hoạch năm, tăng 4,77% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 151,5 triệu USD, chiếm 34,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và giảm 3,65%; kinh tế tư nhân đạt 136,4 triệu USD, chiếm 30,96% và tăng 30,28%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 151,8 triệu USD, chiếm 34,47% và giảm 3,75% so với cùng kỳ. Các mặt hàng như: Alumin đạt 601,1 nghìn tấn, trị giá 145,2 triệu USD, tăng 27,76% về lượng và tăng 1,13% về giá trị; hàng rau quả đạt 9.556,5 tấn, trị giá gần 21 triệu USD, tăng 14,5% về lượng và tăng 3,01% về giá trị; hạt điều đạt 1.582,5 tấn, trị giá 13 triệu USD, tăng 5,26% về lượng và tăng 16,05% về giá trị; cà phê đạt 64,6 nghìn tấn, trị giá 118 triệu USD, tăng 13,18% về lượng và tăng 5,77% về giá trị; chè chế biến đạt 15,5 nghìn tấn, trị giá 33,5 triệu USD, tăng 0,7% về lượng và giảm 3,28% về giá trị; sản phẩm bằng plastic đạt 4,3 triệu USD, tăng 11,62%; hàng dệt may đạt 13,9 triệu USD, giảm 13%; hàng hóa khác đạt 74,1 triệu USD, tăng 20,92% so với cùng kỳ.

         Về thị trường xuất khẩu năm 2016, Singapo là thị trường xuất khẩu lớn nhất của tỉnh Lâm Đồng đạt 75,3 triệu USD, trong đó mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nhôm đạt 41,8 triệu USD, cà phê đạt 29,5 triệu USD; thị trường Nhật Bản đạt 57,6 triệu USD, trong đó hoa tươi các loại đạt 30 triệu USD; thị trường Ấn Độ đạt 47,5 triệu USD, Trung Quốc đạt 40 triệu USD; thị trường Hàn Quốc đạt 33,1 triệu USD.

         8.2.2. Nhập khẩu hàng hóa  

         Kim ngạch nhập khẩu tháng 12/2016 đạt 13,3 triệu USD, tăng 26,78% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 10,2 triệu USD, tăng 47,96%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3 triệu USD, giảm 3,21% so với cùng kỳ. Các sản phẩm nhập khẩu như: sản phẩm phân bón đạt 466 tấn, trị giá 229,2 nghìn USD, tăng 113,93% về lượng và tăng 166,76% về giá trị; tơ, xơ, sợi dệt đạt 21,9 tấn, trị giá 580,3 nghìn USD, giảm 15,08% về lượng và tăng 43,21% về giá trị; vải may mặc đạt 847 nghìn USD, tăng 378,77%; sắt thép các loại đạt 20 nghìn tấn, trị giá 7,5 triệu USD, tăng 98,82% về lượng và tăng 162,16% về giá trị; máy móc, thiết bị, phụ tùng đạt 840 nghìn USD, giảm 23,58%; hàng hóa khác đạt 2,2 triệu USD, giảm 54,07% so với cùng kỳ.

         Ước năm 2016 đạt 138,1 triệu USD, bằng 263,14% kế hoạch năm, tăng 31,08% so với cùng kỳ (do năm 2016 Công ty TNHH đầu tư du lịch Hoa Sen nhập khẩu phôi thép, chiếm 38,49% kim ngạch nhập khẩu của tỉnh). Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 98,6 triệu USD, chiếm 71,38% trong tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 42,55%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,2 triệu USD, chiếm 28,4% và tăng 9,88% so với cùng kỳ. Các sản phẩm nhập khẩu như: sản phẩm phân bón đạt 3.883,5 tấn, trị giá 2 triệu USD, giảm 12,87% về lượng và tăng 18,78% về giá trị; tơ, xơ, sợi dệt đạt 288,5 tấn, trị giá 4,8 triệu USD, giảm 32,89% về lượng và giảm 29,62% về giá trị; vải may mặc đạt 6,8 triệu USD, tăng 58,97%; phụ liệu hàng may mặc đạt 2,2 triệu USD, tăng 8,25%; sắt thép các loại đạt 148,3 nghìn tấn, trị giá 53,2 triệu USD, tăng 256,78% về lượng và tăng 290,48% về giá trị; máy móc thiết bị phụ tùng đạt 13,9 triệu USD, giảm 17,7%; hàng hóa khác đạt 39,7 triệu USD, giảm 17,45% so với cùng kỳ.

         8.3. Vận tải, bưu chính viễn thông

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 12/2016 đạt 433,6 tỷ đồng, tăng 22,68% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 257,6 tỷ đồng, tăng 15,4%; doanh thu vận tải hàng không đạt 147,4 tỷ đồng, tăng 39,5%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 28,6 tỷ đồng, tăng 16,55% so với cùng kỳ. Ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2016 đạt 4.694,3 tỷ đồng, tăng 20,27% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 2.963,9 tỷ đồng, tăng 11,93%; doanh thu vận tải hàng không đạt 1.504,8 tỷ đồng, tăng 49,47%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 225,2 tỷ đồng, giảm 9,17% so với cùng kỳ.

- Vận tải hành khách tháng 12/2016 ước đạt 2.152,8 nghìn hành khách, tăng 1,4% và luân chuyển đạt 297,1 triệu hành khách.km, tăng 12,44% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.081,8 nghìn hành khách, tăng 0,45% và luân chuyển đạt 257,9 triệu hành khách.km, tăng 9,12%; vận tải hành khách hàng không đạt 65,6 nghìn hành khách, tăng 43,67% và luân chuyển đạt 39,2 triệu hành khách.km, tăng 40,65%. Ước vận tải hành khách năm 2016 đạt 29.840 nghìn hành khách, tăng 5,61% và đạt 90,22% kế hoạch năm; luân chuyển đạt 3.708,9 triệu hành khách.km, tăng 15,38% so với cùng kỳ và đạt 132,03% kế hoạch năm; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 29.111,9 nghìn hành khách, tăng 4,85% và luân chuyển đạt 3.308 triệu hành khách.km, tăng 12,98%; vận tải hành khách hàng không đạt 660,9 nghìn hành khách, tăng 53,28% và luân chuyển đạt 400,9 triệu hành khách.km, tăng 39,95% so với cùng kỳ.

- Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ tháng 12/2016 ước đạt 1.240,6 nghìn tấn, tăng 7,19% và luân chuyển đạt 156,5 triệu tấn.km, tăng 6,26% so với cùng kỳ. Ước khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ năm 2016 đạt 10.201,9 nghìn tấn, tăng 8,63% và đạt 132,44% kế hoạch năm; luân chuyển đạt 1.562,5 triệu tấn.km, tăng 24,72% so với cùng kỳ và đạt 167,68% kế hoạch năm.

- Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 12/2016 ước đạt 134,8 tỷ đồng, tăng 21,02% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 10.720 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 10.500 thuê bao, thuê bao cố định đạt 220 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 5.100 thuê bao, tăng 36,8% so với cùng kỳ. Ước doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông năm 2016 đạt 1.541,9 tỷ đồng, tăng 21,95% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 215.401 thuê bao, trong đó; thuê bao di động đạt 213.027 thuê bao, thuê bao cố định đạt 2.374 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 58.426 thuê bao, tăng 84,14% so với cùng kỳ.

          9. Các vấn đề xã hội

          9.1. Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư

Dân số trung bình sơ bộ năm 2016 là 1.289.326 người, dân số trong độ tuổi lao động là 810.199 người, trong đó 735.021 người đang làm việc trong các ngành kinh tế. Trong năm, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng 29.226 người lao động; trong đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giải quyết được 19.376 người; ngành công nghiệp – xây dựng 2.425 người; còn lại là ngành dịch vụ giải quyết cho 7.425 người.

 Tỷ lệ lao động thất nghiệp thời điểm 31/12/2016 là 0,79% (khu vực thành thị là 1,27%); tỷ lệ thiếu việc làm vẫn còn khá cao thời điểm 31/12/2016 là 2,21% (khu vực thành thị là 3,48%), các quý về sau của năm 2016 tỷ lệ thiếu việc làm giảm dần nhưng do nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải ngừng hoạt động hoặc giải thể, lao động khó tìm việc làm mới, thị trường xuất khẩu lao động gặp nhiều khó khăn nên nhu cầu làm thêm vẫn còn ở mức cao.

 Đời sống dân cư nông thôn: Trong năm 2016 phần lớn các hộ dân cư ở nông thôn có điều kiện sản xuất, kinh doanh và thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi và một số ngành nghề khác có những chuyển biến tốt. Các chương trình chính sách, hỗ trợ và khuyến khích sản xuất được triển khai đến các địa phương, chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã góp phần tăng hộ nông dân làm giàu và giá trị đem lại cao hơn nhiều so với canh tác truyền thống, cụ thể: sản xuất rau cao cấp đạt bình quân trên 400 triệu đồng/ha/năm cao gấp 2 lần so với bình quân chung, trên cây hoa cao cấp đạt bình quân 800 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp 1,6 lần so với bình quân chung; chè chất lượng cao đạt từ 200-250 triệu đồng/ha.

Tình hình xây dựng nông thôn mới: UBND tỉnh đã ban hành quyết định công nhận và công bố 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, gồm: xã Hòa Ninh, Hòa Trung, Gung Ré, Đinh Lạc (huyện Di Linh); Đạ Tồn (huyện Đạ Huoai), Quảng Trị (huyện Đạ Tẻh), Phước Cát 1 (huyện Cát Tiên), Đa Nhim (huyện Lạc Dương). Qua các chương trình nông thôn mới đã tạo ra phong trào thi đua làm giàu của nhiều hộ gia đình, hộ nghèo và cận nghèo đã giảm khá nhanh.

Đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương vẫn duy trì ổn định, trong dịp lễ, tết được hưởng thu nhập tăng thêm trung bình mỗi người từ 1 triệu đến 11 triệu đồng. Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người khu vực nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn đạt 6,75 triệu đồng/người/tháng, cao hơn khu vực địa phương quản lý 1,4 lần (thu nhập bình quân khu vực địa phương 4,82 triệu đồng/người/tháng). Đối với các đơn vị địa phương quản lý có ngành xây dựng thu nhập bình quân một người 1 tháng cao nhất đạt 6,9 triệu đồng, bằng 1,7 lần so với các đơn vị quản lý nhà nước (4,06 triệu đồng).

9.2. Công tác an sinh xã hội

Năm nay không xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt. Trong dịp Xuân Bính Thân 2016, các đối tượng gồm người có công, đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, cận nghèo được tặng quà và trợ cấp tết bằng tiền mặt và hiện vật, trị giá tổng số tiền là 28,075 tỷ đồng, tương ứng với 85.097 suất quà được nhận (kể cả tiền và hiện vật quy tiền). Chi hỗ trợ, được lấy từ các nguồn cụ thể như sau: Nguồn ngân sách Trung ương (quà của Chủ tịch nước) là 1,908 tỷ đồng; Nguồn ngân sách tỉnh: 26,167 tỷ đồng. Nhân kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2016), các đối tượng chính sách được các cấp, các ngành, các đơn vị trong tỉnh quan tâm thăm hỏi tặng quà với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng.

9.3. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền

Để tuyên truyền những ngày lễ lớn trên toàn tỉnh đã treo dựng 2.739 phướn - băng rôn; 236 pano; thiết kế, dàn dựng trang trí 06 sân khấu lớn với tổng diện tích 4.527,93 m2; 05 phóng sự tuyên truyền. Tổ chức Carnaval xe tuyên truyền Lễ hội Văn hóa Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ X, tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Đội thông tin lưu động cũng đã triển khai hoạt động tuyên truyền bầu cử trên. Thực hiện 33 buổi văn nghệ tuyên truyền, 50 buổi triển lãm hình ảnh, 50 buổi xe tuyên truyền cổ động, mỗi buổi có khoảng 400 - 600 người dân địa phương tham dự. Các huyện, thành phố trong tỉnh cũng tập trung tuyên truyền các chủ đề, các ngày lễ kỷ niệm và ngày bầu cử theo hướng dẫn bằng nhiều hình thức: Đội thông tin lưu động, xe loa, pano, băng rôn, cờ phướn; kết hợp công tác tuyên truyền với các chương trình chiếu bóng lưu động, biểu diễn nghệ thuật. Tăng cường tuyên truyền lưu động, trên 200 xe loa về phục vụ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với số lượng hàng ngàn lượt.

Công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Hiện toàn tỉnh có 33 di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, trong đó có 13 di tích thắng cảnh cấp tỉnh, 18 di tích thắng cảnh cấp quốc gia và 02 di tích quốc gia đặc biệt. Ước năm 2016 Bảo tàng Lâm Đồng đón 35.000 lượt khách, đạt 100% kế hoạch năm, trong đó trên 1.450 khách quốc tế; Di tích lịch sử Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt đón 2.000 lượt khách đến tham quan nghiên cứu. Thường xuyên bổ sung chỉnh lý hiện vật, chủ đề trưng bày và chỉnh trang cảnh quan khuôn viên Bảo tàng nhằm thu hút du khách; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 10 cuộc trưng bày chuyên đề và triển lãm lưu động chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Sưu tầm 230 hiện vật, tư liệu, hình ảnh đạt 115% kế hoạch năm. Ban Quản lý di tích Cát Tiên thường xuyên bảo vệ, chăm sóc khuôn viên di tích, thực hiện các nghiệp vụ khảo cổ và quản lý di tích đảm bảo theo kế hoạch. Trong năm 2016 có 1.600 lượt khách đến tham quan, nghiên cứu; sưu tầm 65 hiện vật, đạt 130% kế hoạch năm; tổ chức triển lãm “Hình ảnh và cổ vật di tích Cát Tiên” tại huyện Đạ Tẻh, thu hút trên 2.500 lượt người tham quan triển lãm.

Công tác văn hóa và nghệ thuật: Tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật chào mừng các ngày lễ lớn và sự kiện của tỉnh tiêu biểu như: các chương trình nghệ thuật trong Festival Hoa Đà Lạt lần thứ VI - năm 2015; Mừng Đảng - Mừng Xuân Bính Thân 2016; chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; Lễ hội văn hóa cồng chiêng lần thứ X, Lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, Liên hoan nghệ thuật quần chúng các xã điểm vùng nông thôn mới tỉnh Lâm Đồng lần thứ III năm 2016; kỷ niệm 41 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, giải phóng Đà Lạt - Lâm Đồng; biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân và du khách hè 2016; kỷ niệm 71 năm Quốc khánh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ các Hội nghị do Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức phục vụ các đoàn khách ngoại giao quốc tế đến thăm và làm việc tại Lâm Đồng; tham gia các hoạt động hội thi, hội diễn do Cục Văn hóa Cơ sở, Cục Nghệ thuật biểu diễn tổ chức.

Công tác Điện ảnh: Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng tỉnh đã tập trung triển khai kế hoạch tổ chức chiếu bóng phục vụ nhân dân kết hợp công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và các hoạt động của ngành. Nhân bản và phát hành 18 phim truyện, 13 phim tài liệu thời sự, 80 video clip, 47 pano cổ động, 32 tài liệu cổ động xe loa phục vụ công tác tuyên truyền kết hợp chiếu phim. Đội chiếu bóng lưu động thực hiện 542 buổi chiếu, đạt 100,3% kế hoạch năm, phục vụ 116.600 người xem, trong đó vùng đồng bào dân tộc ít người chiếm 65%. Rạp chiếu bóng 3 tháng 4 ước thực hiện 360 buổi chiếu, đạt 100% kế hoạch năm, phục vụ 9.000 người xem.

Công tác Thư viện: Thư viện tỉnh đã cấp phát 656 thẻ bạn đọc (457 thẻ người lớn, 199 thẻ thiếu nhi); phục vụ 88.338 lượt bạn đọc, luân chuyển 149.297 lượt tài liệu. Bổ sung 12.017 bản sách và 200 loại báo, tạp chí, nâng tổng số tài liệu Thư viện tỉnh hiện có 198.300 bản, đạt 100% kế hoạch năm. Xử lý nghiệp vụ 3.862 bản sách và các loại báo, tạp chí. Biên soạn và phát hành 02 Thư mục: “Quốc hội Việt Nam thời kỳ đổi mới 2011-2016” “Danh lam thắng cảnh và đặc sản Đà Lạt”. Trưng bày, triển lãm 35 đợt với 1.797 tài liệu, 141 hình ảnh tư liệu và panô, băng rôn nhân kỷ niệm các ngày kỷ niệm lớn của đất nước, của ngành và địa phương. Trưng bày sách mới và 48 tranh vẽ của thiếu nhi trong hội thi “Chúng em vẽ tranh theo sách” được tổ chức nhân ngày Sách Việt Nam lần thứ 3 năm 2016. Ngoài ra, Thư viện tỉnh còn phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách và Phối hợp tổ chức thành công Liên hoan thiếu nhi kể chuyện theo sách tỉnh Lâm Đồng năm 2016. Tham gia Liên hoan Thiếu nhi kể chuyển theo sách khu vực miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ hè 2016 với chủ đề “Hè vui với sách”, kết quả: đạt giải A ở khối Tiểu học, giải B khối Trung học cơ sở.

Phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Tính đến nay, toàn tỉnh có 145/147 đơn vị đăng ký xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; có 22/30 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị và có 65/117 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; có 51/117 xã được công nhận xã nông thôn mới.

9.4. Hoạt động thể dục - thể thao

Trong năm 2016, ngành thể dục- thể thao Lâm Đồng đã tổ chức các hoạt động thể thao thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khoẻ, vui chơi lành mạnh góp phần xây dựng đời sống văn hoá mới ở địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

 Thể thao thành tích cao: Phối hợp với Tổng cục Thể dục Thể thao, các Liên đoàn thể thao Việt Nam đăng cai tổ chức tổ chức 07 giải quốc gia, quốc tế mở rộng và giải Bóng đá hạng nhì quốc gia năm 2016 các trận đấu trên sân nhà. Tham dự 38 giải thể thao khu vực, quốc gia và quốc tế, với 485 vận động viên tham gia. Kết quả đạt 199 huy chương (46 HCV, 60 HCB, 93 HCĐ), đạt 142% kế hoạch năm. Hiện tỉnh đang quản lý 11 lớp, đội tuyển năng khiếu, tuyển trẻ, đội tuyển các môn và đội tuyển bóng đá Nam với 178 vận động viên. Thành lập đội tuyển trẻ môn Cử tạ tham gia tập huấn dài hạn tại tỉnh Bắc Ninh. Nhìn chung các giải được tổ chức chuyên nghiệp, chu đáo, thu hút đông đảo vận động viên trong và ngoài nước tham gia, góp phần quảng bá hình ảnh Lâm Đồng - Đà Lạt đến với bạn bè quốc tế. Cử Huấn luyện viên, Hướng dẫn viên tham gia công tác giám sát, trọng tài tại các giải quốc gia và tham dự các lớp tập huấn do Tổng cục Thể dục Thể thao và các Liên đoàn thể thao quốc gia tổ chức.

Thể thao quần chúng: Phong trào Thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển. Hiện số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên chiếm 25% dân số toàn tỉnh, số hộ gia đình thể thao chiếm 16% số hộ toàn tỉnh và có 815 câu lạc bộ thể dục thể thao, đảm bảo thực hiện đạt 100% kế hoạch năm. Tổ chức 27 giải thể thao cấp tỉnh với gần 3.000 vận động viên của các địa phương, đơn vị tham gia.

          9.5. Hoạt động giáo dục – đào tạo

Sau 3 tháng khai giảng năm học mới, các cấp học, ngành học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã đi vào ổn định nhiệm vụ dạy và học. Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, sách giáo khoa và thiết bị dạy và học... cơ bản đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục hiện nay; trong đó việc chủ động đầu tư thiết bị, tài liệu hỗ trợ soạn giảng chương trình mới theo kế hoạch.

- Về trường học:

+ Trường mầm non: Toàn tỉnh có 227 trường hệ mầm non bao gồm cả trường công lập, dân lập và tư thục.

+ Trường học phổ thông: Toàn tỉnh có 470 trường, trong đó trường có 464 trường công lập, 2 trường dân lập và 4 trường tư thục.

+ Toàn tỉnh có 06 trường đại học, cao đẳng và 03 trường trung học chuyên nghiệp.

- Về đội ngũ giáo viên:

+ Giáo viên mầm non: Toàn tỉnh có 4.110  giáo viên, trong đó giáo viên đạt chuẩn là 3.920 giáo viên, giáo viên chưa đạt chuẩn là 190 giáo viên.

+ Giáo viên phổ thông: Số giáo viên trực tiếp giảng dạy toàn tỉnh hiện có 14.333 người, tăng 2,7% so với năm học 2015-2016. Giáo viên cấp Tiểu học là 6.481 người, tăng 4,5%; giáo viên cấp Trung học cơ sở là 5.055 người, tăng 1,9%; giáo viên cấp Trung học phổ thông là 2.797 người, tăng 0,4%. Nhìn chung số lượng giáo viên được phân công đảm bảo đủ số lượng theo nhu cầu phát triển và đủ về cơ cấu bộ môn, các loại hình ở từng bậc học, ngành học kể cả vùng sâu, vùng dân tộc và các trường mới thành lập.

- Về tình hình học sinh:

+ Học sinh mầm non: Toàn tỉnh có 2.334 lớp, với tổng số học sinh là 65.412 cháu, tăng 2.074 cháu so năm học 2015-2016.

+ Học sinh phổ thông: Toàn tỉnh có 245.180 học sinh; trong đó phần lớn số học sinh đang học trong hệ công lập là 242.911 em, chiếm 99,1% và hệ dân lập có 1.380 em, chiếm 0,6%, còn học sinh ở trường tư thục không đáng kể chỉ 889 học sinh, chiếm 0,3%.

Số lượng học sinh năm này giảm 537 học sinh (giảm 0,2%) so với năm học 2015-2016; trong đó số học sinh cấp tiểu học giảm 728 học sinh (giảm 0,6%) do tiếp tục giảm theo nguồn trong độ tuổi phù hợp với xu thế chung cả nước do tác động của chính sách kế hoạch hoá gia đình của địa phương; cấp trung học cơ sở giảm 582 học sinh (giảm 0,7%); cấp trung học phổ thông tăng 773 học sinh (tăng 1,8%).

Về cơ sở vật chất phục vụ năm học mới: Năm học 2016 – 2017 đưa vào sử dụng 131 phòng học, 57 phòng bộ môn, 05 văn phòng, 30 phòng nội trú, 02 hội trường và 23 nhà vệ sinh; sữa chữa 94 phòng học và các công trình hạ tầng khác (sân, hàng rào…). Kinh phí mua sắm năm 2016 gồm máy vi tính, máy chiếu, TB bộ môn Lý, Hóa, Sinh, thiết bị tối thiểu giáo dục mầm non, phòng học ngoại ngữ, bàn ghế học sinh…là 123 tỷ đồng; trong đó, Sở GDĐT 46,2 tỷ, các Phòng GDĐT 76,8 tỷ đồng.

Công tác xã hội hoá giáo dục đã đạt được những kết quả nhất định. Tổng kinh phí huy động là 31,5 tỷ đồng (khối trường trực thuộc: 6,4 tỉ, khối phòng giáo dục: 25,1 tỷ); trong đó, xây dựng, sửa chữa CSVC là 24,2 tỷ đồng, mua sắm trang thiết bị là 7,3 tỉ đồng.

Năm học 2016-2017 đã thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chủ đề năm học “Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng, đào tạo”  đáp ứng yêu cầu xã hội, tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề, hình thức đào tạo gắn với đảm bảo chất lượng, phù hợp với khả năng cung ứng nhân lực của địa phương; đẩy mạnh công tác phân luồng, hướng nghiệp, đào tạo theo nhu cầu xã hội trong giáo dục nghề nghiệp.

Công tác tuyển sinh vào trường Đại học Đà lạt năm học 2016-2017 diễn ra nghiêm túc đúng quy chế và an toàn. Ngày 04/9/2016 trường tổ chức ngày hội nhập học cho 2.100 tân sinh viên hệ chính quy ở 20 khoa thuộc 32 ngành học hệ đại học và 4 ngành hệ cao đẳng, nâng tổng số sinh viên toàn trường lên gần 12.000 sinh viên. Trường Đại học Yersin tuyển 320 tân học sinh mới vào nhập học.

         9.6. Hoạt động y tế

Trong năm 2016, không phát hiện trường hợp xác định nhiễm cúm A (H5N1), (H7N9), bệnh do vi rút Zika, bệnh do viêm não mô cầu và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm. Số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng phát hiện là 568 trường hợp, giảm 220 trường hợp so với cùng kỳ,  không có trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng.

Công tác phòng chống sốt xuất huyết: từ đầu năm đến nay phát hiện 1.799 trường hợp sốt xuất huyết, tăng 1.626 ca so với cùng kỳ, trong đó có 01 trường hợp tử vong do sốt xuất huyết.

 Công tác phòng chống sốt rét: từ đầu năm đến nay tổng số bệnh nhân sốt rét là 107 trường hợp, giảm 180 trường hợp so với cùng kỳ, không có trường hợp tử vong do sốt rét.        

 Công tác bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng: toàn tỉnh quản lý và điều trị cho 1.412 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 1.565 bệnh nhân động kinh.

 Công tác phòng chống bệnh phong: từ đầu năm đến nay phát hiện 01 bệnh nhân phong mới tại huyện Đơn Dương. Toàn tỉnh quản lý 185 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 164 bệnh nhân, tổ chức giám sát 17 bệnh nhân và đa hóa trị liệu cho 3 bệnh nhân. Duy trì công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định.

Công tác phòng chống bệnh lao: từ đầu năm đến nay phát hiện 618 bệnh nhân lao mới, trong đó có 309 bệnh nhân lao mới có AFB(+) với tỉ lệ bệnh nhân AFB (+) mới/100.000 dân là 19,1%, tỷ lệ bệnh nhân lao phổi AFB (+) điều trị khỏi đạt 92%. Tổ chức các hoạt động truyền thông nhân Ngày Thế giới phòng chống lao 24/3 trên địa bàn tỉnh.

 Công tác phòng chống bệnh HIV/AIDS: Thực hiện 28.980 mẫu xét nghiệm đạt 96,6% kế hoạch năm, trong đó phát hiện 93 mẫu dương tính, đưa 41 trường hợp nhiễm HIV mới vào quản lý (tích lũy: 1.136), có 06 trường hợp mắc AIDS mới (tích lũy: 263) và có 13 trường hợp tử vong AIDS (tích lũy: 504). Triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV: tiếp cận 486 người nghiện chích ma túy, cung cấp 24.000 bơm kim tiêm đạt 49% kế hoạch; tiếp cận 232 gái mại dâm, cung cấp 23.000 bao cao su đạt 55,3% kế hoạch năm. Tiếp tục triển khai hoạt động của 03 cơ sở điều trị thuốc kháng HIV tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Bệnh viện II Lâm Đồng và TTYT huyện Đức Trọng: Điều trị bằng thuốc ARV cho 472 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 44 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị và 13 trẻ em. Có 347 bệnh nhân được điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, đạt 78,7% so với kế hoạch được giao. Thực hiện xét nghiệm HIV cho 16.631 phụ nữ mang thai, phát hiện 09 trường hợp dương tính; điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho 13 trường hợp và cấp phát sữa thay thế cho 13 trường hợp trẻ đã sinh ra từ bà mẹ có nhiễm HIV.

Công tác tiêm chủng mở rộng: từ đầu năm đến nay tiêm chủng đầy đủ cho 25.074 trẻ, đạt 99,86%; tiêm viêm gan B trước 24 giờ cho 18.973 trẻ sơ sinh, đạt 75,56%; uống đủ 3 liều vắc xin ngừa bại liệt cho 23.820 trẻ dưới 1 tuổi, đạt 94,87%. Tiêm phòng uốn ván 2+ cho 22.996 phụ nữ có thai, đạt 96,05% và tiêm phòng uốn ván 2+ cho 9.062 phụ nữ tuổi sinh đẻ, đạt 89,44%.

Tổ chức tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho 24.456 trẻ em 18 tháng tuổi, đạt 97,24%; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DTC) mũi 4 cho 24.604 trẻ 18 tháng tuổi, đạt 97,88%.

Tổ chức chiến dịch tiêm vắc xin Sởi - Rubella cho 33.945/35.775 các cháu sinh từ 01/01/1998- 31/12/1999, đạt tỷ lệ 94,88%. Tổ chức tiêm vắc xin Viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 12-30 tháng tuổi- mũi 1: 25.105 trẻ, đạt 99,71%; mũi 2: 25.115 trẻ, đạt 99,74% và 39.519 trẻ mũi 3, đạt 94,86%.

Dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản: Tổng số phụ nữ đẻ là 23.550; trong đó số phụ nữ được quản lý thai là 22.320, chiếm tỷ lệ 94,8%, số phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ đẻ là 23.148, chiếm tỷ lệ 98,29%; số bà mẹ đẻ được khám thai 3 lần trở lên trong 3 thai kỳ là 21.890, đạt tỷ lệ 93,0%; số bà mẹ được thăm khám trong vòng 42 ngày tại nhà sau đẻ là 19.206, chiếm tỷ lệ 81,55%. Số mắc tai biến sản khoa là 33 trường hợp, tăng 5 trường hợp so năm 2015; có 02 trường hợp tử vong mẹ. Tổng số lượt khám phụ khoa là 154.292 lượt, số lượt mắc bệnh phụ khoa được điểu trị là 67.256 người.

Dự án chăm sóc sức khỏe trẻ em: Số trẻ sinh là 23.562; số trẻ đẻ sống là 23.206; số trẻ sơ sinh sống được cân là 23.206; số trẻ đẻ cân nặng dưới 2,5 kg là 832 trẻ (tỷ lệ 4,75%). Tại các cơ sở y tế: Số trẻ tử vong dưới 1 tuổi là 69 trường hợp, số trẻ tử vong dưới 5 tuổi là 79 trường hợp. Triển khai chiến dịch uống Vitamin A đợt I và đợt II năm 2016 cho trẻ từ 6 – 36 tháng trên địa bàn toàn tỉnh. Kết quả có 63.307/64.780 trẻ từ 6 – 36 tháng được uống Vitamin A, đạt tỷ lệ 97,7% và 9.325/9.956 bà mẹ sau sinh được uống Vitamin A, đạt tỷ lệ 93,6%.

Công tác khám chữa bệnh: Tổ chức khám bệnh cho 2,4 triệu lượt bệnh nhân, đạt 99,65% kế hoạch năm. Tổng số ngày điều trị nội trú là 860,5 nghìn ngày, đạt 98,7% so với kế hoạch năm. Công suất sử dụng giường bệnh chung toàn tỉnh đạt 103,4%. Tổng số bệnh nhân ngoại trú là 48.531 lượt, đạt 94,7% kế hoạch. Tổng số bệnh nhân phẫu thuật 18.982 bệnh nhân, đạt 96,74% kế hoạch. Tổng số lần xét nghiệm là 1,6 triệu trường hợp, đạt 99,9% kế hoạch. Tổng số lần chẩn đoán hình ảnh là 473,6 nghìn trường hợp, đạt 98,7% kế hoạch giao. Trong năm hỗ trợ cho 2.317 trường hợp người nghèo, người mắc bệnh hiểm nghèo và hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại điều trị nội trú 7 đợt với tổng kinh phí 6,47 tỷ đồng.

 Công tác dược: Ngành y tế đã duy trì thường xuyên các biện pháp bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng như tăng cường công tác kiểm nghiệm dược phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong tỉnh, đảm bảo nguồn gốc và chất lượng thuốc; trong năm 2016 đã kiểm nghiệm 737 mẫu thuốc trên địa bàn toàn tỉnh, đạt 92,13% so với kế hoạch; có 730 mẫu đạt tiêu chuẩn, đạt 99,27% và 04 mẫu thuốc không đạt chiếm tỉ lệ 0,72%, các mẫu thuốc không đạt đã được xử lý theo quy định. Tính đến nay, toàn tỉnh có 730 cơ sở bán lẻ thuốc; 12 công ty, chi nhánh sản xuất, kinh doanh bán buôn thuốc, trong đó có 655 cơ sở, công ty, chi nhánh đạt tiêu chuẩn phân phối thuốc (GPP), 02 công ty đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt (GMP), 01 công ty có phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn (GLP), 01 công ty có hệ thống kho bảo quản thuốc đạt tiêu chuẩn (GSP).

Công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm: trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm với 119 người ngộ độc, không có trường hợp tử vong.  Cụ thể: 01 vụ xảy ra vào ngày 13/02/2016 (Mùng 6 tết) do ngộ độc thực phẩm rượu ngâm củ ấu tàu tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, có 06 trường hợp ngộ độc, đã được điều trị tại Bệnh viện II Lâm Đồng; 01 vụ vào ngày 15-16/6/2016 do cơ sở bánh mỳ tại xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, có 42 người ngộ độc; 01 vụ vào ngày 27-28/7/2016 tại thành phố Đà Lạt (không tìm ra cơ sở nguyên nhân), có 16 người ngộ độc; 01 vụ vào ngày 29 - 30/7/2016 do cơ sở bánh mỳ thập cẩm tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, có 28 người ngộ độc, với căn nguyên nhiễm vi khuẩn Salmonella và 01 vụ vào ngày 05 - 06/8/2016 do cơ sở bánh mỳ tại xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, có 28 người ngộ độc, do nhiễm vi khuẩn Salmonella.

Công tác thanh, kiểm tra an toàn thực phẩm: Ngành Y tế phối hợp các ban ngành, địa phương tổ chức kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ các sự kiện lớn diễn ra trong năm:

    Tổng số đoàn thanh, kiểm tra 185 đoàn. Kiểm tra 10.994 cơ sở, trong đó 8.509 cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiện an toàn thực phẩm (chiếm tỷ lệ: 77,4%), có 2.466 cơ sở vi phạm các quy định về VSATTP; nhắc nhở, chấn chỉnh  2.179 cở sở, 287 cơ sở vi phạm bị xử lý vi phạm hành chính, tổng số tiền phạt 246,8 triệu đồng. Kiểm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Kết quả kiểm tra được 56 mẫu sản phẩm của 29 cơ sở, phát hiện 07 cơ sở vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm đã xử lý vi phạm hành chính đối với 7 cơ sở với tổng số tiền phạt là 42 triệu đồng.

   9.7. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ cháy, làm chết 01 người và bị thương 05 người, thiệt hại ước tính 1,5 tỷ đồng. Phát hiện và xử lý 05 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt là 126 triệu đồng.

 

 

   9.8. Tai nạn giao thông

         Trong tháng, Ban An toàn giao thông tỉnh phối hợp với Hội An toàn giao thông Việt Nam, Tổng cục Đường bộ Việt Nam triển khai 02 lớp tập huấn tại thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc theo Kế hoạch số 201/KH-BATGT về tổ chức lớp tập huấn tuyên truyền viên an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; Ban hành kế hoạch số 239/KH-BATGT ngày 14/12/2016 về bảo đảm trật tự an toàn giao thông Tết Dương lịch 2017, Tết Nguyên đán Đinh Dậu và Lễ hội Xuân 2017; văn bản số 241/BATGT về xử lý vi phạm liên quan đến hoàn trả, tái lập mặt đường đối với Dự án thoát nước, thu gom và xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Tính từ ngày 16/11/2016 đến ngày 15/12/2016, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông; làm chết 6 người; bị thương 11 người. Tính đến ngày 15/12/2016, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 205 vụ tai nạn giao thông; làm chết 135 người; bị thương 162 người. Trong tháng lực lượng chức năng phát hiện, xử lý 4.591 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, xử phạt 2,6 tỷ đồng, tước 291 giấy phép lái xe, tạm giữ 13 ô tô, 498 mô tô. Phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới: 436 ô tô và 5.243 mô tô. Tổng phương tiện đang quản lý là 43.473 ô tô và 846.056 mô tô.

            10. Một số giải pháp phát triển kinh tế  - xã hội năm 2017

Nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong năm 2016 mặc dù gặp khó khăn nhưng tiếp tục có chuyển biến tích cực; kinh tế ổn định, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; thu hút khách du lịch quốc tế đạt khá. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng chưa đạt, chỉ số tồn kho còn cao, xuất nhập khẩu chưa có nhiều cải thiện.

Quy mô nền kinh tế của Lâm Đồng không ngừng phát triển, GRDP bình quân đầu người từ thấp hơn đến nay đã vượt mức bình quân chung cả nước; năng suất ngành nông nghiệp của tỉnh cao gần 2 lần so với bình quân cả nước nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn thiếu bền vững, quy mô nền kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tỷ trọng khu vực I còn cao trong GRDP (hơn 2,2 lần so với cả nước). Vấn đề đặt ra hiện nay đối với kinh tế Lâm Đồng tuy không đặt nặng chuyển dịch kinh tế như các địa phương khác là giảm nông nghiệp; tăng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Bởi vì, là một tỉnh miền núi, cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông chủ yếu bằng đường bộ còn nhiều hạn chế nên cần tận dụng lợi thế thổ nhưỡng, khí hậu để phát triển nông nghiệp cao và du lịch nghỉ dưỡng nhằm tạo động lực cho nền kinh tế để đẩy mạnh đầu tư phát triển ngành công nghiệp không khói trong 5 năm tới thực sự trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng của cả nước và khu vực, từng bước chuyển cơ cấu của tỉnh theo hướng  Du lịch – Nông nghiệp – Công nghiệp. 

Nhằm triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2017 mà Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra, các ngành, các cấp cần tiếp tục tập trung triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

          1. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng khóa X, nhiệm kỳ 2015 - 2020. Trong đó, tập trung các nguồn lực để triển khai thực hiện 4 chương trình trọng tâm, 12 các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh và các công trình trọng điểm của các huyện, thành phố theo kế hoạch 5 năm 2016 – 2020.

          2. Phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế- xã hội, trọng tâm là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị; phát triển dịch vụ du lịch chất lượng cao.

3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng và trật tự đô thị. 

4. Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

5. Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động du lịch; đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến nông lâm sản và công nghiệp khai thác khoáng sản; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của địa phương.

          6. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng tiếp cận đa ngành và cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp để tạo nên chuỗi giá trị. Chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh; gắn phát triển nông nghiệp với du lịch trải nghiệm. Triển khai các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã ban hành. Xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững.

          7. Phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông, lâm sản có lợi thế về nguồn nguyên liệu của địa phương. Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh.

8. Phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ vận tải, tài chính ngân hàng và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác; đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, ứng dụng các dịch vụ công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong đời sống kinh tế - xã hội.

9. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền về các ngày lễ lớn, các sự kiện lớn của cả nước và của tỉnh; cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan thông tin đại chúng, trước hết là các thông tin về chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, môi trường đầu tư và các thông tin liên quan đến tình hình trong nước và quốc tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo,... để nhân dân hiểu rõ về tình hình và chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó tạo sự đồng thuận trong nhân dân, chung sức chung lòng thực hiện tốt các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. 

 


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt