Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2016

 Kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2016 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm[1][1]. Kinh tế Mỹ phục hồi nhưng đang chậm lại, kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc; các nền kinh tế chủ chốt trong EU tăng trưởng yếu; kinh tế Nhật Bản tăng trưởng không đạt như kỳ vọng. Thị trường, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp, thương mại toàn cầu chưa có dấu hiệu phục hồi. Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giao dịch thương mại toàn cầu trong nửa đầu năm 2016 đã giảm xuống mức thấp nhất trong 6 năm qua. Các yếu tố trên đã tác động đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất khẩu và thu ngân sách Nhà nước.

Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc trong năm 2015, kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu. Rét đậm, rét hại, bão lũ các tỉnh phía Bắc, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống nhân dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016. Đồng thời, ban hành hàng loạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016. Với những đổi mới mạnh mẽ và quyết liệt cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế - xã hội nước ta đã vượt qua khó khăn, thách thức. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng năm 2016 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2016 ước tính tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước (Quý I tăng 5,48%, quý II tăng 5,78% và ước tính quý III tăng 6,40%) nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 6,53% của cùng kỳ năm 2015. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm sút[2][2] và nông nghiệp tăng trưởng thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 5,93% của toàn nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm gần đây[3][3], đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,50%, đóng góp 2,52 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,66%, đóng góp 2,55 điểm phần trăm[4][4].

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 6,19% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành thủy sản tăng 1,81%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; riêng ngành nông nghiệp mặc dù đã có dấu hiệu tăng trở lại so với mức giảm 0,78% của 6 tháng đầu năm nhưng tốc độ tăng chỉ ở mức 0,05%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 9,86% của 9 tháng năm 2015, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng 11,22%, đóng góp 1,80 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Ngành khai khoáng 9 tháng năm nay giảm tới 3,60%, làm giảm 0,28 điểm phần trăm, nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thế giới giảm khiến lượng dầu thô khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước; khai thác than gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do giá giảm. Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 9,10%, đóng góp 0,50 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, mức tăng của một số ngành có tỷ trọng lớn như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước, đây là ngành có mức tăng trưởng cao thứ hai của khu vực dịch vụ (sau ngành thông tin và truyền thông) nhưng là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (0,74 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,71%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục được cải thiện, đạt mức tăng 3,66% (cao hơn mức tăng 2,90% của cùng kỳ năm trước), đóng góp 0,20 điểm phần trăm.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

9 tháng các năm 2014, 2015 và 2016

 

 

              Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng
năm 2016
(Điểm phần trăm)

 

9 tháng năm 2014

9 tháng
năm 2015

9 tháng      năm 2016

Tổng số

5,53

6,53

5,93

5,93

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2,94

2,08

0,65

0,11

Công nghiệp và xây dựng

5,75

9,72

7,50

2,52

Dịch vụ

5,94

6,10

6,66

2,55

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp

7,55

5,52

6,45

0,75

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,48%; khu vực dịch vụ chiếm 41,80%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,18%.

Theo cấu trúc sử dụng GDP 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,97% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 4,96 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp lớn nhất với 4,52 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 10,12%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 1,90 điểm phần trăm tăng trưởng.

 

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2016

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 594,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 433,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1%; lâm nghiệp đạt 20,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thuỷ sản đạt 139,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%.

a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1691,3 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,2% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1151,6 nghìn ha, bằng 98,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 539,7 nghìn ha, bằng 97,2%. Diện tích lúa mùa của các địa phương phía Bắc giảm chủ yếu do thời tiết nắng hạn, thiếu nước đầu vụ, khi gieo cấy lại bị ảnh hưởng của 3 cơn bão liên tiếp, một số diện tích lúa mùa bị ngập nặng không có khả năng phục hồi nên các địa phương chủ động chuyển đổi sang trồng cây ăn quả hoặc nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn[1][5]. Bên cạnh đó, một số địa phương đã chuyển một phần diện tích trồng lúa sang phục vụ các công trình thủy lợi, dân sinh[2][6]. Đến nay trà lúa mùa ở miền Bắc đang trong giai đoạn vào chắc và chín, đã thu hoạch được gần 24 nghìn ha. Do ảnh hưởng của các cơn bão số 1, số 2 và số 3 gây ngập úng cục bộ, một số diện tích phải cấy dặm nên năng suất lúa mùa của một số địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng giảm mạnh: Vĩnh Phúc giảm 10 tạ/ha; Quảng Ninh giảm 2,6 tạ/ha; Hà Nam giảm 1 tạ/ha. Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng cuối năm và không bị ảnh hưởng của sâu bệnh, năng suất lúa mùa năm nay của các địa phương phía Bắc đạt xấp xỉ cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 5,8 triệu tấn, giảm 36,6 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2015.

Diện tích lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 2106 nghìn ha, tăng 3,2 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1674,5 nghìn ha, giảm 3,3 nghìn ha. Tính đến ngày 15/9/2016, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1648,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 93,6% cùng kỳ năm trước, chiếm 78,3% diện tích gieo cấy, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1422,2 nghìn ha, bằng 93,6% và chiếm 85% diện tích gieo cấy. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 53,9 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2015; sản lượng đạt 11,3 triệu tấn, giảm 49 nghìn tấn. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của thời tiết không thuận nên diện tích và năng suất lúa hè thu đều giảm so với năm trước (diện tích giảm 0,2%; năng suất giảm 1,2%); sản lượng ước tính đạt 9,02 triệu tấn, giảm 125,6 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 664,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 109,4% cùng kỳ năm trước do một số địa phương chủ động mở rộng diện tích lúa ở những vùng có đê bao (An Giang tăng 13,2 nghìn ha; Long An tăng 11,6 nghìn ha; Cần Thơ tăng 3,5 nghìn ha). Đến nay, diện tích lúa thu đông đã thu hoạch đạt 120,2 nghìn ha, tương đương cùng kỳ năm 2015 với năng suất ước tính đạt 53,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha.

Gieo trồng một số cây hoa màu giảm nhẹ so với cùng kỳ. Tính đến giữa tháng Chín, cả nước gieo trồng được 1047,5 nghìn ha ngô, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước; 111,2 nghìn ha khoai lang, bằng 90,3%; 188,2 nghìn ha lạc, bằng 97,1%; 85,8 nghìn ha đậu tương, bằng 86,8% và 952,6 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, sản lượng đạt khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm tăng: Sản lượng hồ tiêu 9 tháng ước tính đạt 192,9 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; chè 853 nghìn tấn, tăng 3%; cao su 643 nghìn tấn, tăng 0,4%; riêng sản lượng điều đạt 301 nghìn tấn, giảm 15%. Một số cây ăn quả sản lượng tăng nhẹ do thị trường tiêu thụ tốt: Sản lượng cam tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; chuối tăng 1,3%; xoài tăng 0,7%; bưởi tăng 0,5%; dứa tăng 0,3%. Riêng sản lượng vải giảm 13%; chôm chôm giảm 2,4%; nhãn giảm 1,5% do thời tiết không thuận và diện tích cho sản phẩm giảm.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2015; đàn bò tăng 2%-2,5%; đàn lợn tăng 3,5%-4%; đàn gia cầm tăng 5%-5,5%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2016 giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi tăng 2%; sản lượng thịt lợn hơi tăng 4,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,7%. Tính đến thời điểm 26/9/2016, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch lở mồm long móng; dịch tai xanh trên lợn chưa qua 21 ngày còn ở Hà Tĩnh.

Trong 9 tháng năm nay, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng xảy ra tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long mà đỉnh điểm là tháng Ba, tháng Tư và đầu tháng Năm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân tại vùng bị thiên tai. Đặc biệt, hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua, xâm nhập mặn đã vào đến vùng lõi của Đồng bằng sông Cửu Long, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân và sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của các địa phương sau này. Do đó, ngành Nông nghiệp cần có các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp để thích nghi và khắc phục những bất cập từ biến đổi khí hậu, đồng thời tu bổ, nạo vét hệ thống kênh mương, công trình thủy lợi ngăn mặn, xây dựng các hồ chứa để giữ nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân. 

b. Lâm nghiệp

Trong 9 tháng năm 2016, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 151,9 nghìn ha, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do mưa bão, lũ lụt xảy ra vào đúng thời vụ trồng rừng; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 133,6 triệu cây, giảm 1,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng trồng tập trung giảm mạnh: Hà Giang đạt 8,5 nghìn ha, giảm 66,4%; Tuyên Quang 3,3 nghìn ha, giảm 23,9%; Lạng Sơn 2,9 nghìn ha, giảm 50%; Thanh Hóa 1,8 nghìn ha, giảm 15,4%. Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng ước tính đạt 6521 nghìn m3, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước do thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ tương đối ổn định, trong đó một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 627 nghìn m3, tăng 17,3%; Tuyên Quang 440 nghìn m3, tăng 42%; Thanh Hóa 364 nghìn m3, tăng 19,7%; Hòa Bình 262 nghìn m3, tăng 46,2%. Sản lượng củi khai thác 9 tháng ước tính đạt 21,3 triệu ste, giảm 0,5%.

Công tác bảo vệ phòng chống cháy rừng được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện nhưng do thời tiết nắng hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong 9 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 4359 ha, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3256 ha, gấp 3 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 1103 ha, tăng 67,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều: Điện Biên là 969 ha; Sơn La 919 ha; Hà Giang 226 ha; Yên Bái 194 ha; Bình Định 174 ha; Hà Tĩnh 112,5 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 4937,6 nghìn tấn, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3601,6 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 570 nghìn tấn, tăng 1,7%.

Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc những tháng đầu năm và tình trạng ô nhiễm nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 1021,7 nghìn ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 2604,8 nghìn tấn, tăng 1,2%, trong đó cá đạt 1894,8 nghìn tấn, tăng 0,9%; tôm đạt 447 nghìn tấn, tăng 1,5%.

Nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn do giá cá tra không ổn định và ở mức thấp, chi phí cao, sức mua từ các thị trường tiêu thụ lớn sụt giảm. Diện tích nuôi cá tra 9 tháng ước tính đạt 11,2 nghìn ha, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá tra thâm canh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,4 nghìn ha, tăng 1,4%. Sản lượng cá tra 9 tháng ước tính đạt 850 nghìn tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 210,5 nghìn tấn, giảm 6,3%; Bến Tre 121,9 nghìn tấn, giảm 7,3%, Tiền Giang đạt 28,8 nghìn tấn, tăng 4,5%.

Nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh, đặc biệt là tôm sú do chủ yếu nuôi bằng hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến. Diện tích nuôi tôm sú 9 tháng ước tính đạt 576,9 nghìn ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 180 nghìn tấn, giảm 2,7%, trong đó Cà Mau đạt 62 nghìn tấn, giảm 9,8%; Bạc Liêu đạt 42,9 nghìn tấn, giảm 10,4%; Kiên Giang đạt 30,9 nghìn tấn, tăng 11,2%; Bến Tre đạt 5,8 nghìn tấn, tăng 2,8%.

Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 9 tháng ước tính đạt 80,2 nghìn ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 232,3 nghìn tấn, tăng 4,5%, trong đó Cà Mau đạt 38,3 nghìn tấn, tăng 6,4%; Sóc Trăng 35,8 nghìn tấn, tăng 25,7%; Bến Tre 22 nghìn tấn, giảm 11,8%.

Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng của cả nước ước tính đạt 2332,8 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1706,8 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 123 nghìn tấn, tăng 2,6% (Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng đạt 2195,8 nghìn tấn, tăng 3%, trong đó cá đạt 1602,8 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 113 nghìn tấn, tăng 2,4%).

Sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt đã ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng; ngư dân phải tạm dừng đánh bắt ở vùng ven bờ và vùng lộng nên sản lượng thủy sản khai thác của các địa phương giảm mạnh[1][7]

 

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 2010

 

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 9 năm 2016

 

 

Sản lượng thuỷ sản

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín ước tính tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 7,5% của tháng Tám), trong đó ngành khai khoáng giảm 7,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,4%.

Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,9% của cùng kỳ năm 2015, chủ yếu do ngành khai khoáng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 12,1%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 4,1%, làm giảm 0,9 điểm phần trăm mức tăng chung[2][8].

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) tăng 5,6%; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,9%, trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 11%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 7,8%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 16,9%; dệt tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 14,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,7%; sản xuất thuốc lá tăng 5,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,5%; khai khoáng khác tăng 2,4%; khai thác than cứng và than non tăng 1,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,8%.

Trong 9 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 86%; thép cán tăng 24,3%; ô tô tăng 21%; thức ăn gia súc tăng 20,3%; sắt thép thô tăng 17,2%; xi măng tăng 15,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Than đá tăng 1,8% (gặp khó khăn trong tiêu thụ than do giá giảm); giày, dép da tăng 1,5%; xe máy tăng 0,1%; phân urê giảm 4,1%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 5,3%; đường kính giảm 5,9%; dầu thô khai thác giảm 7,8%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 9,7%; điện thoại di động giảm 10,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Nam tăng 30,7%; Thái Nguyên tăng 28,5%; Hải Phòng tăng 16,5%; Đà Nẵng tăng 12,1%; Cần Thơ tăng 11%; Bình Dương tăng 9,6%; Bắc Ninh tăng 9,1%; Hải Dương tăng 8,2%; Đồng Nai tăng 7,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,3%; Hà Nội tăng 7,1%; Quảng Ninh tăng 5,6%; Vĩnh Phúc tăng 4,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2016 tăng 2,1% so với tháng trước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,2%). Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 19,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,7%; dệt tăng 11,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,8%; sản xuất đồ uống tăng 10,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất thuốc lá; sản xuất da, các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 1,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 2,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2016 tăng 9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,9%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 7%; sản xuất trang phục tăng 6,1%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 4,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 13%; sản xuất thiết bị điện giảm 13,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 36,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 46,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 125% (chủ yếu là sản phẩm điện thoại di động mới sản xuất); sản xuất xe có động cơ tăng 40,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 32,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 22,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 21,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng năm 2016 là 68,4% (cùng kỳ năm trước là 74%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 129,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 106,3%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,8%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,8%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,4%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 25,2%; Hải Phòng tăng 14%; Vĩnh Phúc tăng 6,3%; Bình Dương tăng 6,2%; Đồng Nai tăng 6,1%; Bắc Ninh tăng 5,8%; Đà Nẵng tăng 3,6%; Hải Dương tăng 3,1%; Hà Nội tăng 1,9%; Quảng Nam tăng 1,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,8%; Cần Thơ bằng mức cùng thời điểm năm trước; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,1%; Quảng Ninh giảm 3%.

Nhìn chung, trong 9 tháng năm nay, bên cạnh sự giảm sút của ngành khai khoáng, các ngành công nghiệp khác, nhất là ngành chế biến, chế tạo (có quy mô và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp) vẫn giữ được sự phát triển khá ổn định[3][9]. Điều này được thể hiện thông qua xu hướng khá tích cực của chỉ số tiêu thụ, tồn kho và thu hút lao động: Chỉ số tiêu thụ tháng 8 của toàn ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8%, trong khi chỉ số tồn kho thời điểm 01/9/2016 tăng 9%. Bên cạnh đó, tình hình thu hút lao động trong ngành công nghiệp cho thấy sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù còn khó khăn, nhưng vẫn đang trên đà phục hồi và dần phát triển ổn định.

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

 

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 

 

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4][10]

Trong tháng Chín, cả nước có 8047 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 76,2 nghìn tỷ đồng, giảm 13,3% về số doanh nghiệp và tăng 7,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,5 tỷ đồng, tăng 23,8%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 71,5 nghìn người, giảm 36,7%.

Trong tháng, cả nước có 1799 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 10,3% so với tháng trước; có 5426 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1644 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 3782 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 6,6%; có 886 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 16,2%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có 81451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 629,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% về số doanh nghiệp và tăng 49,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015[5][11]; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2015. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng là 928,7 nghìn người, bằng 92,9% cùng kỳ năm 2015. Trong 9 tháng năm nay còn có 20510 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 59,6% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2015 tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2014), nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng năm nay lên gần 102 nghìn doanh nghiệp. Điều này cho thấy khung khổ pháp lý mới cùng với các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển đã phát huy hiệu quả, giúp doanh nghiệp tìm thấy hướng đi, cơ hội phát triển mới.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 9 tháng năm nay ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành tăng mạnh cả về số doanh nghiệp và số vốn đăng ký: Kinh doanh bất động sản tăng 99,1% về số doanh nghiệp và tăng 242,5% về vốn đăng ký; thông tin và truyền thông tăng 14,5% và tăng 173,9%; sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 19,2% và tăng 113,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,1% và tăng 110,7%; hoạt động dịch vụ khác tăng 40,3% và tăng 112,5%. Riêng lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 9 tháng giảm 32,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký giảm 23,2%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng là 8365 doanh nghiệp, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 giảm 0,9% so với năm 2014), trong đó có 7812 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,3% và tăng 20,0%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 3373 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,3%); 2489 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,8%); 1390 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,6%); 1110 công ty cổ phần (chiếm 13,3%) và 03 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng năm nay là 45097 doanh nghiệp, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 16294 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 31,0% và 28803 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 18,1%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, có 6269 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 38,5%); 5617 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 34,5%); 2738 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); 1669 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,2%) và 01 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 12000 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 41,7%); 8980 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31,2%); 5210 công ty cổ phần (chiếm 18,1%) và 2613 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,1%). Theo lĩnh vực hoạt động, trong 9 tháng năm nay hầu hết ở các ngành nghề kinh doanh có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước. Riêng ngành nghệ thuật vui chơi và giải trí và ngành khai khoáng tăng so với cùng kỳ năm 2015.

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2016 cho thấy: Có 80,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III khá ổn định và tốt hơn quý trước (có 38,8% doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 41,5 doanh nghiệp đánh giá ổn định), trong khi 19,7% số doanh nghiệp đánh giá còn gặp khó khăn. Dự báo trong quý IV, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khả quan hơn quý III, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Nhà nước. Cụ thể, có 85,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV sẽ ổn định và tốt lên, trong đó có 48,8% số doanh nghiệp cho đánh giá xu hướng quý IV sẽ tốt lên; 36,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 14,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

Về khối lượng sản xuất, có 42,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III năm nay tăng so với quý trước; 19,3% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 38,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Đối với quý IV năm nay, có 50,3% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên so với quý III; 13,7% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,0% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 36,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý III năm nay cao hơn quý trước; 19,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 44,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III tiếp tục khả quan với 45,6% số doanh nghiệp dự kiến có số đơn đặt hàng cao hơn; 13,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,0% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 30,8% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu quý III năm nay cao hơn quý trước; 19,9% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 49,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 38,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 15,1% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,3% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 24,1% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý III năm nay tăng so với quý trước; 8,5% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 67,4% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý IV/2016, có 18,5% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý III; 9,7% doanh nghiệp cho rằng chi phí giảm và 71,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, quý III năm nay so với quý trước, có 15,4% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 11% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 73,6% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý IV so với quý III, có 16,2% số doanh nghiệp cho rằng giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 21,3% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý III năm nay tăng so với quý trước; 28,8% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 49,9% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 15,6% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 30,4% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 54,0% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý III/2016 so với quý trước, có 19,1% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 27,7% số doanh nghiệp cho là giảm và 53,2% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý IV so với quý III, có 14,5% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,7% doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho giảm và 56,8% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý III năm nay so với quý trước, có 16,9% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 12,6% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 70,5% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Xu hướng sử dụng lao động có chiều hướng tăng lên trong quý IV khi có tới 91,3% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng hoặc giữ ổn định quy mô lao động so với quý III; chỉ có 8,7% số doanh nghiệp dự báo giảm quy mô lao động.

 

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

 

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

 

 

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo ngành, lĩnh vực hoạt động

5. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ 9 tháng năm nay tuy gặp khó khăn do người dân có xu hướng tiết kiệm chi tiêu, nhưng với nỗ lực của các đơn vị sản xuất và phân phối, sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ, ngành trong việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, nhìn chung doanh thu kinh doanh dịch vụ đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 296,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 225,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 10,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 35,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,4% và tăng 15,7%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,8