Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 10 năm 2016

 I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp

1.1. Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10/2016 tập trung chủ yếu gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây hàng năm vụ mùa; trồng mới, chăm sóc cây lâu năm và bắt đầu thu hoạch cà phê niên vụ 2015 – 2016.

a.  Sản xuất vụ mùa

Tính đến ngày 10/10/2016 trên địa bàn tỉnh đã gieo trồng, xuống giống được 38.211,4 ha cây hàng năm các loại, giảm 3,95% (-1.570,7 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm ở nhóm cây lương thực có hạt (lúa), cây chất bột khác và rau hoa các loại ở thành phố Đà Lạt, Đức Trọng, Lạc Dương do tiến độ thu hoạch vụ hè thu chậm, bên cạnh đó diện tích gieo trồng ngô và cây lấy củ có chất bột như khoai lang, sắn (mỳ) giảm so với cùng kỳ chủ yếu do diện tích trồng xen ngày càng thu hẹp như huyện Đam Rông, Di Linh.

Diện tích lúa gieo trồng 14.209,3 ha, đạt 97,81% kế hoạch, giảm 3,31% (-486,8 ha) so với cùng kỳ, tập trung ở Đạ Tẻh 2.350 ha, tăng 0,47%; Đức Trọng 3.375 ha, bằng 100%; Di Linh 1.983 ha, bằng 100%; Đơn Dương 2.257 ha, giảm 11,84%; Đam Rông 1.275 ha, giảm 4,49%; Lâm Hà 1.384 ha, giảm 3,15%.

Ngô gieo trồng 3.271,8 ha, giảm 0,01% so với cùng kỳ.

Khoai lang gieo trồng 376,4 ha, tăng 6,21% so với cùng kỳ.

Sắn mỳ gieo trồng 1.597 ha, giảm 32,87% so với cùng kỳ, chủ yếu ở Đam Rông, Bảo Lâm,  Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Rau các loại gieo trồng 12.506,6 ha, giảm 4,84% so với cùng kỳ, tập trung ở Đà Lạt 1.803,8 ha, Đức Trọng 1.815 ha, Đơn Dương 6.868 ha và Lạc Dương 990 ha.

Hoa các loại gieo trồng 2.175,5 ha, tăng 1,71% so với cùng kỳ, tập trung ở Đà Lạt 1.497,3 ha, Lạc Dương 200 ha, Đơn Dương 198 ha, Đức Trọng 181 ha.

Cây hàng năm khác gồm gia vị, dược liệu, cỏ chăn nuôi… 2.546,5 ha, trong đó: cỏ thức ăn chăn nuôi 2.266 ha, chiếm 88,98% tổng thể, tăng 10,13% so với cùng kỳ, diện tích Atisô 60,1 ha, dâu tây 13 ha, còn lại là cây gia vị sả, ớt.

Tiến độ gieo trồng vụ mùa đến 10/10/2016

Chỉ tiêu

Thực hiện cùng kỳ năm trước

(Ha)

Thực hiện kỳ báo cáo

(Ha)

So với

cùng kỳ

 (%)

Tổng diện tích gieo trồng

39.782,1

38.211,4

96,05

1. DT gieo trồng lúa vụ mùa

14.696,0

14.209,3

96,69

2. DTGT một số cây khác

     

 - Ngô

      3.272,2

      3.271,8

99,99

 - Khoai lang

354,4

376,4

106,21

 - Sắn

2.378,9

1.597,0

67,13

 - Mía

577,1

472,7

81,91

 - Đỗ tương (đậu nành)

           73,7

          71,7

97,29

 - Lạc (đậu phộng)

           67,8

          97,0

143,07

 - Rau các loại

     13.142,2

    12.506,6

95,16

 - Đậu các loại

         534,5

         511,8

95,75

 - Hoa các loại

      2.139,0

      2.175,5

101,71

Cây gia vị, dược liệu, hàng năm khác

      2.316,2

      2.546,5

109,94

       

b.  Thu hoạch vụ mùa

Nhìn chung tiến độ thu hoạch vụ Mùa năm nay chậm so với cùng kỳ do ảnh hưởng thu hoạch chậm của vụ hè thu. Tính đến ngày 10/10/2016, tiến độ thu hoạch cây hàng năm vụ mùa thực hiện được 5.914,9 ha/38.211,4 ha, đạt 15,48% diện tích gieo trồng, giảm 5,98% (-375,9 ha) so với cùng kỳ. Trong đó:

Diện tích ngô thu hoạch được 116,2 ha/3.271,8 ha, đạt 3,55% diện tích gieo trồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ.

Diện tích rau thu hoạch 4.223,3 ha/12.506,6 ha, đạt 33,77% diện tích gieo trồng, giảm 7,3% (-332,4 ha) so với cùng kỳ.

Diện tích đậu thu hoạch 33 ha/511,8 ha, đạt 6,45% diện tích gieo trồng, giảm 27,79% (-12,7 ha), so với cùng kỳ.

Hoa các loại thu hoạch 1.105,3 ha/2.175,5 ha, đạt 50,81% diện tích gieo trồng, bằng 81,73% (-247 ha) so với cùng kỳ.

* Tình hình thiên tai: cuối tháng 9/2016 mưa lớn kéo dài gây sạt lở ta luy ở phường 4 và ở khu vực phường 7 - thành phố Đà Lạt hư hại trên 15 ha rau màu, hoa ước thiệt hại 1 tỷ đồng.

        c. Cây lâu năm

Tính từ đầu năm đến nay trồng mới, tái canh, cải tạo chuyển đổi giống cây lâu năm thực hiện 8.825,3 ha, bằng 98,3% (-152,7 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, Di Linh 2.698 ha; Lâm Hà 1.629,9 ha; Bảo Lâm 1.826,2 ha; Bảo Lộc 998 ha; Đam Rông 696,8 ha; Đức Trọng 358,7 ha. Cây trồng chiếm tỷ trọng cao là cà phê 7.101,4 ha, chiếm 81,92%; cây ăn trái 689,6 ha, chiếm 7,81%; dâu tằm 346,2 ha, chiếm 3,92%; hồ tiêu 142,5 ha, chiếm 1,61% tổng diện tích trồng mới, chuyển đổi giống, ghép cành cây lâu năm.

Diện tích cà phê trồng mới, tái canh, ghép cành thực hiện 7.101,4 ha, tăng 10,99% (+703,2 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu do chuyển đổi cà phê già cỗi, cải tạo ghép cành và một số cây trồng khác kém hiệu quả sang trồng cà phê vối (Robuta) và cà phê chè (Catimo), tập trung ở Di Linh 2.648 ha; Bảo Lâm 1.526,5 ha; Lâm Hà 1.381,6 ha; Bảo Lộc 680 ha; Đam Rông 440 ha; Đức Trọng 200 ha; Lạc Dương 100 ha; Đà Lạt 35,6 ha.

        Cây ăn quả ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, chủ yếu được trồng xen trong vườn cây lâu năm cà phê, chè, diện tích chuyển đổi giống cũ, già cỗi và trồng mới thực hiện 689,6 ha, bằng 84,86% (-123 ha) so với cùng kỳ (trồng mới làm tăng diện tích 465,6 ha). Trong đó, bơ 187 ha, sầu riêng 155,2 ha, mác mác 105,6 ha, măng cụt 95,7 ha, mít 138,3 ha,  trồng tập trung ở Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Bảo Lộc, Đức Trọng, Lâm Hà.

Dâu tằm thực hiện trồng mới 346,2 ha, bằng 64,27% so với cùng kỳ, chủ yếu ở Bảo Lộc 45 ha, Lâm Hà 157 ha, Đạ Tẻh 112 ha.

        Hồ tiêu 142,5 ha diện tích trồng mới, tập trung ở huyện Bảo Lâm 57,5 ha, Lâm Hà 45 ha, Đam Rông 35 ha. Trong những năm qua giá hạt tiêu đen tăng cao và ổn định, hiện dao động ở mức 185 - 200 ngàn đồng/1 kg đem lại hiệu quả kinh tế cao người dân tích cực đầu tư mở rộng vườn tiêu, trồng xen trong vườn cà phê.

        Diện tích trồng mới mắc ca 19,6 ha, được trồng ở Đam Rông 13,3 ha, Bảo Lâm 4,3 ha, Đức Trọng 2 ha.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng (từ 10/9 - 10/10/2016)

 Trên cây lúa: Rầy nâu gây hại 61,3 ha tại Đạ Tẻh, Di Linh, Cát Tiên; đạo ôn lá nhiễm 839 ha tại Di Linh, Đức Trọng, Lạc Dương, Đạ Tẻh ( 280 ha nhiễm nặng tại Đạ Tẻh, Di Linh; bệnh vàng lá sinh lý nhiễm 86 ha tại Đạ Tẻh; ốc bươu vàng, đạo ôn cổ bông, bọ trĩ, sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở mức nhẹ.

 Trên cây cà chua: Sâu xanh gây hại 210 ha; bệnh xoăn lá nhiễm 696,1 ha tại Đơn Dương, Đức Trọng (126,2 ha nhiễm nặng).

Trên cây rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ nhiễm 182 ha tại Lạc Dương, Đơn Dương, Đà Lạt, Đức Trọng (15,5 ha nhiễm nặng).

Trên cây cà phê: Sâu đục thân gây hại 1.451 ha tại Đà Lạt (nhiễm nặng 703 ha); bọ xít muỗi gây hại 1.977,5 ha tại Đà Lạt, Đam Rông, Lạc Dương (nhiễm nặng 127,2 ha).

Trên cây chè: Bọ cánh tơ gây hại 1.440 ha; bọ xít muỗi gây hại 1.700 ha tại Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc, Bảo Lâm.

Trên cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 1.706 ha tại Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đạ Huoai, Đam Rông; bệnh thán thư gây hại 1.691 ha tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

d. Tình hình chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển.

Tổng đàn trâu tại thời điểm 16/10/2016 ước đạt 13.024 con, giảm 17,8% (-2.825 con). Chăn nuôi trâu giảm, nguyên nhân do trong quá trình cơ giới hóa, máy cày đã dần thay thế sức kéo trâu, bò trong khâu làm đất; mặt khác hạn hán kéo dài, ảnh hưởng đến nguồn cỏ tự nhiên cạn kiệt nên dẫn đến tình hình giết thịt và xuất bán của bà con.

Đàn bò ước đạt 91.323 con, tăng 6,8% (+5.826 con). Chăn nuôi bò tập trung nhiều ở các địa phương như: Đơn Dương,  Đức Trọng, Lâm Hà, Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đam Rông. Theo đề án phát triển chăn nuôi bò thịt cao sản giai đoạn 2016-2020 của tỉnh sẽ thực hiện thí điểm tại một số địa phương như: Đức Trọng, Đam Rông, Lâm Hà, Cát Tiên. Sau đó triển khai phổ biến tại các huyện còn lại với giống bò thịt cao sản, phù hợp với điều kiện khí hậu của từng địa phương. Với mục tiêu phát triển nhanh đàn bò thịt, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt cao sản, nâng cao chất lượng cạnh tranh ngành chăn nuôi bò thịt của tỉnh với các sản phẩm nhập nội; tăng thu nhập cho người chăn nuôi, bảo vệ môi trường.

 Đàn bò sữa ước đạt 18.510 con, tăng 8,3% (+1.417 con) so thời điểm 01/10/2015, tập trung ở các địa phương Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà và TP Bảo Lộc. Giá sữa tươi hiện nay trên địa bàn tỉnh dao động từ 12.000đ/lít – 14.500đ/lít tùy loại.

Tổng đàn lợn tại thời điểm 16/10/2016 ước đạt 415.530 con, tăng 8,9% (+34.012 con) so với cùng kỳ. Hiện nay, các thương lái Trung Quốc tạm ngừng thu mua lợn nên giá lợn hơi giảm so với những tháng đầu năm dao động từ 40.000đ/kg - 44.000đ/kg.

Tổng đàn gia cầm ước đạt 4.897,8 nghìn con, tăng 10,1% so với cùng kỳ.

Tình hình dịch bệnh: Dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng không xảy ra, tuy nhiên một số địa phương có xuất hiện dịch bệnh trên đàn bò nhưng chưa bùng phát thành dịch, do đó nguy cơ bùng phát dịch bệnh từ các ổ dịch cũ là rất cao.

Để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh nói chung và bệnh cúm gia cầm nói riêng, ngành chức năng đã đề ra các biện pháp quyết liệt để phòng ngừa, ngăn chặn vận chuyển, kinh doanh gia cầm, sản phẩm trái phép. Công tác kiểm dịch động vật xuất và nhập vào trong tỉnh được thực hiện thường xuyên theo quy trình kiểm dịch.

Tăng cường công tác quản lý giết mổ gia súc, gia cầm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống dịch bệnh.

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân về nguy cơ, mức độ nguy hiểm của dịch cúm gia cầm, vận động, nâng cao ý thức của người dân để thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, vệ sinh chuồng trại.

Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin diễn biến tình hình dịch bệnh, giám sát chặt chẽ các hộ gia đình, trang trại có chăn nuôi gia súc, gia cầm để có giải pháp xử lý kịp thời.

Đôn đốc, kiểm tra các địa phương thực hiện kế hoạch tiêm phòng gia súc, gia cầm, tiêu độc khử trùng và quản lý giết mổ theo kế hoạch đã được phê duyệt.

        1.2. Tình hình sản xuất lâm nghiệp

        Trồng và nuôi rừng: Ước tính trồng mới rừng tập trung ở các loại hình kinh tế trên địa bàn trong tháng 10/2016 thực hiện được 366 ha. Lũy kế đến hết tháng 10/2016 trồng mới rừng tập trung đạt 1.240 ha, giảm 46,71%, do vốn đầu tư trồng mới rừng tập trung tại các đơn vị đạt thấp so với cùng kỳ. Diện tích trồng mới chủ yếu là rừng sản xuất, trong đó: các đơn vị thuộc loại hình kinh tế nhà nước thực hiện 1.210 ha; giảm 45,78% (-1.021,7 ha), còn lại thuộc kinh tế tư nhân và hộ gia đình. Công tác trồng cây lâm nghiệp trên địa bàn vẫn đang tiếp tục, thực hiện 562 nghìn cây, giảm 18,08%. Chăm sóc rừng trồng đạt 7.208 ha, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Trong đó, các đơn vị lâm nghiệp nhà nước thực hiện 5.618 ha, chiếm 77,9%, còn lại là kinh tế hộ gia đình và tư nhân thực hiện.

        Giao khoán quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn toàn tỉnh thực hiện 418.873,5 ha cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức cá nhân thuộc diện nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn, tăng 7,6% so với cùng kỳ.

        Khai thác lâm sản: Ước tính trong tháng 10/2016 sản lượng gỗ khai thác của các loại hình kinh tế trên địa bàn toàn tỉnh thực hiện 3.050 m3. Lũy kế đến hết tháng 10/2016 sản lượng gỗ khai thác đạt 81.840 m3, giảm 27,44% (-30.942 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác giảm chủ yếu ở rừng tự nhiên, do chủ trương của Chính phủ đóng cửa rừng cấm khai thác, nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gien động, thực vật rừng.

Sản lượng củi tận dụng và khai thác lũy kế đến hết tháng 10/2016 ở các loại hình kinh tế đạt 157.286 ster, giảm 28,14% (-61.595 ster); lồ ô các loại 2.304 nghìn cây, giảm 2,95% (-70 nghìn cây); song mây 45 nghìn sợi, giảm 10% (-5 nghìn sợi); le choái cấm đậu 322 nghìn cây, giảm 6,9% (-29 nghìn cây); lá buông khô 20,0 tấn, bằng 100%; mung cây 902 nghìn cây, giảm 3,01% (-28 nghìn cây); hạt giống lâm nghiệp các loại 250 kg, giảm 20,1% (-63 kg) so với cùng kỳ.

        Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong tháng 10/2016, lực lượng chức năng đã phát hiện lập biên bản 126 vụ vi phạm, trong đó: Khai thác gỗ và lâm sản trái phép 28 vụ; phá rừng trái pháp luật 25 vụ/5,72 ha rừng; vận chuyển, mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước 33 vụ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý là 121 vụ, trong đó xử lý hành chính 117 vụ, chuyển xử lý hình sự 04 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 41 phương tiện, dụng cụ các loại; 264 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách 1,8 tỷ đồng.

Lũy kế từ đầu năm đến 20/10/2016 tổng số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn toàn tỉnh 1.265 vụ, giảm 20,34% (-323 vụ) so với cùng kỳ, chủ yếu ở hành vi: Phá rừng trái phép 303 vụ, giảm 27,68% (-116 vụ), diện tích rừng bị phá 106,9 ha, giảm 25,47%       (-36,5 ha); vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 320 vụ, giảm 9,6% (-34 vụ); mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 540 vụ, giảm 24,9% (-179 vụ) so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 1.172 vụ, trong đó xử lý hành chính 1.125 vụ, chuyển xử lý hình sự 47 vụ. Lâm sản, phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: 450 chiếc phương tiện, dụng cụ các loại; gỗ các loại 2.010 m3. Thu nộp ngân sách 10,25 tỷ đồng.

Công tác cho thuê rừng: Tính đến nay, toàn tỉnh hiện có 334 doanh nghiệp/401 dự án thuê đất, thuê rừng đang triển khai thực hiện dự án với tổng số diện tích là 57.255,42 ha (đã trừ phần diện tích thu hồi một phần của các dự án). Nhìn chung, các dự án thuê đất, thuê rừng đã và đang triển khai thực hiện trong thời gian qua đã góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá việc bảo vệ và phát triển rừng, thu hút nhiều nguồn lực đầu tư phát triển nghề rừng; giải quyết việc làm, nâng cao, cải thiện đời sống người dân khu vực nông thôn miền núi sống gần rừng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên.

Tuy nhiên, vẫn còn một số dự triển khai chậm tiến độ, không tổ chức bố trí lực lượng tuần tra, quản lý bảo vệ rừng, công tác phối kết hợp giữa các chủ doanh nghiệp với các ngành chức năng tại địa phương chưa kịp thời, thường xuyên nên để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép nhưng không kịp thời phát hiện, báo cáo hoặc phối hợp với cơ quan chức năng để tổ chức ngăn chặn, xử lý. Đến nay UBND tỉnh đã thu hồi 177 dự án/25.855,16 ha, gồm 141 dự án thu hồi toàn bộ/23.071,03 ha và 36 dự án thu hồi một phần/2.784,13 ha.

          2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 10 năm 2016 tăng tăng 5,2% so với cùng kỳ, nhưng không đồng đều giữa các ngành và các nhóm sản phẩm.

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 12,06% so với cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm đá xây dựng đạt 66,5 ngàn m3, giảm 14,55%; cát tự nhiên đạt 26 ngàn m3, giảm 8,41%. Ngành khai khoáng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khai thác sản phẩm đá, cát do nguồn nguyên liệu hạn chế và thực hiện các chính sách nhằm bảo vệ môi trường tài nguyên, nhất là hạn chế tình trạng khai thác cát trên các sông gây sạt lở đất ở và đất sản xuất tại các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đơn Dương, Di Linh, Lâm Hà.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 19,85% (do sản phẩm phân bón NPK của công ty cổ phần Bình Điền Lâm Đồng đạt 5.154,6 tấn, tăng 19,85%); sản xuất kim loại tăng 15,09% (do sản phẩm Alumin đạt 42,8 ngàn tấn, tăng 28,19%); ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,36% (trong đó: sản phẩm quả và hạt ướp lạnh đạt 359,6 tấn, tăng 17,99%; sản phẩm rau ướp lạnh đạt 244,4 tấn, tăng 13,78%; sản phẩm chè nguyên chất đạt 3.704,8 tấn, tăng 2,3%); ngành sản xuất trang phục tăng 1,41% (trong đó: sản phẩm áo khoác dài, áo khoác không tay đạt 254,5 ngàn cái, tăng 3,7%; sản phẩm bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc đạt 905,6 ngàn cái, tăng 0,62%); ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 0,72% (trong đó: sản phẩm gạch xây dựng đạt 20,9 triệu viên tăng 0,72%).

Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ như: ngành dệt giảm 26,15% (trong đó: sản phẩm vải dệt thoi từ sợi tơ tằm đạt 246,1 ngàn m2, giảm 39,19%); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 10,37% (trong đó: sản phẩm gỗ cưa hoặc xẻ đạt 5,4 ngàn m3, giảm 10,37%); ngành ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 8,78%. Nguyên nhân do sức tiêu thụ sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm chưa cao; một số doanh nghiệp chuyển từ sản xuất sản phẩm sang gia công sản phẩm.

Chỉ số sản xuất ngành phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,58% so với cùng kỳ; trong tháng 10/2016 có mưa lớn, đảm bảo việc tích nước của các hồ thủy điện và phát điện của các nhà máy thủy điện. Sản lượng điện sản xuất đạt 503,5 triệu kwh, tăng 5,75%; sản lượng điện thương phẩm đạt 81,8 triệu kwh, tăng 14,42%.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,04% so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 12,39% và hoạt động thu gom rác thải tăng 3,25% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng

 

 

 

Chỉ số

10 tháng

 năm 2014

so với cùng kỳ

(%)

Chỉ số

10 tháng

năm 2015

so với cùng kỳ

(%)

Chỉ số

10 tháng

năm 2016

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

126,98

106,64

104,37

  1. Khai khoáng

107,25

85,88

95,26

  1. Chế biến, chế tạo

140,55

113,52

107,68

  1. Sản xuất, phân phối điện

110,09

98,98

99,62

  1. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

102,96

103,83

108,45

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2016 tăng 4,37% so với cùng kỳ (mức tăng thấp nhất trong 2 năm trở lại đây 10 tháng 2014 tăng 26,98%; 10 tháng 2015 tăng 6,64%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng 7,68% (riêng ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20,41%; ngành sản xuất trang phục tăng 6,67%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 4,41%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,45%. Ngành khai khoáng giảm 4,74%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí giảm 0,38% so với cùng kỳ.

*Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2016 tăng 4,05% so với cùng kỳ. Chủ yếu ở một số ngành: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng mạnh 38,83%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 32,7%. Bên cạnh đó, chỉ số tiêu thụ những ngành công nghiệp khác trong tháng 9 có xu hướng giảm so với cùng kỳ như: ngành dệt giảm 28,9%; sản xuất trang phục giảm 26,77%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 23,17%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 11,94%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 3,88%.

*Chỉ số tồn kho tháng 9/2016 giảm 17,72% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 97,57%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 68,95%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 59,19%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 28,38%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 64,49%; ngành dệt tăng 4,79%; sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 3,83% (chủ yếu sản phẩm rau ướp lạnh tăng 109,23%) so với cùng kỳ.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10 năm 2016 giảm 0,96% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: ngành khai khoáng giảm 1,99%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,18%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 0,06% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải  không biến động so với cùng kỳ. Chia theo khu vực: doanh nghiệp nhà nước tăng 0,19%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,26%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 3,91% so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Từ đầu năm đến 20/10/2016 tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 702 doanh nghiệp, tăng 22% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký 5.502,3 tỷ đồng, tăng 212%; số lượng đơn vị trực thuộc thành lập mới 275 đơn vị, tăng 3,1%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có 176 doanh nghiệp, giảm 2,8%; số doanh nghiệp đăng ký giải thể tự nguyện có 125 doanh nghiệp. Rà soát và thu hồi 86 doanh nghiệp.

4. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2016 ước đạt 3.017,4 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 244,3 tỷ đồng, tăng 6,64%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.741 tỷ đồng, tăng 10,26% (kinh tế tư nhân đạt 757,3 tỷ đồng, tăng 33,56%; kinh tế cá thể đạt 1.983,5 tỷ đồng, tăng 3,38%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 32,1 tỷ đồng, giảm 10,11% so với cùng kỳ. Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2016 đạt 29.669,7 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 2.240,5 tỷ đồng, giảm 13,05%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 27.049,2 tỷ đồng, tăng 10,42% (kinh tế tư nhân đạt 7.183,1 tỷ đồng, tăng 30,37%; kinh tế cá thể đạt 19.862,5 tỷ đồng, tăng 4,62%) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 380 tỷ đồng, giảm 8,92% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10/2016 ước đạt 2.207,8 tỷ đồng, tăng 10,47% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 91 tỷ đồng, giảm 16,73%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.087,4 tỷ đồng, tăng 12,21%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 29,4 tỷ đồng, tăng 1,15% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.007,5 tỷ đồng, tăng 36,01%; nhóm xăng, dầu các loại đạt 204,3 tỷ đồng, tăng 5,03%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 131,6 tỷ đồng, giảm 11,93%. Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2016 đạt 21.308,8 tỷ đồng, tăng 8,62% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 897 tỷ đồng, giảm 24,76%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 20.082,9 tỷ đồng, tăng 10,98%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 328,9 tỷ đồng, giảm 0,43% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 9.805 tỷ đồng, tăng 22,76%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.331,2 tỷ đồng, tăng 4,55%; nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 1.312,3 tỷ đồng, giảm 9,39%.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 10/2016 ước đạt 313,8 tỷ đồng, tăng 16,1%; trong đó, doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 7,4 tỷ đồng, tăng 12,85%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 194,5 tỷ đồng, tăng 23,28%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 53,6 tỷ đồng, tăng 32,34% so với cùng kỳ. Ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) 10 tháng năm 2016 đạt 3.065,6 tỷ đồng, tăng 8,3%; trong đó, doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 72,7 tỷ đồng, tăng 19,57%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.922,2 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 523,1 tỷ đồng, tăng 37,74% so với cùng kỳ.

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10/2016 ước đạt 493,5 tỷ đồng, tăng 3,06% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 37,9 tỷ đồng, giảm 13,98%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 455,6 tỷ đồng, tăng 4,79% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách phục vụ đạt 216,3 nghìn lượt khách, giảm 15,75% so với cùng kỳ; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 215,5 nghìn lượt khách, giảm 14,98% (khách trong nước đạt 198 nghìn lượt khách, giảm 17,04%; khách quốc tế đạt 17,5 nghìn lượt khách). Ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng năm 2016 đạt 5.260,1 tỷ đồng, tăng 5,14% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 573,4 tỷ đồng, tăng 1,65%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 4.686,7 tỷ đồng, tăng 5,58%. Tổng lượt khách phục vụ đạt 2.990,9 nghìn lượt khách, tăng 7,35%; trong đó, khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 2.973,9 nghìn lượt khách, tăng 7,81% (khách trong nước đạt 2.743,5 nghìn lượt khách, tăng 5,33%; khách quốc tế đạt 230,4 nghìn lượt khách, tăng 49,96% so với cùng kỳ).

- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 10/2016 ước đạt 2,3 tỷ đồng, giảm 21,49% so với cùng kỳ; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 898 lượt khách, bằng 57,84%. Ước doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm 2016 đạt 35,2 tỷ đồng, giảm 11,04%; tổng số khách do các cơ sở lữ hành phục vụ đạt 14.943 lượt khách, giảm 14,28% so với cùng kỳ.

         5. Vận tải, bưu chính viễn thông

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 10/2016 đạt 389,4 tỷ đồng, tăng 17,63% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 252,2 tỷ đồng, tăng 16,76%; doanh thu vận tải hàng không đạt 115,1 tỷ đồng, tăng 26,21%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 22,1 tỷ đồng, giảm 7,3% so với cùng kỳ. Ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 10 tháng năm 2016 đạt 3.853 tỷ đồng, tăng 20,13% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 2.466 tỷ đồng, tăng 11,9%; doanh thu vận tải hàng không đạt 1.213,5 tỷ đồng, tăng 50,84%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 173,2 tỷ đồng, giảm 12,88% so với cùng kỳ.

- Vận tải hành khách tháng 10/2016 ước đạt 2.208,2 nghìn hành khách, tăng 4,99% và luân chuyển đạt 278,7 triệu hành khách.km, tăng 15,68% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.151,9 nghìn hành khách, tăng 4,4% và luân chuyển đạt 247,5 triệu hành khách.km, tăng 14,6%; vận tải hành khách hàng không đạt 50,9 nghìn hành khách, tăng 36,22% và luân chuyển đạt 31,2 triệu hành khách.km, tăng 25,11%. Ước vận tải hành khách 10 tháng năm 2016 đạt 25.572,9 nghìn hành khách, tăng 6,74%; luân chuyển đạt 3.127,5 triệu hành khách.km, tăng 16,49% so với cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 24.985,8 nghìn hành khách, tăng 6,03% và luân chuyển đạt 2.803,6 triệu hành khách.km, tăng 14,33%; vận tải hành khách hàng không đạt 530,7 nghìn hành khách, tăng 54,02% và luân chuyển đạt 324 triệu hành khách.km, tăng 39,17% so với cùng kỳ.

- Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ tháng 10/2016 ước đạt 865,1 nghìn tấn, tăng 13,42% và luân chuyển đạt 118,8 triệu tấn.km, tăng 10,99% so với cùng kỳ. Ước khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ 10 tháng năm 2016 đạt 7.805 nghìn tấn, tăng 9,72%; luân chuyển đạt 1.213,5 triệu tấn.km, tăng 27,96% so với cùng kỳ.

- Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 10/2016 ước đạt 123,8 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 10.845 thuê bao; trong đó, thuê bao di động đạt 10.650 thuê bao, thuê bao cố định đạt 195 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 3.800 thuê bao, tăng 15,89% so với cùng kỳ. Ước doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông 10 tháng năm 2016 đạt 1.208,4 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ. Số thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 158.628 thuê bao, trong đó; thuê bao di động đạt 156.752 thuê bao, thuê bao cố định đạt 1.876 thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới đạt 48.511 thuê bao, tăng 96,11% so với cùng kỳ.

         II. KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ

         1. Giá cả thị trường

         1.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tháng 10/2016 tình hình thị trường, giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng nhẹ, bên cạnh các yếu tố mang tính chu kỳ, mặt bằng giá hàng hóa những tháng cuối năm nay còn chịu tác động từ sức ép việc điều chỉnh giá xăng dầu tăng và trong quý 4 hàng năm là thời điểm chuẩn bị cho các dịp lễ, Tết cuối năm nên giá cả thị trường đang có xu hướng nhích dần lên do nhu cầu tiêu dùng và dự trữ. Tuy nhiên, nguồn cung các hàng hóa dịch vụ tiêu dùng trong nước dồi dào. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý giá, bình ổn thị trường, nhóm hàng nhiên liệu, nguyên liệu được điều hành theo hướng ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã góp phần kiềm chế bớt tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng. CPI tháng 10/2016 tăng 0,38% so với tháng 9/2016, tăng 2,71% so với cùng kỳ. Cụ thể: Nhóm giao thông tăng 2,07%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,42% trong đó nhóm lương thực tăng 0,46%, nhóm thực phẩm tăng 0,4%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,45%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,2%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,12%; nhóm văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,06%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; nhóm giáo dục tăng 0,02%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01% so với tháng trước. Bên cạnh đó, nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,21%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,16%; nhóm bưu chính viễn thông ổn định so với tháng trước. Bình quân 10 tháng năm 2016, CPI tăng 1,33% so với bình quân cùng kỳ. 

1.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng 99,99 trên địa bàn tỉnh ngày 22/10/2016 được bán ra bình quân 3,47 triệu đồng/chỉ, giảm 1,06% so với tháng trước tăng 9,5% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng 10/2016 dao động ở mức 22.329 đồng/USD. Chỉ số giá USD tháng 10/2016 tăng 0,24% so với tháng trước và giảm 1,17% so với cùng kỳ.

2. Đầu tư

Trong tháng 10 năm 2016, công tác đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được đẩy mạnh, tập trung thi công và đưa vào sử dụng công trình chuyển tiếp năm 2015 và triển khai thi công các công trình mới thuộc kế hoạch năm 2016. Nhìn chung công tác đầu tư xây dựng, thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh trong tháng 10 tăng khá so với tháng trước và cùng kỳ.

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn

ngân sách Nhà nước địa phương quản lý

                                                                                                               

  

Ước tính

tháng 10
năm 2016

(Tỷ đồng)


Ước tính

10 tháng

năm 2016

(Tỷ đồng)

Tháng 10
năm 2016
so với

 cùng kỳ

(%)

10 tháng
năm 2016

so với

cùng kỳ

(%)

                      Tổng số

130,8

1.396,5

120,35

98,82

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh

109,0

1.140,1

126,42

100,10

 

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện

21,4

240,9

110,60

93,46

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã

0,4

15,5

  152,14

 -

           

Dự ước tháng 10/2016, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ( không bao gồm vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn trả nợ), đạt 130,8 tỷ đồng, tăng 20,35% so với cùng kỳ.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 109 tỷ đồng, chiếm 83,36% trong tổng vốn, tăng 26,42% so với cùng kỳ, chủ yếu đầu tư các công trình hạ tầng cơ sở nội thị, công trình văn hóa công cộng. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 46,9 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 34,4 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 5,2 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 17,2 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 5,4 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 21,4 tỷ đồng, chiếm 16,35% trong tổng vốn, tăng 10,6% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 14,4 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 6,6 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 0,4 tỷ đồng, chiếm 0,29% trong tổng vốn.

Dự ước 10 tháng năm 2016, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ( không bao gồm vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn trả nợ), đạt 1.396,5 tỷ đồng, giảm 1,18% so với cùng kỳ và đạt 80,85% so với kế hoạch. Trong đó:

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.140,1 tỷ đồng, chiếm 81,64% trong tổng vốn, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 540,7 tỷ đồng; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 228,7 tỷ đồng; vốn xổ số kiến thiết đạt 227 tỷ đồng, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, các ngành kinh tế có ưu thế của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, y tế, giáo dục...

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 240,9 tỷ đồng, chiếm 17,25% trong tổng vốn, giảm 6,54% so với cùng kỳ, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn các huyện, thành phố.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 15,5 tỷ đồng, chiếm 1,11% trong tổng vốn.

Một số công trình đang triển khai trên địa bàn tỉnh: Dự án Quảng trường Trung tâm thành phố Đà Lạt, trường Mầm non 8, trường tiểu học Nam Thiên, đường Thông Thiên Học, hệ thống thoát nước đường Thiện Ý- Trần Quốc Toản...(thành phố Đà Lạt); đường Lộc Nga- Tân Lạc, đường Trần Quốc Toản, đường Phan Đình Phùng, trường THCS Lộc Nga, trường mầm non Sao Sáng...(thành phố Bảo Lộc); công trình/ dự án đường Tân Hà -Phúc Thọ, hồ chứa nước Đạ Tô Tôn, đường Đạ Đờn - Phi Tô - Nam Ban, hệ thống thoát nước, cây xanh đường Đinh Văn...(huyện Lâm Hà); công trình/ dự án trường TH Lạc Lâm, Thạnh Mỹ, UBND xã Pró, đường giao thông thôn Kinh tế mới Châu Sơn, các công trình thuộc chương trình nông thôn mới...(huyện Đơn Dương).

          * Riêng nguồn trái phiếu Chính phủ dự ước 10 tháng đầu năm 2016 ước đạt 181,5 tỷ đồng, đạt 66,78% so kế hoạch năm 2016, chủ yếu thực hiện các công trình giao thông, thủy lợi, giáo dục và chương trình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: Đến ngày 20/10/2016, điều chỉnh 11 Giấy chứng nhận đầu tư; không có dự án bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư. Hiện nay, toàn tỉnh có 101 dự án còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký 455,3 triệu USD (trong đó: 88 dự án 100% vốn nước ngoài, vốn đăng ký 409,1 triệu USD; 12 dự án liên doanh, vốn đăng ký 44,2 triệu USD; 01 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh, vốn đăng ký 2 triệu USD). Đến nay, có 86 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 270 triệu USD, bằng 59,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.

     3. Hoạt động tài chính, tín dụng

3.1. Hoạt động tài chính

Trong tháng 10/2016 các cấp, các ngành tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính theo hướng rõ ràng, minh bạch; tiếp tục tập trung chỉ đạo vận động thu hút các dự án đầu tư đối với những ngành, lĩnh vực có nguồn thu ngân sách lớn; thực hiện các biện pháp khuyến khích, đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có giá trị cao của tỉnh; kịp thời tháo gỡ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh; tập trung thu nợ đọng thuế, nợ tiền đất của các dự án bất động sản phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nước năm 2016.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 15/10/2016 đạt 4.686,5 tỷ đồng, bằng 68,92% so dự toán, tăng 26,69% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 3.472,9 tỷ đồng, bằng 72,35% so dự toán, tăng 7,99% so với cùng kỳ. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp Trung ương đạt 434,6 tỷ đồng, bằng 43,26% so dự toán, giảm 22,26%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 76,7 tỷ đồng, bằng 98,84% so dự toán, giảm 15,73%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 86,8 tỷ đồng, bằng 87% so dự toán, tăng 48,3%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 910,8 t đồng, bằng 63,85% so dự toán, tăng 13,03%; thuế thu nhập cá nhân đạt 281,8 tỷ đồng, bằng 69,41% so dự toán, tăng 12,79%; thuế trước bạ đạt 199,1 tỷ đồng, bằng 77,69% so dự toán, tăng 22,39%; thu phí, lệ phí đạt 180,1 tỷ đồng, bằng 85,46% so dự toán, giảm 6,13% so với cùng kỳ; thu từ đất, nhà đạt 521,4 tỷ đồng, bằng 76,67% so dự toán, tăng 11,83% so với cùng kỳ; thu khác ngân sách đạt 146,2 tỷ đồng, bằng 36,54% so dự toán, tăng 13,64% so với cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết đạt 424,4 tỷ đồng, bằng 98,71% dự toán, tăng 11,72% so với cùng kỳ. Thu thuế qua hải quan đạt gần 226,7 tỷ đồng, bằng 226,66% so dự toán, tăng 294,51% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 15/10/2016 đạt 8.729,3 tỷ đồng, bằng 84,38% so dự toán, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Trong đó, thu điều tiết đạt 4.099,8 tỷ đồng, tăng 22,99%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 2.791 tỷ đồng, giảm 17,29% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 15/10/2016 đạt 11.729 tỷ đồng, bằng 113,38% so dự toán, tăng 3,82% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 2.435,5 tỷ đồng, bằng 199,87% so dự toán, tăng 31,83%; chi thường xuyên đạt 4.784,3 tỷ đồng, bằng 77,87% dự toán, giảm 2,79%. Trong tổng chi thường xuyên; chi giáo dục đào tạo đạt 2.088,9 tỷ đồng, bằng 75,89% so dự toán, giảm 4,82%; chi y tế đạt 455,4 tỷ đồng, bằng 58,24% so dự toán, giảm 3,06%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 567,7 tỷ đồng, bằng 83,76% so dự toán, giảm 13,63%; chi quản lý hành chính đạt 1.040,2 tỷ đồng, bằng 84,73% so dự toán, tăng 2,75% so với cùng kỳ.

3.2. Hoạt động tín dụng

Trong tháng 10/2016 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lâm Đồng tiếp tục triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách, quy định mới của ngành, của Nhà nước đến các tổ chức tín dụng; thực hiện công tác kế toán và thanh toán bảo đảm tuyệt đối an toàn kho quỹ đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền mặt hợp lý cho các chi nhánh ngân hàng và Kho bạc Nhà nước trên địa bàn; xử lý nghiệp vụ quản lý ngoại hối, quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo cơ chế một cửa, nghiệp vụ quản lý công tác thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Ước đến ngày 30/9/2016 vốn huy động đạt 37.246 tỷ đồng, tăng 30,29% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 31.145 tỷ đồng, chiếm 83,62% tổng vốn huy động, tăng 30,82%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 6.101 tỷ đồng, chiếm 16,38% tổng vốn huy động, tăng 27,66% so với cùng kỳ.

Ước đến ngày 30/9/2016 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 48.708 tỷ đồng, tăng 24,53% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 17.926 tỷ đồng, chiếm 36,8% tổng dư nợ, tăng 22,48%; dư nợ ngắn hạn 30.782 tỷ đồng, chiếm 63,2% tổng dư nợ, tăng 25,76% so với cùng kỳ.

         Ước đến ngày 30/9/2016 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 364 tỷ đồng, chiếm 0,75% tổng dư nợ, tăng 12,35% cùng kỳ.

         4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

         4.1. Xuất khẩu hàng hóa

          Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2016 đạt 38,5 triệu USD, tăng 49,75% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt gần 14 triệu USD, tăng 64,36%; kinh tế tư nhân đạt 12,4 triệu USD, tăng 50,15%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,1 triệu USD, tăng 36,21% so với cùng kỳ. Các mặt hàng như: Alumin đạt 55 nghìn tấn, trị giá 13,8 triệu USD, tăng 103,64% về lượng và tăng 82,26% về giá trị, xuất sang thị trường Ấn Độ đạt 6 triệu USD, Singapore đạt 4,9 triệu USD; hàng rau quả đạt 889,5 tấn, trị giá 1,9 triệu USD, tăng 98,62% về lượng và tăng 67,05% về giá trị; hạt điều đạt 108 tấn, trị giá 885 nghìn USD, giảm 10,01% về lượng và tăng 1,36% về giá trị; cà phê đạt 4.697,5 tấn, trị giá 8,8 triệu USD, tăng 104,29% về lượng và tăng 119,05% về giá trị, trong đó: cà phê xuất sang Singapo đạt 3,2 triệu USD, Italia đạt 3 triệu USD, Đức đạt 600 nghìn USD; chè chế biến đạt 1.804,8 tấn, trị giá 4,4 triệu USD, tăng 6,88% về lượng và tăng 8,25% về giá trị, chủ yếu là mặt hàng chè xanh, chè đen và chè chế biến xuất sang Pakixtan đạt 2,2 triệu USD, Đài Loan đạt 1 triệu USD; sản phẩm bằng plastic đạt 319,5 nghìn USD, giảm 22,31%; hàng dệt may đạt 1,5 triệu USD, giảm 11,31%; hàng hóa khác đạt 5,6 triệu USD, tăng 17,17% so với cùng kỳ.

         Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng năm 2016 đạt 356,3 triệu USD, tăng 0,56% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt gần 121 triệu USD, chiếm 33,95% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và giảm 10,3%; kinh tế tư nhân đạt 109,7 triệu USD, chiếm 30,79% và tăng 30,29%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 125,6 triệu USD, chiếm 35,26% và giảm 6,65% so với cùng kỳ. Các mặt hàng như: Alumin đạt 497,1 nghìn tấn, trị giá 117,8 triệu USD, tăng 27,25% về lượng và giảm 5,05% về giá trị; hàng rau quả đạt 7.377,3 tấn, trị giá 16,6 triệu USD, tăng 1,95% về lượng và giảm 2,24% về giá trị; hạt điều đạt 1.337,5 tấn, trị giá 10,7 triệu USD, tăng 4,78% về lượng và tăng 12,26% về giá trị; cà phê đạt 55 nghìn tấn, trị giá 98,3 triệu USD, tăng 13,64% về lượng và tăng 2,99% về giá trị; chè chế biến đạt 12,1 nghìn tấn, trị giá 26,1 triệu USD, tăng 6,52% về lượng và giảm 0,5% về giá trị; sản phẩm bằng plastic đạt 3,5 triệu USD, tăng 14,82%; hàng dệt may đạt 11,5 triệu USD, giảm 9,46%; hàng hóa khác đạt 59,2 triệu USD, tăng 17,57% so với cùng kỳ.

         4.2. Nhập khẩu hàng hóa     

         Kim ngạch nhập khẩu tháng 10/2016 đạt 14,2 triệu USD, tăng 90,07% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 10,3 triệu USD, tăng 83,39%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,9 triệu USD, tăng 110,94% so với cùng kỳ. Các sản phẩm nhập khẩu như: sản phẩm phân bón đạt 521 tấn, trị giá 250 nghìn USD, tăng 14,48% về lượng và tăng 44,56% về giá trị; tơ, xơ, sợi dệt đạt 39,4 tấn, trị giá 550,8 nghìn USD, giảm 6,91% về lượng và giảm 17,18% về giá trị; vải may mặc đạt 308,5 nghìn USD, giảm 30,37%; sắt thép các loại đạt 12 nghìn tấn, trị giá 4,5 triệu USD; hàng hóa khác đạt 6,1 triệu USD, tăng 9,69% so với cùng kỳ.

         Kim ngạch nhập khẩu 10 tháng năm 2016 đạt 106,5 triệu USD, tăng 23,44% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 74,5 triệu USD, chiếm 69,95% trong tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 33,75%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,7 triệu USD, chiếm 29,78% và tăng 4,03% so với cùng kỳ. Các sản phẩm nhập khẩu như: sản phẩm phân bón đạt 3.496,8 tấn, trị giá 1,7 triệu USD, giảm 17,51% về giá trị và tăng 2,31% về giá trị; tơ, xơ, sợi dệt đạt 263,9 tấn, trị giá 4 triệu USD, giảm 33,37% về lượng và giảm 35,38% về giá trị; vải may mặc đạt 4,9 triệu USD, tăng 30,41%; phụ liệu hàng may mặc đạt 1 triệu USD, giảm 46,08%; sắt thép các loại đạt 109,7 nghìn tấn, trị giá 38,8 triệu USD; máy móc thiết bị phụ tùng đạt 11,8 triệu USD, giảm 20,68%; hàng hóa khác đạt 31,5 triệu USD, giảm 20,54% so với cùng kỳ.

         III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền 

Trong tháng 10 năm 2016, ngành văn hóa- thông tin Lâm Đồng tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Toàn tỉnh đã treo 240 phướn với tổng diện tích 492,16 m2, nội dung tuyên truyền gồm có:

Tổ chức tuyên truyền hưởng ứng ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy (4/10); phát động quyên góp quỹ vì người nghèo “Nhân ngày vì người nghèo 17/10 hàng năm”; tuyên truyền  ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10; ngày phụ nữ Việt Nam 20/10; tuyên truyền cổ động chào mừng Đại hội Đại biểu Phụ nữ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX nhiệm kỳ (2016-2021).

Các đội chiếu bóng lưu động tổ chức 45 buổi chiếu phim phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thu hút trên 2.000 người xem. Hoạt động bảo tàng mở cửa thường xuyên đã đón trên 1.041 lượt khách. Thư viện tỉnh mở cửa phục vụ 600 lượt bạn đọc.

Ngành văn hóa Lâm Đồng tham gia liên hoan Đàn, hát dân ca 3 miền tại tỉnh Kiên Giang, từ 25/9 đến ngày 02/10/2016, đoàn Lâm Đồng có 06 tiết mục, kết quả đạt 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc và giải vàng toàn đoàn.

2. Hoạt động thể dục - thể thao

Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” luôn được ngành thể dục thể thao Lâm Đồng chú trọng với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng rộng khắp, thu hút nhiều đối tượng thuộc các lứa tuổi tham gia vào việc rèn luyện sức khỏe, vui chơi lành mạnh, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Thể thao thành tích cao: Tham gia giải bóng bàn Cúp các câu lạc bộ toàn quốc từ ngày 16-23/10/2016 tại Vũng tàu; giải cầu lông trẻ châu Á từ ngày 16-23/10/2016 tại Indonesia. 

Thể dục thể thao quần chúng: Giải vô địch bóng chuyền nữ tỉnh từ ngày 12 - 15/10/2016 tại huyện Lâm Hà, có 14 đội tham gia. Phối hợp với Ban đại diện Hội người cao tuổi tỉnh và UBND huyện Đạ Tẻh tổ chức Hội thao người cao tuổi toàn tỉnh lần thứ VI từ 05-07/10/2016 tại huyện Đạ Tẻh, thi đấu 4 môn: Thể dục dưỡng sinh, bóng chuyền, bóng cửa và cờ tướng; có 550 VĐV của 16 đơn vị tham gia; kết thúc hội thao, đội TP.Đà Lạt đã giành giải nhất toàn đoàn. Giải nhất môn thể dục dưỡng sinh và môn cờ tướng thuộc về đội Đà Lạt, môn bóng cửa đội TP. Bảo Lộc, môn bóng chuyền hơi nam đội huyện Bảo Lâm, bóng chuyền hơi nữ đội huyện Đạ Tẻh. Ngoài ra, giúp hội thao Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ngày 15/10/2016, thi đấu 02 môn: cờ tướng và kéo co.

3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Thực hiện phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, ngành Giáo dục- Đào tạo Lâm Đồng đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt giáo dục ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Triển khai mạnh mẽ việc đổi mới phương pháp dạy và học, ứng dụng công nghệ thông tin. Đó là dạy học hướng vào cá nhân học sinh, đề cao dạy phương pháp tự học, tăng cường tính chủ động cho học sinh, dạy kỹ năng thích ứng với cuộc sống; dạy học dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng với phương châm “Dạy chữ để dạy người”, “Dạy thực - Học thực - Chất lượng thực”.

 Tổ chức hội nghị tổng kết chương trình SEQAP cấp tỉnh; phối hợp tổ chức cầu vồng châu Á tập huấn nội dung dạy học đối với học sinh khuyết tật học hòa nhập cho 200 giáo viên. Phối hợp với Công an tỉnh tập huấn công tác an ninh trật tự trường học; sơ kết việc thực hiện quy chế phối hợp 2 ngành (GDĐT-CA) năm 2016. Tổ chức hội thảo “Đổi mới sáng tạo dạy và học” năm học 2016 - 2017; tập huấn triển khai cuộc thi vô địch tin học văn phòng MOSWC; hội thảo, tập huấn chuyên môn cho cán bộ quản lý, giáo viên theo các chương trình giáo dục Intel đã được phê duyệt. Triển khai công tác coi thi, chấm thi, chọn đội tuyển và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi quốc gia năm học 2016-2017, kỳ thi năm nay có 383 thí sinh dự thi/ 10 môn văn hóa; chọn 60 học sinh vào đội tuyển chính thức và 20 học sinh vào đội tuyển dự bị (trong đó có một số học sinh đạt giải kỳ thi năm trước được xét chọn đặc cách vào đội tuyển năm nay); khai giảng năm học khối các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp. Kiểm tra công nhận trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật đánh giá, phương pháp dạy học của mô hình VNEN. Kiểm tra công tác triển khai nhiệm vụ năm học, việc triển khai mô hình trường học mới THCS tại các huyện, thành phố; công tác giáo dục thường xuyên và công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tại huyện Đơn Dương và TP. Bảo Lộc.

          4. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm 

Trong tháng 10/2016. Ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống cúm A (H1N1), (H5N1), (H5N6), (H7N9) và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ đầu tháng đến nay có 36 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tăng 30 trường hợp so với cùng kỳ, không có tử vong. Bệnh sốt rét có 28 trường hợp sốt rét mới, giảm 6 trường hợp so với cùng kỳ. Bệnh phong không phát hiện thêm bệnh nhân mới, toàn tỉnh quản lý 185 bệnh nhân phong và chăm sóc tàn phế cho 164 bệnh nhân. Không có bệnh nhân lao mới, hiện toàn tỉnh đang quản lý điều trị cho 334 bệnh nhân lao. Có 01 trường hợp nhiễm HIV mới (tích lũy: 1.133), không có trường hợp chuyển sang AIDS mới (tích lũy: 263), không có tử vong do AIDS mới (tích lũy: 504).

Công tác tiêm chủng mở rộng: đã thực hiện tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trên 18.500 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm UV2+ cho trên 23.600 phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Ngành Y tế Lâm Đồng tổ chức khám, cấp thuốc miễn phí, tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ, nhân ngày Quốc tế Người Cao tuổi 01/10, triển khai tuần lễ dinh dưỡng và phát triển từ ngày 16-23/10/2016, ngày vì người nghèo (17/10), hưởng ứng ngày thị giác thế giới diễn ra vào ngày 13/10/2016.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tiếp tục được quan tâm chú trọng nên từ đầu năm đến nay không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh.

5. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ cháy, làm chết 01 người và bị thương 05 người, thiệt hại ước tính hơn 1,5 tỷ đồng. Phát hiện và xử lý 04 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt là 100 triệu đồng.

6.Tai nạn giao thông

         Trong tháng, Ban An toàn giao thông tỉnh ban hành Kế hoạch số 186/KH-BATGT ngày 10/10/2016 về Tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông” năm 2016; Lập kế hoạch tổ chức lớp tập huấn tuyên truyền viên về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông cấp huyện, xã; Phối hợp với Công ty TNHH Truyền thông Đất Việt Sự kiện thực hiện tuyên truyền an toàn giao thông bằng hình thức lắp đặt pano tại cổng trường học, tường rào cạnh UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; Phối hợp với UBND huyện Đơn Dương kiểm tra công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông và hệ thống thoát nước dọc QL27 đoạn thuộc xã Lạc Lâm, Đơn Dương; Phối hợp Sở Giao thông vận tải, Chi cục Quản lý đường bộ IV.1, Ban An toàn giao thông huyện Di Linh kiểm tra thống nhất các vị trí lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu, cảnh bảo giao thông trên tuyến QL.20 đoạn qua địa bàn huyện Di Linh. Tính từ ngày 16/9/2016 đến ngày 15/10/2016, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông; làm chết 13 người; bị thương 23 người. Tính đến ngày 15/10/2016, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 178 vụ tai nạn giao thông; làm chết 124 người; bị thương 133 người. Trong tháng lực lượng chức năng phát hiện, xử lý 3.890 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, xử phạt 2,6 tỷ đồng, tước 268 giấy phép lái xe, tạm giữ 5 ô tô, 439 mô tô. Phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới: 347 ô tô và 4.179 mô tô. Tổng phương tiện đang quản lý là 42.375 ô tô và 836.542 mô tô.

         Trong 10 tháng năm 2016, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được giữ vững; đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ổn định và được cải thiện./.


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt