Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2015

 

Kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2015 diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu có nhiều biến động mạnh: Thị trường hàng hóa quốc tế, đặc biệt là dầu thô giảm giá liên tục và giảm ở mức sâu trong những tháng qua, chủ yếu do nguồn cung tăng, tác động tích cực tới tăng trưởng của các nước nhập khẩu dầu nhưng đối với các nước xuất khẩu dầu, tăng trưởng bị ảnh hưởng do doanh thu xuất khẩu giảm. Bên cạnh đó, mối quan ngại lớn nhất trong thời gian qua là sự bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu với việc giảm giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, khiến phần lớn các quốc gia châu Á phải đối mặt với áp lực phá giá tiền tệ để bảo đảm năng lực cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, thị trường tiền tệ và cổ phiếu tại các nền kinh tế mới nổi đang chịu nhiều áp lực do các dòng vốn đầu tư giảm đáng kể.

Ở trong nước, giá dầu thế giới giảm mạnh đã khiến giá dầu trong nước giảm, tác động trực tiếp đến nền kinh tế và ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xem xét ở khía cạnh tích cực thì giá dầu giảm là cơ hội để hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nước giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy tiêu dùng xã hội. Xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự giảm giá đồng Nhân dân tệ và các đồng tiền của nhiều nước khác trên thế giới. 

Trước diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách, nhất là chính sách tài khóa, tiền tệ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì mức tăng trưởng hợp lý. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2015 như sau:

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2015 ước tính tăng 6,50% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,81%. Trong mức tăng 6,50% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,08%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,57%, đóng góp 3,12 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,17%, đóng góp 2,38 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 7,89% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung do sản lượng gỗ khai thác tăng cao ở mức 11,8%; ngành thủy sản tăng 2,11%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. Riêng ngành nông nghiệp chỉ tăng 1,77%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết không thuận, giá cả một số vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp không ổn định và có xu hướng tăng nên sản lượng lúa đạt thấp (Ước tính sản lượng lúa cả năm 2015 đạt 45,1 triệu tấn, chỉ tăng 0,3% so với năm 2014).  

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,69% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây[1], trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao với 10,15%[2], góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung (đóng góp 1,58 điểm phần trăm); ngành khai khoáng tăng 8,15%. Ngành xây dựng 9 tháng tăng 9,00%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây[3].

Trong khu vực dịch vụ, một số ngành dịch vụ kinh doanh có mức tăng cao hơn cùng kỳ năm trước: Ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa vật phẩm tiêu dùng tăng 8,4%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 3,83%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,7% (Tính đến thời điểm 21/9/2015 tăng trưởng tín dụng tăng 10,78% so với cuối năm 2014); hoạt động kinh doanh bất động sản có cải thiện hơn, đạt mức tăng 2,9% (cao hơn mức tăng 2,71% của cùng kỳ năm trước). Các ngành dịch vụ không kinh doanh có mức tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2014 do cơ bản ổn định biên chế, tiết kiệm chi thường xuyên, giá dịch vụ y tế, giáo dục không điều chỉnh trên diện rộng...

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

9 tháng các năm 2013, 2014 và 2015 

 

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng năm 2015 (Điểm phần trăm)

 

9 tháng năm 2013

9 tháng năm 2014

9 tháng năm 2015

Tổng số

5,14

5,53

6,50

6,50

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2,38

2,94

2,08

0,36

Công nghiệp và xây dựng

4,88

5,75

9,57

3,12

Dịch vụ

6,43

5,94

6,17

2,38

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp

5,93

7,55

5,50

0,64

 

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 16,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,09%; khu vực dịch vụ chiếm 40,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,09%.

Xét về góc độ sử dụng GDP 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,07% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp 7,31 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 8,08%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 3,43 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung. 

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2015

     Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2015 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 590,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 432,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8%; lâm nghiệp đạt 20,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8%; thuỷ sản đạt 137,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%.

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1721,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 96,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1166,2 nghìn ha, bằng 98,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 555 nghìn ha, bằng 92,7%. Diện tích gieo cấy lúa mùa của hầu hết các địa phương giảm do ảnh hưởng của thời tiết, bên cạnh đó một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích sang trồng cây hàng năm khác hiệu quả hơn, trong đó: Bến Tre giảm 18,4 nghìn ha; Long An giảm 3,7 nghìn ha, Sơn La giảm 2,7 nghìn ha; Thanh Hóa giảm 2,2 nghìn ha; Sóc Trăng giảm 2 nghìn ha; Hà Nội giảm 1,8 nghìn ha; Ninh Thuận giảm 1,7 nghìn ha... Hiện nay, trà lúa mùa sớm tại các địa phương phía Bắc đang trong giai đoạn vào chắc và chín, ước tính năng suất đạt trên 50 tạ/ha, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 5,8 triệu tấn, giảm 1% (do diện tích giảm 1,3%). Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng cuối năm và không bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì năng suất lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 49,3 tạ/ha, tăng 0,3-0,5 tạ/ha; sản lượng lúa mùa đạt 9,6 triệu tấn, giảm 71,2 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2014.

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương trên cả nước đang bước vào thu hoạch lúa hè thu. Tính đến thời điểm 15/9/2015, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1736,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 96,5% cùng kỳ năm trước, chiếm 82,6% diện tích gieo trồng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1519,5 nghìn ha, bằng 97,9% và chiếm 90,5%. Diện tích lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 2,1 triệu ha, giảm 7,5 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2014 do đầu vụ nắng nóng khô hạn dẫn đến thiếu nguồn nước tưới, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1677,8 nghìn ha, tăng 9,5 nghìn ha (An Giang tăng 4,1 nghìn ha; Kiên Giang tăng 10,6 nghìn ha; Sóc Trăng tăng 4,9 nghìn ha).Năng suất lúa hè thu ước tính đạt 54 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; sản lượng đạt 11,3 triệu tấn, tăng 122 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 9,1 triệu tấn, tăng 183 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 607,5 nghìn ha lúa thu đông, bằng 103,9% cùng kỳ năm trước. Đến nay, diện tích lúa thu đông đã thu hoạch khoảng 120 nghìn ha. Ước tính diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2015 đạt 671,1 nghìn ha; năng suất tương đương vụ thu đông năm trước; sản lượng đạt gần 3,5 triệu tấn, tăng khoảng 248 nghìn tấn.

Ước tính sản lượng lúa cả năm 2015 đạt 45,1 triệu tấn, tăng 140 nghìn tấn so với năm 2014, trong đó lúa đông xuân đạt 20,7 triệu tấn, giảm 158,8 nghìn tấn; lúa thu đông và hè thu đạt 14,8 triệu tấn, tăng 370 nghìn tấn; lúa mùa đạt 9,6 triệu tấn, giảm 71,2 nghìn tấn.

Gieo trồng một số cây hoa màu nhìn chung đạt thấp. Tính đến giữa tháng Chín, cả nước đã gieo trồng được 1057,1 nghìn ha ngô, bằng 99,2% cùng kỳ năm trước; 123,1 nghìn ha khoai lang, bằng 95,3%; 193,8 nghìn ha lạc, bằng 95,8%; 98,9 nghìn ha đậu tương, bằng 91,3% và 926,3 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Cây công nghiệp lâu năm đạt sản lượng khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm tăng: Sản lượng cao su 9 tháng ước tính đạt 730 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; chè đạt 828 nghìn tấn, tăng 2,5%; hồ tiêu 169,6 nghìn tấn, tăng 10%; điều 345 nghìn tấn, bằng 100%. Sản lượng một số cây ăn quả giảm do ảnh hưởng của nắng nóng, mưa trái mùa và sương muối, trong đó sản lượng chuối giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; nhãn giảm 1,3%; cam giảm 8%. Riêng sản lượng bưởi tăng 0,6%; nho tăng 30%.

Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2014; đàn bò tăng 2%-2,5%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi tăng 2,4%. Chăn nuôi lợn phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa với mô hình chăn nuôi quy mô lớn, hiệu quả cao và hiện có nhiều thuận lợi do thị trường đầu ra ổn định. Đàn lợn cả nước tăng 2,5%-3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi 9 tháng tăng 3,7%. Chăn nuôi gia cầm phát triển với quy mô lớn như trang trại, gia trại. Tổng đàn gia cầm tháng Chín tăng 3%-3,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm 9 tháng tăng 5,3%.

Tính đến thời điểm 22/9/2015, dịch tai xanh trên lợn đã được khống chế trên cả nước. Dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Vĩnh Long và Hà Tĩnh; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Nghệ An, Bình Dương, Đắk Lắk và Sóc Trăng.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước 9 tháng ước tính đạt 172 nghìn ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 141 triệu cây, tăng 0,6%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 5834 nghìn m3, tăng cao ở mức 11,8% so với cùng kỳ năm trước do thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu ổn định, trong đó một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Bình Định đạt 552 nghìn m3, tăng31,7%; Quảng Ngãi 515 nghìn m3,  tăng 28%; Quảng Trị 355 nghìn m3, tăng 25%; Tuyên Quang 310 nghìn m3, tăng 80%; Thanh Hóa 304 nghìn m3, tăng 45,2%.

Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được quan tâm với nhiều biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng được triển khai, nhưng do thời tiết những tháng đầu năm diễn biến nắng hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong 9 tháng, cả nước có 1712 ha rừng bị thiệt hại, giảm 53,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1055 ha, giảm 65,5%; diện tích rừng bị phá là 657 ha, tăng 0,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều: Đắk Lắk 275 ha; Thanh Hóa 169 ha; Hà Giang 156 ha; Yên Bái 142 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá nhiều: Đắk Nông 256 ha; Điện Biên 164 ha; Lâm Đồng 131 ha.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 4846,6 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3535,9 nghìn tấn, tăng 3,2%; tôm đạt 570,5 nghìn tấn, giảm 1,1%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 1014,3 nghìn ha, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước (vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 732 nghìn ha, giảm 0,3%), chủ yếu do thời tiết nắng nóng kéo dài, dịch bệnh diễn biến phức tạp và thị trường xuất khẩu giảm mạnh; giá thu mua thấp trong khi chi phí giống, thức ăn, thuốc thú y tăng cao. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 2584,2 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1877,3 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 450,6 nghìn tấn, giảm 2,3%.

Nuôi cá tra có xu hướng chuyển dịch từ nuôi nhỏ lẻ sang mô hình nuôi tập trung theo chuỗi liên kết, tập trung vào áp dụng quy trình theo tiêu chuẩn VietGap. Tuy nhiên, hiện nay người nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn do giá cá tra nguyên liệu thấp, xuất khẩu cá tra phải chịu mức thuế cao. Riêng một số doanh nghiệp nuôi quy mô lớn và theo mô hình liên kết vẫn duy trì được mức tăng tương đối ổn định nhờ chủ động được con giống và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Diện tích nuôi cá tra 9 tháng ước tính đạt 11,2 nghìn ha, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 1,6 nghìn ha, giảm 0,3%; An Giang đạt 1,1 nghìn ha, tăng 1,9%; Bến Tre đạt 0,6 nghìn ha, giảm 5,3%; Cần Thơ đạt 0,7 nghìn ha, giảm 4,9%; Vĩnh Long đạt 0,4 nghìn ha, giảm 8,2%. Sản lượng cá tra ước tính đạt 889 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó Đồng Tháp đạt 286,4 nghìn tấn, tăng 0,7%; An Giang đạt 224,6 nghìn tấn, tăng 3,9%; Bến Tre đạt 131,5 nghìn tấn, tăng 1,8%; Cần Thơ đạt 105,8 nghìn tấn, giảm 3,5%; Vĩnh Long đạt 56,2 nghìn tấn, giảm 3,7%.

Nuôi tôm cũng gặp nhiều khó khăn do giá tôm giảm, lại chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ chênh lệch lớn giữa ngày và đêm làm cho dịch bệnh bùng phát, gây thiệt hại cho người sản xuất. Nuôi tôm thẻ chân trắng không còn mang lại hiệu quả cao như những năm trước do khả năng chống chịu dịch bệnh kém, cùng với sức ép cạnh tranh cao trên thị trường nên một bộ phận người nuôi tôm thẻ chân trắng đã chuyển sang nuôi tôm sú. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 9 tháng ước tính đạt 76,3 nghìn ha, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung ước đạt 13,6 nghìn ha, giảm 9%; vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 56,3 nghìn ha, giảm 11%. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 228 nghìn tấn, giảm 4%, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 146,4 nghìn tấn, giảm 9,8% (Sóc Trăng đạt 28,5 nghìn tấn, giảm 33,9%; Bến Tre đạt 28,1 nghìn tấn, giảm 17,6%; Trà Vinh đạt 14,1 nghìn tấn, giảm 19,2%; Bạc Liêu đạt 14,9 nghìn tấn, giảm 3,3%); vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung đạt 57,3 nghìn tấn, giảm 3,7%.

Diện tích nuôi tôm sú 9 tháng năm nay ước tính đạt 577,3 nghìn ha, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 11,5 nghìn ha, giảm 1,9 %; vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung đạt 9,2 nghìn ha, tăng 2%; vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 551,5 nghìn ha, tăng 4,1%. Sản lượng tôm sú ước tính đạt 189 nghìn tấn, giảm 1,6%, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 172,4 nghìn tấn, giảm 4,8%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đạt 4,7 nghìn tấn, giảm 6,6%.

Khai thác thủy sản tại các địa phương có nhiều thuận lợi về thời tiết. Số lượng tàu thuyền được cải hoán, nâng cao năng suất ngày càng tăng đã khuyến khích ngư dân tích cực ra khơi, bám biển. Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng ước tính đạt 2262,4 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1658,6 nghìn tấn, tăng 4,2%; tôm đạt 119,9 nghìn tấn, tăng 3,6%; thủy sản khác đạt 483,9 nghìn tấn, tăng 4,6%. Khai thác cá ngừ đại dương đạt khá, trong đó: Bình Định đạt 7,6 nghìn tấn, tăng 4,9%; Phú Yên đạt 3,8 nghìn tấn, tăng 13,6%; Khánh Hòa đạt 3 nghìn tấn, tăng 7%. 

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 2010

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 9 năm 2015

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Sản lượng thuỷ sản

     Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín ước tính tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 8,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,5%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,8%. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước[4], cao hơn nhiều mức tăng 6,7% của cùng kỳ năm 2014. Trong các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng tăng 8,2%, đóng góp 1,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,2%, đóng góp 7,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,4%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm[5]. Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) tăng 9,7%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng tăng 9,9%, trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 12,9%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 8,5%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 44,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 27,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,2%; dệt tăng 17,5%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,4%; sản xuất kim loại tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng thấp: Khai thác dầu khô và khí đốt tự nhiên tăng 8,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 6,7%; sản xuất đồ uống tăng 6,2%; khai thác than cứng và than non tăng 5,1%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 4,9%; sản xuất trang phục tăng 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,3%; sản xuất thuốc lá tăng 3,5%.

Trong 9 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại di động tăng 50,5%; ti vi tăng 45,5%; giày, dép da tăng 24,1%; thép cán tăng 20,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,2%; sữa bột tăng 15,1%; sữa tươi tăng 14,9%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 12,3%; sơn hóa học tăng 11%; xi măng tăng 10,7%; dầu thô tăng 10,7%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Nước máy thương phẩm tăng 6,2%; bia tăng 5,9%; thủy sản chế biến tăng 5,3%; than đá tăng 5,1%[6]; quần áo mặc thường tăng 3,9%; thuốc lá điếu tăng 3,4%; sắt thép thô giảm 0,2%; xe máy giảm 11,3%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 243,7%; Quảng Nam tăng 32,8%; Hải Phòng tăng 15,2%; Đà Nẵng tăng 13,4%; Hải Dương tăng 10,1%; Bình Dương tăng 9%; Đồng Nai tăng 8,2%; Hà Nội tăng 7,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,1%; Cần Thơ tăng 7%; Quảng Ninh tăng 6,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 3,3%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2015 tăng 1% so với tháng trước  tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 85,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 27,5%; sản xuất kim loại tăng 23,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụtăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 10,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,3%; sản xuất trang phục tăng 5,4%; sản xuất đồ uống tăng 5%; dệt tăng 3,8%; sản xuất thuốc lá giảm 0,5%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2015 tăng 9,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 5,1%; sản xuất trang phục tăng 3,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 0,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: Sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 2,4%; sản xuất thiết bị điện giảm 8,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung:Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 118,4%; sản xuất đồ uống tăng 90,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 67,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,7%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng năm 2015 là 74%, trong đó, một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu là 144,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 114,3%; sản xuất chế biến thực phẩm 100,6%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2015 tăng 7,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 10,6%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 8%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,8%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,4%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/9/2015 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 71,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 17,7%; Vĩnh Phúc tăng 17,1%; Quảng Nam tăng 12,9%; Hải Dương tăng 11,5%; Bình Dương tăng 6,6%; Đồng Nai tăng 5,5%; Đà Nẵng tăng 4,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,3%; Quảng Ninh tăng 0,6%; Cần Thơ tăng 0,6%; Hà Nội giảm 0,6%.

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số sản xuất công nghiệp

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

               

     Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[7]

Trong tháng Chín (từ 20/8 đến 20/9/2015), cả nước có 7042 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 44,5 nghìn tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký một doanh nghiệp đạt 6,3 tỷ đồng. So với tháng trước, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 24,3%[8]; số vốn đăng ký giảm 19,3%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp tăng 6,6%. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 22,6%; số vốn đăng ký tăng 45,9%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tháng Chín là 125,9 nghìn người, giảm 3,0% so với tháng trước.

Trong tháng, cả nước có 1515 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,5% so với tháng trước; có 9439 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, tăng 24,3%, bao gồm 1443 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 7996 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký; có 672 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 19,4%.

Tính chung 9 tháng năm nay, cả nước có 68347 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 420,9 nghìn tỷ đồng, tăng 28,5% về số doanh nghiệp và tăng 31,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 6,2 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2014. Bên cạnh đó, có 608,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn trong 9 tháng qua. Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng năm 2015 là 1029,9 nghìn tỷ đồng. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới 9 tháng là 999,3 nghìn người, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm 2014.

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong 9 tháng là 12848 doanh nghiệp, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2014. Nhìn chung, tình hình doanh nghiệp gia nhập thị trường trong 9 tháng năm nay có sự cải thiện rõ rệt so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các giải pháp chỉ đạo điều hành của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng là 6962 doanh nghiệp, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (chiếm 93,5%). Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 2519 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,2%); 1897 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 27,2%); 1510 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 21,7%) và 1036 công ty cổ phần (chiếm 14,9%).

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng là 47604 doanh nghiệp, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 12437 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 35167 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, có 17183 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,1%); 15398 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,3%); 9284 công ty cổ phần (chiếm 19,5%); 5738 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 12,1%) và 1 công ty hợp danh.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Theo kết quả điều tra về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III so với quý trước, có 36,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình khả quan hơn; 19,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 43,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý IV so với quý III, có 46,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 14,4% số doanh nghiệp dự báo kém đi và 38,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Về khối lượng sản xuất, có 40% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III năm nay tăng so với quý trước; 20,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,3% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 49,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 13,8% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,0% số doanh nghiệp dự báo ổn định. 

Về đơn đặt hàng quý III so với quý II, có 34,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 19,8% doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 46,0% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quí IV so với quý III khả quan hơn với 43,6% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 12,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 43,7% số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý III so với quý trước, có 28,5% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 19,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí IV so với quý III, có 37,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 13,1% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 49,3% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 26,7% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm trong quí III tăng so với quí trước; 9,7% số doanh nghiệp khẳng định chi phí giảm và 63,6% số doanh nghiệp đánh giá chi phí ổn định. Xu hướng quý IV so với quí III, có 20,6% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng; 11,7% cho rằng chi phí giảm và 67,7% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm quý III so với quý trước, có 15% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 12,7% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 72,3% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý IV so với quý III, có 16,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 21,7% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý III tăng so với quý trước; 30,9% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 47,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 16,2% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 33,5% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 50,3% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu quý III so với quý II, có 19,7% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,4% số doanh nghiệp cho là giảm và 51,9% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý IV so với quý III, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 30,7% dự báo lượng tồn kho giảm và 54,4% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.

Hoạt động dịch vụ 

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 270,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 207,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% và tăng 11,8%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, giảm 6,8% và tăng 2,7%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,7 nghìn tỷ đồng, giảm 9,9% và tăng 7,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 29,9 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% và tăng 3,2%. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 2374,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 9,1%, cao hơn mức tăng 7,3% của cùng kỳ năm 2014).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng đạt 1802,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành hàng tăng khá: Lương thực, thực phẩm tăng 15%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 13,2%; may mặc tăng 10,9%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,6%; phương tiện đi lại ước tăng 8,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng đạt 276,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hải Phòng tăng 23,9%; Bình Dương tăng 19,1%; Thanh Hóa tăng 18,6%; Hà Nội tăng 5,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,4%.

Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng đạt 22,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,3%; Đà Nẵng tăng 7,5%; Bình Định tăng 7%; Bình Thuận tăng 6%; Hà Nội tăng 4,3%.

Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng đạt 272,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tổng mức và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước: Bắc Ninh tăng 16,2%; Nam Định tăng 12,2%; Quảng Ninh tăng 10,7%; Hải Dương tăng 10,5%; Vĩnh phúc tăng 9,9%; Quảng Nam tăng 7%; Nghệ An tăng 6,7%; Kon Tum tăng 4,8%; Lâm Đồng tăng 3,5%; Hậu Giang tăng 3,5%; riêng hai thành phố lớn có mức tăng khá: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,3%; Hà Nội tăng 8%.

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

    Vận tải hành khách và hàng hóa 

Vận tải hành khách 9 tháng ước tính đạt 2434,1 triệu lượt khách, tăng 7,5% và 105,7 tỷ lượt khách.km, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2014, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 25,6 triệu lượt khách, tăng 1,2% và 26,9 tỷ lượt khách.km, tăng 5,7%; vận tải địa phương đạt 2408,5 triệu lượt khách, tăng 7,6% và 78,8 tỷ lượt khách.km, tăng 7,9%. Vận tải hành khách đường bộ 9 tháng ước tính đạt 2295,8 triệu lượt khách, tăng 7,8% và 79,5 tỷ lượt khách.km, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 14,2 triệu lượt khách, tăng 6,2% và 20,9 tỷ lượt khách.km, tăng 5,4%; đường sắt đạt 8,6 triệu lượt khách, giảm 6,6% và 3,2 tỷ lượt khách.km, giảm 2,1%; đường biển đạt 4,2 triệu lượt khách, tăng 6,2% và 201,1 triệu lượt khách.km, tăng 5,1%.

Vận tải hàng hóa 9 tháng ước tính đạt 835,1 triệu tấn, tăng 5,8% và 166,7 tỷ tấn.km, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 811,3 triệu tấn, tăng 5,9% và 74,1 tỷ tấn.km, tăng 5,7%; vận tải ngoài nước đạt 23,8 triệu tấn, giảm 4,2% và 92,5 tỷ tấn.km, tăng 0,6%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 643,1 triệu tấn, tăng 6,5% và 35,7 tỷ tấn.km, tăng 7%; đường sông đạt 143,4 triệu tấn, tăng 3,9% và 28,5 tỷ tấn.km, tăng 4,5%; đường biển đạt 43,4 triệu tấn, tăng 3,8% và 99 tỷ tấn.km, tăng 1,1%; đường sắt đạt 5 triệu tấn, giảm 5,4% và 3,1 tỷ tấn.km, giảm 2,1%.

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vận tải hành khách và hàng hoá

    Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Chín ước tính đạt 626,3 nghìn lượt người, giảm 5,8% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ hầu hết các nước thuộc Đông Bắc Á đều giảm so với tháng trước, riêng khách đến từ Nhật Bản tăng 7,9%; khách đến từ các nước Đông Nam Á tăng so với tháng trước, riêng khách đến từ In-đô-nê-xi-a và Thái Lan giảm. Đối với khách đến từ châu Mỹ, khách đến từ Mỹ và Ca-na-da trong tháng Chín giảm mạnh so với tháng trước, trong đó Mỹ giảm 12,2%; Ca-na-da giảm 24,3%. Khách đến từ hầu hết các thị trường chính ở châu Âu trong tháng Chín giảm so với tháng Tám, riêng khách đến từ Phần Lan và Nga tăng lần lượt là 5,9% và 8,1%.

Tính chung 9 tháng, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 5689,5 nghìn lượt người, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 4709,6 nghìn lượt người, giảm 1,9%; đến bằng đường bộ đạt 943,4 nghìn lượt người, giảm 21,6%; đến bằng đường biển đạt 36,5 nghìn lượt người, giảm 18,8%.

Trong 9 tháng năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 3842,1 nghìn lượt người, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số nước có lượng khách đến nước ta giảm nhiều: Trung Quốc 1260,6 nghìn lượt người, giảm 18,2%; Cam-pu-chia 168,2 nghìn lượt người, giảm 43,5%; Thái Lan 141,3 nghìn lượt người, giảm 27,6%; Lào 83,5 nghìn lượt người, giảm 25,9%; Phi-li-pin 72,6 nghìn lượt người, giảm 9,1%. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có khách đến nước ta tăng: Hàn Quốc 810,7 nghìn lượt người, tăng 31,4%; Nhật Bản 498,5 nghìn lượt người, tăng 2,6%; Đài Loan 330,2 nghìn lượt người, tăng 8,4%; Ma-lai-xi-a 250,5 nghìn lượt người, tăng 3,3%; Xin-ga-po 165,5 nghìn lượt người, tăng 16,9%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 866,3 nghìn lượt người, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số quốc gia có lượng khách giảm: Nga 236,3 nghìn lượt người, giảm 10,6%; Pháp 157,8 nghìn lượt người, giảm 3,8%; Anh 154,3 nghìn lượt người, giảm 1,4%. Các quốc gia có lượng khách đến nước ta tăng: Đức 105,9 nghìn lượt người, tăng 2,1%; Hà Lan 38,9 nghìn lượt người, tăng 3,2%; Tây Ban Nha 33 nghìn người, tăng 8,7%; I-ta-li-a 29,2 nghìn lượt người, tăng 5,7%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 446,3 nghìn lượt người, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 368,2 nghìn lượt người, tăng 7%. Khách đến từ châu Úc đạt 252,6 nghìn lượt người, giảm 7,1%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 228,5 nghìn lượt người, giảm 7,2%.

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Khách quốc tế đến Việt Nam

    ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

Xây dựng, đầu tư phát triển

Hoạt động xây dựng và đầu tư từ đầu năm có nhiều cải thiện và đạt kết quả khá. Một số yếu tố chủ yếu tác động thúc đẩy tăng trưởng hoạt động này trong những tháng qua: Công tác xúc tiến đầu tư được tăng cường; giá xăng, dầu giảm nên giá thành nguyên, vật liệu xây dựng ổn định tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án; chính sách tài chính, tiền tệ tiếp tục phát huy tác dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn, mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh. Những thuận lợi đó góp phần thúc đẩy việc thu hút và giải ngân vốn đầu tư, tác động đến tăng trưởng toàn nền kinh tế.

Hoạt động xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng theo giá hiện hành ước tính đạt 660,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 58 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,8%; khu vực ngoài Nhà nước 561,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 84,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 41,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,3%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 266,5 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 106,5 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 214,8 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 73,1 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 524,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2014, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 47,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 444,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 209,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,3%; công trình nhà không để ở đạt 84,8 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 170,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 59,2 nghìn tỷ đồng, giảm 3,9%.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 909,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,9% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 355,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,1% tổng vốn và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 345,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,9% và tăng 8,8%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 209 nghìn tỷ đồng, chiếm 23% và tăng 10,1%.

 

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

9 tháng các năm 2013 - 2015 so với cùng kỳ năm trước

(Theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

 

9 tháng năm 2013

9 tháng năm 2014

9 tháng năm 2015

Tổng số

106,1

110,9

108,5

Khu vực Nhà nước

104,2

111,5

107,2

Khu vực ngoài Nhà nước

108,5

113,3

108,8

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

105,6

106,3

110,1

   

 Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 153,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm và tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2014, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 30,5 nghìn tỷ đồng, bằng 74,9% kế hoạch năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 5057 tỷ đồng, bằng 73,6% và tăng 9,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2195 tỷ đồng, bằng 76,8% và giảm 5,1%; Bộ Xây dựng 1269 tỷ đồng, bằng 81,9% và giảm 4,2%; Bộ Y tế 1210 tỷ đồng, bằng 76,5% và tăng 61,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 589 tỷ đồng, bằng 69,2% và tăng 22,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 487 tỷ đồng, bằng 70,9% và giảm 3,1%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 391 tỷ đồng, bằng 66,7% và tăng 6%; Bộ Công Thương 289 tỷ đồng, bằng 67,1% và tăng 12,9%; Bộ Khoa học và Công nghệ 235 tỷ đồng, bằng 79,5% và tăng 14,1%; Bộ Thông tin và Truyền thông 147 tỷ đồng, bằng 81,5% và giảm 7,8%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 122,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,2% kế hoạch năm và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 84,5 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% và tăng 6,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 30,9 nghìn tỷ đồng, bằng 77,3% và tăng 3,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt gần 7,2 nghìn tỷ đồng, bằng 96,8% và giảm 0,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 16043 tỷ đồng, bằng 79,6% kế hoạch năm và giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 12073 tỷ đồng, bằng 62,6% và tăng 4,8%; Nghệ An 3640 tỷ đồng, bằng 76,3% và tăng 5,4%; Bình Dương 3603 tỷ đồng, bằng 72,6% và tăng 23,1%; Vĩnh Phúc 3378 tỷ đồng, bằng 64,5% và tăng 19,5%; Quảng Ninh 3241 tỷ đồng, bằng 45,6% và tăng 27,8%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2015 thu hút 1432 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,04 tỷ USD, tăng 24,3% về số dự án và tăng 44,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Đồng thời có 461 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 6118,7 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 17,16 tỷ USD, tăng 53,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng năm nay có một số dự án quy mô lớn được cấp phép: Dự án Nhà máy điện Duyên Hải 2 tại Trà Vinh với số vốn đăng ký mới đạt 2,4 tỷ USD; Dự án Công ty Samsung Display Việt Nam tại Bắc Ninh với số vốn tăng thêm 3 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng năm nay ước tính đạt 9,7 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2014.

Trong 9 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 11369,5 triệu USD, chiếm 66,3% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2619,2 triệu USD, chiếm 15,3%; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1810,2 triệu USD, chiếm 10,5%; các ngành còn lại đạt 1358 triệu USD, chiếm 7,9%.

Cả nước có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 9 tháng, trong đó Trà Vinh có số vốn đăng ký lớn nhất với 2526,8 triệu USD, chiếm 22,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 2192,9 triệu USD, chiếm 19,9%; Đồng Nai 1298,3 triệu USD, chiếm 11,8%; Bình Dương 810,6 triệu USD, chiếm 7,3%; Hà Nội 514,2 triệu USD, chiếm 4,7%; Tây Ninh 422,8 triệu USD, chiếm 3,8%; Hải Phòng 309,2 triệu USD, chiếm 2,8%; Vĩnh Phúc 271,4 triệu USD, chiếm 2,5%.

Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Ma-lai-xi-a là nhà đầu tư lớn nhất với 2426,6 triệu USD, chiếm 22% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 1975,7 triệu USD, chiếm 17,9%; Vương quốc Anh 1267,6 triệu USD, chiếm 11,5%; Đài Loan 757,6 triệu USD, chiếm 6,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 660,9 triệu USD, chiếm 6%; Thổ Nhĩ Kỳ 660,3 triệu USD, chiếm 6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 596,4 triệu USD, chiếm 5,4%; Nhật Bản 554,2 triệu USD, chiếm 5%; Xin-ga-po 368,6 triệu USD, chiếm 3,3%.

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

 http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/9/2015

           

     Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2015 ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 474,6 nghìn tỷ đồng, bằng 74,3%; thu từ dầu thô 49,6 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 53,3% dự toán do giá dầu giảm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 112,8 nghìn tỷ đồng, bằng 64,5%. Nhờ điều chỉnh chính sách thu đối với một số tài nguyên khoáng sản và thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng, dầu, kết hợp với việc tích cực triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính của cơ quan Thuế nên nhiều khoản thu nội địa đạt khá, có khoản thu đã hoàn thành dự toán năm: Thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 88,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74%; thuế thu nhập cá nhân 40,7 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3%; lệ phí trước bạ 15,4 nghìn tỷ đồng, bằng 99,9%;&n