Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai tháng 11 và ước 11 tháng năm 2013

 I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

        1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

 

     a. Sản xuất nông nghiệp:

* Trồng trọt:

- Tình hình sản xuất cây hàng năm:

Tính nay toàn tỉnh gieo trồng vụ mùa được 216.673,3 ha cây trồng các loại bằng 101,1% so  cùng kỳ. Cụ thể như sau:

- Lúa nước: 38.540,5 ha đạt 101,4% kế hoạch và bằng 103,2 % so  cùng kỳ;

- Lúa rẫy: 9.767,9 ha đạt 102,8% kế hoạch và bằng 91,8% so  cùng kỳ;

- Bắp: 48.832,2 ha (Bắp lai: 45.344 ha) đạt 93,9% kế hoạch và bằng 104,5% so cùng kỳ;

- Mỳ: 50.938 ha đạt 101,7% kế hoạch và bằng 94,9% so cùng kỳ;

- Lang: 921,1 ha đạt 69,3% kế hoạch và bằng 81,7% so  cùng kỳ;

- Đậu các loại: 15.317 ha đạt 96,2% kế hoạch và bằng 98,6% so  cùng kỳ;

- Rau, dưa các loại:15.701,7 ha đạt 119,4% kế hoạch và bằng 126,3% so  cùng kỳ;

- Lạc: 1.358 ha đạt 75,5 % kế hoạch và bằng 92,6% so  cùng kỳ;

- Mía 27.460 ha bằng 111,5% so  cùng kỳ;

- Mè: 2.700 ha đạt 90% kế hoạch và bằng 95,1% so  cùng kỳ;

- Bông: 550 ha đạt 52,3% kế hoạch và bằng 60,4% so  cùng kỳ;

- Thuốc lá:  26 ha bằng 22,8% so  cùng kỳ

- Tình hình sản xuất cây lâu năm:

Năm 2013 thời tiết mưa đều, t­ương đối thuận lợi đối với gieo trồng, chăm sóc cây lâu năm. Hiện nay các địa phương đang thu hoạch cà phê song giá cả cà phê, cao su giảm, công hái cà phê tăng cao từ 140.000đ-150.000đ/công so cùng kỳ làm ảnh hưởng đến thu nhập của của dân..

Các loại cây khác, nhìn chung phát triển tương đối tốt.

* Chăn nuôi:

Theo số liệu điều tra chăn nuôi thời điểm 1/10/2013 toàn tỉnh đàn trâu 14.229 con tăng 2,08% so cùng kỳ; đàn bò 351.080 con tăng 1,1% so cùng kỳ; đàn lợn 430.154 con tăng 4,92% so cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 2.399.043 con tăng 26,5% so cùng kỳ.

Nhận định chung ngành chăn nuôi vẫn có chiều h­ướng phát triển khá, riêng đàn bò có xu hướng phát triển chậm lại do điều kiện chăn nuôi gặp khó khăn đồng cỏ bị thu hẹp.

          Các loại dịch bệnh nguy hiểm như LMLM, heo tai xanh, cúm gia cầm được phòng chống kịp thời nên đã được khống chế và thời điểm hiện tại không có loại dịch bệnh nào tái phát.

b. Lâm nghiệp:

- Khai thác rừng tự nhiên: 

- Khai thác gỗ rừng trồng: Ước 11 tháng khai thác được 60.300 m3.

Hiện tại các đơn vị đang tiếp tục khai thác để hoàn thành kế hoạch 

Lâm sinh: Trồng rừng tập trung ước 11 tháng trồng được 608 ha

Công tác chăm sóc rừng ước 11 tháng là 5.214 ha

Công tác giao khoán QLBV rừng ước thực hiện cả năm được 50.290,3 ha.

Công tác phòng chống cháy rừng được các cấp các ngành quan tâm, chú trọng. Song những tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra nắng nóng kéo dài, hạn hán xảy ra nên đã xảy ra 4 vụ cháy rừng với 411,1 ha rừng trồng.

* Công tác vi phạm lâm luật:Trong tháng 10/2013 số vụ vi phạm lâm luật: 56 vụ; lũy kế 10 tháng  là 1.018 vụ, (giảm: 335 vụ so với cùng kỳ ).

 + Cụ thể như sau:

- Số vụ vận chuyển, mua bán, cất giấu lâm sản trái phép trong tháng: 55 vụ; 10 tháng là 904 vụ.

- Số vụ phá rừng trái phép trong tháng: 01 vụ; 10 tháng là 26 vụ.

- Số vụ vi phạm qui định về khai thác gỗ, lâm sản 10 tháng 43 vụ.

- Số vụ vi phạm quản lý động vật hoang dã 10 tháng là 4 vụ.

- Số vụ vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản khác 10 tháng là 10 vụ.

- Số vụ vi phạm khác 10 tháng là 27 vụ.

Lâm sản tịch thu trong tháng: Gỗ tròn các loại là 62,82m3 , lũy kế 10 tháng  là 965,43m3 ; Gỗ xẻ các loại trong tháng là 112,70m3 , lũy kế 10 tháng  là 1.550,09 m3.

Tổng thu nộp ngân sách là 10 tháng 24,2 tỷ đồng

c. Thuỷ sản:

   Trong tháng 11, trên địa bàn tỉnh, tình hình nuôi trồng và khai thác thuỷ sản không biến động lớn, không có dịch bệnh xảy ra. Do ảnh hưởng bão  nên có mưa trên diện rộng, lượng nước ở các ao hồ, sông, suối dâng cao thuận lợi cho đánh bắt thuỷ sản. Các hộ nuôi trồng tiếp tục chăm sóc cho vụ thu hoạch vào cuối năm.

2. Sản xuất công nghiệp

* Chỉ số sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11: Tăng 28,95% so tháng 11 năm trước, trong đó chỉ số công nghiệp khai thác giảm 30,68%; Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,32%; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 72,85%; Ngành cung cấp nước, hoạt động thu gom xử lý rác thải, nước thải giảm 12,95% so tháng 11 năm trước.

Tính chung 11 tháng đầu năm 2013: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,43% so cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 1,14%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,86%; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm 15,34% (trong đó điện sản xuất giảm 8,26%,  như vậy nguyên nhân chủ yếu giảm của ngành điện là do sản lượng điện sản xuất giảm);  Công nghiệp cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,79%, so cùng kỳ năm trước .

Một số ngành có tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước như cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ tăng 51,55%, sản xuất bê tông tăng 37,20%, sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 36,33%... một số ngành giảm so với cùng kỳ năm trước như sản xuất vật liệu từ đất sét (gạch) giảm 44,66%, sản xuất xi măng giảm 32,48%, sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác giảm 17,57%,...

Một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước  như cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 148,05%, cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 135,01%, đá cẩm thạch tăng 84,02%, gỗ cưa hoặc xẻ tăng 66,7%... Bên cạnh đó có một số ngành có mức tăng thấp, hoặc giảm so cùng kỳ năm trước như sản xuất gạch và xi măng giảm 39,13% và 25,73%, bê tông trộn sẵn giảm 48,36%....

Giá trị sản xuất công nghiệp:

Tháng 11  năm 2013: Đạt 1.589,26 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), tăng 19,53% so tháng 11 năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng ước đạt 19,82 tỷ đồng, tăng 15% so tháng 11 năm trước; Ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt giá trị 758,89 tỷ đồng, tăng 45,33% so tháng 11 năm trước; Ngành sản xuất và phân phối điện ước đạt 806,87 tỷ đồng,  tăng 2,58% so tháng 11 năm trước; Ngành cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải ước đạt 3,69 tỷ đồng, tăng 0,36% so tháng 11 năm trước.

 Tính chung 11 tháng năm 2013: Gía trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 ước đạt 12.600,68 tỷ đồng, tăng 5,07 so cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng ước đạt 174,42 tỷ đồng, tăng 16,03% so cùng kỳ năm trước, ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước đạt 7.420,67 tỷ đồng, tăng 16,6% so cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện ước đạt 4.964,29 tỷ đồng, giảm 8,78% so  cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải, nước thải ước đạt 41,29 tỷ đồng, tăng 14,65% so cùng kỳ năm trước.

3. Bán lẻ hàng hoá, hoạt động các ngành dịch vụ

a. Thương mại:

Ước tháng 11:  Có các hoạt động nổi bật như: Hiện tại là thời điểm của “ mùa cưới” nên nhu cầu tổ chức cưới hỏi tại các nhà hàng, khách sạn tăng dẫn theo các hàng hoá, dịch vụ cũng tăng; Trong tháng 11 lại có ngày kỷ niệm như ngày lễ 20/11; thời tiết bắt đầu se lạnh nên nhu cầu quần áo ấm tăng; giá cả hầu hết các mặt hàng ổn định nên cũng tạo điều kiện cho nhu cầu mua sắm của dân cư. Thêm vào đó, đây là thời điểm bắt đầu vào mùa thu hoạch cà phê nên nhu cầu tăng ở hầu hết các loại hình kinh doanh thương mại – dịch vụ.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ ước đạt 2.013,73 tỷ đồng, tăng 3,33% so tháng trước.

Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế nhà nước tăng 6,55%; kinh tế tập thể tăng 5,88%; kinh tế cá thể tăng 2,92%; kinh tế tư nhân tăng 3,19%.

Phân theo ngành kinh tế: Thương nghiệp tăng 3,54%, tăng ở hầu hết các mặt hàng như: lương thực thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng dụng cụ và trang thiết bị gia đình, phương tiện đi lại, xăng dầu; khách sạn nhà hàng tăng 2% tăng chủ yếu là doanh thu nhà hàng, do nhu cầu tổ chức cưới hỏi tại nhà hàng tăng; du lịch lữ hành tăng nhẹ 1,53%; dịch vụ khác tăng 3,43%, tăng ở dịch vụ thuê bàn ghế, phông bạt, chén bát, quần áo, trang điểm, dàn nhạc.

Tính chung 11 tháng: Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ đạt 23.715,43 tỷ đồng, tăng 21,36% so cùng kỳ, đạt 88,3% kế hoạch.

Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế nhà nước tăng 16,3%; kinh tế tập thể tăng 13,09%, kinh tế cá thể tăng 20,8%; kinh tế tư nhân tăng 22,86%.

Phân theo ngành kinh tế: Thương nghiệp tăng 21,36% tăng chủ yếu là do giá cả tăng; khách sạn, nhà hàng tăng 17,31%; du lịch lữ hành tăng 29,29%; dịch vụ khác tăng 31,59% do giá cả dịch vụ tăng.

b. Giao thông vận tải: 

  Tháng 11: Tình hình kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, không biến động nhiều so với tháng trước. Đây là tháng gần cuối năm nên lượng khách đi lại có tăng nhưng tăng nhẹ vì ảnh hưởng của mưa bão. Đây cũng là mùa thu hoạch nên lượng vận chuyển hàng hoá tăng đáng kể so với tháng trước cụ thể:  Doanh thu vận tải ước đạt 164,74 tỷ đồng tăng 2,34% so với tháng trước. Trong đó:

Vận chuyển hàng hoá: Khối lượng vận chuyển ước đạt 1.169 nghìn tấn, tăng 4% so tháng trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 183.970 nghìn tấn/km, tăng 5,03% so  tháng trước.

Vận chuyển hành khách: Khối lượng vận chuyển ước đạt 909 nghìn hành khách, tăng 2,02% so tháng trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 142.340 nghìn hành khách/km, tăng 3,62% so tháng trước.

Tính chung 11 tháng: Doanh thu vận tải ước đạt 2.156,94 tỷ đồng, tăng 25,47% so cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Vận chuyển hàng hoá ước đạt 13.154 nghìn tấn, tăng 19,1% so cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.898.007 nghìn tấn/km, tăng 19,2% so cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển hành khách ước đạt 11.631 nghìn hành khách, tăng 18,11% so cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.726.892 nghìn hành khách/km, tăng 20,11% so cùng kỳ năm trước.

c. Bưu chính viễn thông: Trong tháng, cơ sở hạ tầng, các thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn thuộc mạng lưới BCVT và hạ tầng thông tin trên địa bàn tỉnh hoạt động tốt.

* Bưu chính: Toàn tỉnh hiện có: 284 điểm phục (trong đó: có 162 điểm bưu điện văn hóa xã; 28 bưu cục các cấp, 03 đại lý bưu điện đa dịch vụ, 70 thùng thư công cộng độc lập, 03 Chi nhánh công ty Bưu chính, 02 điểm tuyến phát; 17 điểm phục vụ của Công ty Bưu chính Viettel - Chi nhánh Gia Lai). Bán kính phục vụ bình quân là 4,18 km/điểm, mật độ phục vụ bình quân là 4.845 người/điểm, 213/222 xã, phường, thị trấn có báo đến trong ngày (tỷ lệ 95,94%).

* Viễn thông: Tổng số trạm thu phát sóng (BTS) đến thời điểm này là 1.294 trạm BTS, không tăng so với cùng kỳ năm ngoái, trạm điều khiển thông tin di động (BSC) có 07 trạm.

+ Điện thoại: thuê bao điện thoại trong tháng tăng 1.377 TB, lũy kế đến thời điểm báo cáo là 1.341.658 TB (trong đó: TB cố định: 100.084 TB, di động trả sau: 75.679 TB, di động trả trước đã đăng ký: 1.165.895 TB), đạt 101% kế hoạch năm, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ điện thoại hiện nay đạt 97,88 TB/100 dân. Thuê bao trong tháng tăng vì các doanh nghiệp tăng cường tổ chức các chương trình khuyến mại để hoàn thành kế hoạch kinh doanh vào cuối năm.

+ Hoạt động tần số: Các mạng thông tin vô tuyến hoạt động ổn định.

+ Dịch vụ Internet: Trong tháng phát triển 1.340 thuê bao so với tháng trước, nâng tổng số thuê bao Internet trên địa bàn toàn tỉnh lên 48.287 TB (trong đó TB: Dial-up là 0 TB, ADSL là 48.287 TB) đạt tỷ lệ 3,52 TB/100 dân; tỷ lệ dân sử dụng Internet đạt 29,02%; tổng số đại lý Internet trên địa bàn toàn tỉnh là 503 đại lý, tăng 2 đại lý so với tháng trước.

II. KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

 

 

 

1. Chỉ số giá tiêu dùng

 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng 0,43% so với tháng trước; tăng 3,27% so với tháng 12 năm trước; cùng tháng năm trước tăng 3,39%; So bình quân cùng kỳ tăng 5,76%. Trong đó thì có nhóm lương thực thực phẩm tăng cao nhất là 2,71% so tháng trước; sau đó là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,01%; có 7 nhóm hàng tăng dưới 1%; có 2 nhóm hàng giảm, giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 0,45%, sau đó là nhóm giáo dục giảm 0,05%.

Một số nhóm hàng hoá biến động trong tháng:

Lương thực tăng 2,71%, tăng chủ yếu là gạo, sắn, ngô do ảnh hưởng của 2 đợt bão tháng 10 và tháng 11.

Thực phẩm tăng 0,28%, chủ yếu tăng ở các mặt hàng như: thịt gà, mực, cua, đậu xanh, bắp cải trắng, su hào, rau muống, đỗ cô ve, bí xanh, măng nứa, cà pháo muối xổi, hành lá tươi, hành củ khô, tỏi khô, nghệ củ tươi, mộc nhĩ, táo việt nam, dưa hấu, dứa khóm, mít sấy, ớt bột, mật ong, sữa bột người lớn, kem hộp, chè búp khô. Bên cạnh đó có những mặt hàng giảm giá như: trứng gà, trứng vịt, dầu ăn, cá, lạc nhân, cà chua, khoai tây, củ cải, rau cải, gừng tươi, nấm hương, cam ngọt, quít ngọt, xoài, nhãn, đu đủ, thanh long, cà phê hòa tan;

Ăn uống ngoài gia đình giá bình ổn;

Đồ uống và thuốc lá giá bình ổn;

May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,06%, tăng chủ yếu là các mặt hàng như quần, áo;

Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,01%, tăng chủ yếu là sắt thép, gạch các loại, sơn, điện tiêu dùng cho sinh hoạt, gas đun. Một số mặt hàng giảm giá như: xi măng, cát;

Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02% tăng chủ yếu là đồ điện tử gia dụng;

Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,52% tăng chủ yếu là giá thuốc Eryttromyxin, siêu âm ổ bụng của khu vực nông thôn;

Giao thông giảm 0,45% chủ yếu là giá xăng A95, A92 được điều chỉnh giảm vào ngày 11/11;

Bưu chính viễn thông tăng 0,01% tăng chủ yếu là điện thoại di động;

Giáo dục giảm 0,05% giảm chủ yếu là giấy trắng khổ A4, bút bi;

Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,03% tăng chủ yếu là hoa các loại;

Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,96% tăng chủ yếu là uốn tóc nữ, sơn sửa móng tay;

Nhóm vàng 99,99%, kiểu nhẫn tròn 1-2 chỉ: giảm 1,04% so với tháng trước, giảm 26,42% so với tháng 12 năm trước; giảm 25,51% so cùng tháng năm trước; giảm 10,28% so bình quân cùng kỳ.

Đô la Mỹ, loại tờ 50-100 USD: so với tháng trước giảm 0,08%, so với tháng 12 năm trước tăng 1,19%, so với cùng tháng năm trước tăng 1,24%, so bình quân cùng kỳ giảm 0,96%.

Tình hình giá tiêu dùng trong 11 tháng năm 2013:

Nhìn chung trong 11 tháng qua giá cả của đa số các mặt hàng hoá đều ổn định, chỉ có một số mặt hàng biến động mạnh như: giá xăng, dầu, gas, giá gạo. Chỉ số giá bình quân chung của 11 tháng tăng 5,76%.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục giảm trong 07 tháng đầu năm do đó cũng ảnh hưởng đến giá gạo trong nước. Đến tháng 8, giá gạo bắt đầu tăng trở lại;

Giá bán điện cho sản xuất và sinh hoạt được điều chỉnh tăng 5% vào ngày 1/8/2013, đợt tăng giá điện 5% vào tháng 12/2012 cũng ảnh hưởng vào giá năm 2013;

Mức lương tối thiểu được điều chỉnh tăng kể từ ngày 1/7/2013, đối với tỉnh Gia Lai, mức lương tối thiểu được điều chỉnh trong tháng 9 (từ 1.050 ngàn đồng lên 1.150 ngàn đồng) đã làm cho giá dịch vụ bảo hiểm y tế tăng.

Tính đến thời điểm ngày 15/11: Giá xăng dầu được điều chỉnh 10 đợt, trong đó có 4 đợt tăng giá vào các ngày 28/3, 14/6, 28/6, 17/7; và 6 đợt giảm giá vào các ngày 9/4, 18/4, 26/4, 22/8, 7/10, 11/11.

Dự tính chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 7% so với năm 2012.

2. Đầu tư

Ước tháng 11: Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đạt 295,6 tỷ đồng, cụ thể như sau:

- Vốn do Trung ương quản lý:

Ước thực hiện đạt 203,6 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 30 tỷ đồng; Trái phiếu chính phủ 50 tỷ đồng; Vốn tín dụng đầu tư phát triển 20 tỷ đồng; Vốn vay từ các nguồn khác 32 tỷ đồng; Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 71,5 tỷ đồng.

- Vốn do địa phương quản lý:

Ước thực hiện đạt 92 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 66,5 tỷ đồng; trái phiếu chính phủ 4 tỷ đồng; Vốn tín dụng đầu tư phát triển 16 tỷ đồng; Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 0,2 tỷ đồng; Vốn khác 5,2 tỷ đồng.

Ước 11 tháng năm 2013: Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đạt 3.117,6 tỷ đồng, đạt 79,43% KH và tăng 13,26% so cùng kỳ, cụ thể như sau:

- Vốn do Trung ương quản lý:

Ước thực hiện đạt 1.791,9 tỷ đồng, đạt 78,01% KH, tăng 42,65% so cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 160 tỷ đồng, đạt 71,94% KH, giảm 0,19% so cùng kỳ; Trái phiếu chính phủ 240,6 tỷ đồng, đạt 82,7% KH, tăng 117,27% so cùng kỳ, vốn tín dụng đầu tư phát triển 203,2 tỷ đồng, đạt 82,02% KH, tăng 171,52% so cùng kỳ; Vốn vay từ các nguồn khác 438,8 tỷ đồng, đạt 79,26% KH, tăng 10,53% so cùng kỳ; Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 749,2 tỷ đồng, đạt 75,19% KH, tăng 46% so cùng kỳ.

- Vốn do địa phương quản lý:

Ước thực hiện đạt 1.325,7 tỷ đồng, đạt 81,44% KH, giảm 11,41% so cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 1.026 tỷ đồng, đạt 89,37% KH, giảm 16,06% so cùng kỳ; Trái phiếu chính phủ 96,7 tỷ đồng, đạt 49,53% KH, tăng 37,16% so cùng kỳ; Vốn tín dụng đầu tư phát triển 135,2 tỷ đồng, đạt 71,16% KH, tăng 34,19% so cùng kỳ; Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 4,5 tỷ đồng, đạt 97,25% KH, giảm 86,11% so cùng kỳ; Vốn khác 63,3 tỷ đồng, đạt 70,5% KH, giảm 10,55% so cùng kỳ.

3. Tài chính, tín dụng

   Ước tháng 11:

- Thu ngân sách:

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện đạt 360tỷ đồng. Chia ra: tổng các khoản thu cân đối ngân sách nhà nước là 276,2 tỷ đồng; Các khoản được để lại chi quản lý qua ngân sách nhà nước là 83,9 tỷ đồng.

 

 

 

 - Chi ngân sách:

 

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện đạt 719 tỷ đồng. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 91,3 tỷ đồng; Chi thường xuyên 467 tỷ đồng; Chi các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số chương trình, dự án, nhiệm vụ khác từ nguồn bổ sung các chương trình mục tiêu từ ngân sách trung ương 76,8 tỷ đồng.

Ước 11 tháng năm 2013:

- Thu ngân sách:

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện đạt 3.134 tỷ đồng, đạt 87,06% KH, bằng 98,04% so cùng kỳ năm trước. Chia ra: tổng các khoản thu cân đối ngân sách nhà nước là 2.826,8 tỷ đồng, đạt 83,65% KH, bằng 96,51% so cùng kỳ; Các khoản được để lại chi quản lý qua ngân sách nhà nước là 307,3 tỷ đồng, đạt 139,22% KH, tăng 14,90% so cùng kỳ.

- Chi ngân sách:

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện đạt 6.693 tỷ đồng, đạt 89,12%KH, tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 404,3 tỷ đồng, đạt 68,22%KH; Chi thường xuyên 5.137,1 tỷ đồng, đạt 96,99%KH, tăng 26,06% so với cùng kỳ; Chi các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số chương trình, dự án, nhiệm vụ khác từ nguồn bổ sung các chương trình mục tiêu từ ngân sách trung ương 844,4 tỷ đồng, đạt 68,70%KH, tăng 34,75% so với cùng kỳ năm trước.

4. Cân đối thương mại

a. Xuất khẩu:

Ước tháng 11: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 20,33 triệu USD, giảm 0,35% so với tháng trước. Trong đó: Kinh tế Nhà nước tăng 23,1%; Kinh tế tư nhân giảm 5,27%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 20,5%.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm như: Xăng dầu, hạt điều, tiêu, gạo, đồ mộc tinh chế.

Tuy nhiên một số mặt hàng lại tăng như: Cà phê tăng 26,02%; mủ cao su tăng 31,73%; sắn lát tăng 68,37%.

Tính chung 11 tháng: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 224,64 triệu USD, giảm 43,03% so cùng kỳ năm trước. Trong đó Kinh tế Nhà nước giảm 14,82%; Kinh tế tư nhân giảm 41,23%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 61,21%.

Các mặt hàng xuất khẩu chính như cà phê, mủ cao su, sắn lát, gỗ tinh chế đều giảm: Cà phê giảm 54,69%; mủ cao su giảm 30,79%. Nguyên nhân do giá cà phê và mủ cao su trên thị trường thế giới thường xuyên biến động và theo chiều hướng giảm, mức chênh lệch không nhiều so với giá mua trong nước, vì vậy các đơn vị kinh doanh cũng hạn chế thu mua, khai thác và xuất khẩu các mặt hàng này. Ngoài ra các mặt hàng như sắn lát kim ngạch giảm 65,84%; gỗ tinh chế giảm 51,1%.

Chỉ có 2 nhóm là hàng hóa khác trong đó chủ yếu là xăng, dầu, xi măng xuất khẩu sang Lào và Cam  Pu Chia phục vụ cho các dự án đầu tư xây dựng bên nước bạn tăng 18,71% và Hạt điều tăng gấp hơn 2 lần. Tuy nhiên 2 nhóm này chiếm tỷ trọng nhỏ nên kim ngạch xuất khẩu của địa phương từ đầu năm đến nay vẫn giảm mạnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Nhập khẩu:

 

Tháng 11: Không có đơn vị nào nhập khẩu.

Tính chung 11 tháng: Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 29,54 triệu USD, giảm

 45,68% so cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chính đó là sắn lát và hạt điều từ Cam  Pu  Chia để tái xuất sang Trung Quốc.

 

III. BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HÓA VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC    

 

 

 

 

 

1. Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư

Tổ chức các đoàn kiểm tra về các vấn đề việc làm tại các doanh nghiệp như: Kiểm tra tình hình sử dụng lao động là người DTTS tại công ty Bình Dương và Trung đoàn 710; qua kiểm tra, số lao động đang làm việc tại 02 công ty là 827 người, trong đó: Công ty Bình Dương 516 người (dân tộc kinh 186 người, dân tộc thiểu số tại chỗ 83 người, dân tộc thiểu số khác 247 người); Trung đoàn 710 là 311 người ( dân tộc kinh 114 người, dân tộc thiểu số tại chỗ 26  người, dân tộc thiểu số khác 171 người); kiểm tra công tác cho vay vốn giải quyết việc làm tại huyện Ia Grai và Chư Păh; kiểm tra công tác ATVSLĐ của 04 Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; chính sách lao động, tiền lương trong 07 công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu.

Tổ chức tư vấn việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động cho 1.015 lượt người; giới thiệu việc làm trong nước 136 người, 171 người được tư vấn giới thiệu việc làm, học nghề. Tổ chức phiên giao dịch việc làm lần thứ 8, với tổng số 22 doanh nghiệp tham gia với nhu cầu tuyển dụng 314 lao động làm việc trong tỉnh và 800 lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài; có 626 lượt người lao động tham gia; kết quả có 62 lao động được tuyển dụng. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 171 người và đang hoàn chỉnh hồ sơ cho 151 người. Đăng ký nội quy lao động cho 04 công ty, thỏa ước lao động tập thể cho 01 công ty.

 Thiếu đói tháng 11 năm 2013 trên địa bàn tỉnh Gia Lai xảy ra ở 05/17 huyện/TP/TX với 342 hộ và 1.521  nhân khẩu thiếu đói, giảm so với tháng trước 38,82% về số hộ và  giảm 39,18% về số nhân khẩu, so với cùng kỳ năm trước giảm 24% về số hộ và  giảm 37,59% về số nhân khẩu.                                               

Thiếu đói xảy ra chủ yếu ở các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những người già neo đơn không đủ sức khỏe để lao động, trình độ dân trí còn thấp, hộ không có hoặc thiếu đất sản xuất... Trong tháng qua tỷ lệ thiếu đói giảm hơn nhiều so với tháng trước là vì trên địa bàn tỉnh đang thu hoạch cà phê. Tuy nhiên số hộ đói vẫn tập trung ở một số huyện vùng sâu vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ yếu như huyện: KBang, Ia Pa, Krông Pa, Phú Thiện, ...

Công tác dạy nghề: Góp ý hoàn thiện Đề án đổi mới công tác tư vấn hướng nghiệp, dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên; và dự thảo hệ thống các chỉ số theo dõi, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của Dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề”. Báo cáo tình hình thực hiện tự kiểm định chất lượng Dạy nghề năm 2012 - 2013 của các cơ sở dạy nghề và đăng ký danh sách mã các trường CĐN, TCN và các TTDN trên địa bàn tỉnh theo yêu cầu của Tổng Cục Dạy nghề.

Rà soát các chỉ tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn và điều chỉnh chỉ tiêu nghề phi nông nghiệp cho trường cao đẳng nghề Gia Lai. Triển khai xây dựng đề án thành lập 03 Trung tâm dạy nghề ở các huyện: Ia Grai, Chư Prông và Mang Yang. Chỉ đạo các cơ sở dạy nghề tổ chức Hội thi “An toàn giao thông qua góc nhìn sinh viên”.

Công tác Người có công: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ năm 2014 cho đối tượng NCC trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra và ra Quyết định giải quyết mai táng phí, trợ cấp hàng tháng cho 403 đối tượng theo NĐ 31/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Hướng dẫn phòng Lao động – TB và XH các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục rà soát, triển khai hướng dẫn đối tượng đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết định 62/2011/QĐ-TTg. Kiểm tra thủ tục 106 hồ sơ Thanh niên xung phong đề nghị giải quyết theo Quyết định 40/2011/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Công tác Bảo trợ xã hội: Kiểm tra, giám sát các mô hình giảm nghèo năm 2013 tại các huyện: Đăk Pơ, Kông Chro, Mang Yang và Chư Prông. Kiểm tra, tổng hợp công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2013; đồng thời, hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố đánh giá giữa kỳ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2012 - 2015.

Làm việc với Sở Tài nguyên - Môi trường và Sở Y tế thống nhất đề xuất phương án quy hoạch đất xây dựng Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần và người rối nhiễu tâm trí trên địa bàn tỉnh. Thụ lý hồ sơ giải quyết chế độ Mai táng phí  theo Nghị định 150 của Thủ tướng Chính phủ cho  đối tượng Cựu chiến binh, với số tiền 134.100.000 đồng. Đề nghị Sở Tài chính cấp bổ sung kinh phí 02 tháng cuối năm cho 23.029 đối tượng BTXH, với tổng kinh phí: 9.686.238.000 đồng.

Trung tâm Bảo trợ xã hội tổng hợp tỉnh hiện đang quản lý và nuôi dưỡng 143 đối tượng (Trong đó: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa: 97 cháu; Người già cô đơn, người tàn tật: 45 cụ, người lang thang: 01 người).

Hoạt động của Làng Trẻ em SOS Pleiku: Phối hợp với phòng Lao động - TB và XH các huyện, thị xã, thành phố khảo sát các đối tượng trẻ em mồ côi đủ điều kiện tiếp nhận vào Làng Trẻ em SOS Pleiku làm hồ sơ, thủ tục theo quy định; đến nay, tiếp nhận và nuôi dưỡng 26 trẻ.

Công tác phòng chống Tệ nạn Xã hội: Tổ chức Hội nghị tập huấn, triển khai mô hình và ra mắt mô hình “Điểm tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện ma túy và tái hòa nhập cộng đồng” tại xã Ia Nhin, huyện Chư Păh. Phối hợp với các Sở, ngành tổ chức phát động cuộc thi tìm hiểu kiến thức PCTNXH trong học sinh, sinh viên các trường CĐ, THCN trên địa bàn tỉnh. Tham mưu UBND tỉnh báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2011 - 2015 và Chương trình hành động phòng chống mại dâm giai đoạn 2011 - 2015.

Trung tâm CB-GD-LĐXH đã tiếp nhận 18 học viên ma túy, giải quyết 09 học viên tái hòa nhập cộng đồng. Hiện Trung tâm đang quản lý: 186 học viên.

Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em: Tổ chức tập huấn cho 489 cán bộ phụ trách công tác Đội bậc tiểu học và giáo viên dạy thể dục cấp THCS và cán bộ làm công tác BVCSTE cấp xã, phường, thị trấn về công tác phòng, chống đuối nước cho trẻ em. Tổ chức tập huấn và Hội thảo góp ý kiến kế hoạch xây dựng ban điều hành cho các địa phương triển khai dự án tình bạn hữu. Phối hợp với các ngành xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Dịch vụ công tác trẻ em thí điểm ở cấp tỉnh và cấp huyện; kiểm tra giám sát các chỉ tiêu bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 2013.                                                   

 

 

 

 2. Giáo dục, đào tạo

 

Trong tháng 11/2013, ngoài nhiệm vụ thường xuyên ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung thực hiện tốt một số công tác trọng tâm sau đây:

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đẩy mạnh cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo ” và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” trong toàn ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh.

Số trường học đầu năm học 2013 – 2014 là 549 trường tăng 9 trường hay 1,67% so đầu năm học trước, trong đó cấp tiểu học có 271 trường tăng 4 trường, trường trung học cơ sở 203 trường tăng 6 trường, trường trung học phổ thông 43 trường tăng 3 trường so với năm học trước, trườngg phổ thông cơ sở 31 trường giảm 4 trường do chuyển qua trung học cơ sở, trung học cấp 2+3 1 trường .

Số giáo viên đầu năm học hiện có 15.139 người tăng 454 người hay tăng 3,09% so đầu năm học trước, trong đó cấp tiểu học có 7.631 người tăng 253 người hay tăng 3,43%, cấp trung học cơ sở có 5.262 người tăng 92 người hay tăng 1,78%, cấp trung học phổ thông có 2.246 người tăng 109 người hay tăng 5,1%; số giáo viên tăng là do nhu cầu học sinh tăng đã tăng 9 trường so với năm học trước.

Số học sinh đầu năm học 2013 – 2014 hiện có 295.879 học sinh tăng 5.084 em hay tăng 1,74% trong đó cấp tiểu học có 162.473 em tăng 3.091 em hay tăng 1,94%, cấp trung học cơ ở có 93.043 em tăng 3.204 em hay tăng 3,57%, cấp trung học phổ thông có 40.363 em giảm 1.229 em hay giảm gần 3%so với đầu năm học 2012 - 2013 .

Tổ chức các hoạt động chào mừng Kỷ niệm 31 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/1982 – 20/11/2013.

 Phát hành Đặc San Giáo dục Gia Lai và Kỷ yếu thi đua của ngành Giáo dục.

 Tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên cốt cán theo các nội dung tiếp thu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 Tiếp tục triển khai Đề án dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh.

 Chỉ đạo các đơn vị cơ sở thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra học kỳ I năm học 2013 - 2014 theo Hướng dẫn nhiêm vụ năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 Tổ chức đi kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ giữa học kỳ I năm học 2013 - 2014 ở một số cơ sở giáo dục.

 Tổ chức xét tuyển giáo viên năm học 2013-2014 cho các đơn vị trực thuộc Sở.

 Tiếp tục triển khai và đôn đốc các đơn vị cơ sở đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án của ngành: Chương trình dự án SEQAP, Dự án phát triển trẻ thơ tại Gia Lai (Dự án Newzealand), Đề án phổ cập mầm non 5 tuổi, trường chuẩn Quốc gia.

 Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi giải toán trên máy tính cầm tay cấp tỉnh năm học 2013-2014.

3. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Công tác y tế dự phòng:

Tình hình dịch bệnh: Số trường hợp mắc/chết đối với các bệnh: Tay chân miệng: 17/0 (Lũy Kế: 263/0), sốt xuất huyết: 313/0 (Lũy Kế: 1504/01), thủy đậu: 13/0 (Lũy Kế: 229/0), quai bị 11/0 (Lũy Kế: 160/0) và các bệnh truyền nhiễm khác: sởi, tả, thương hàn không có trường hợp mắc/chết. Kiểm dịch Y tế biên giới cửa khẩu Lệ Thanh - Đức Cơ.

- Công tác phòng chống sốt rét: Khám và điều trị cho 563 bệnh nhân sốt rét trong toàn tỉnh.Tổng số lam xét nghiệm tìm Ký sinh trùng sốt rét trong tháng là: 13.715 lam (dương tính: 548, chiếm tỷ lệ:3,18%). Sốt rét ác tính 0, tử vong do sốt rét: 0.

- Công tác phòng chống phong: Khám da liễu tại Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội tổng số: 153 bệnh nhân. Trong tháng phát hiện 01 bệnh nhân phong mới (lũy kế: 24 bệnh nhân).              

- Khám, điều trị các bệnh về mắt tại Trung tâm Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội: 91 lượt, tổng phẫu thuật Đục thủy tinh thể: 100 cas, trong đó( TTYT Pleiku: 53 cas, Đa khoa khu vực An Khê: 18 cas,  Đa khoa khu vực Ayun Pa: 29 cas)

 - Khám bướu cổ tại Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội: 96 lượt, phát hiện bướu cổ mới: 42 người.

 - Trong tháng khám và cấp thuốc điều trị cho 553 bệnh nhân tâm thần, trong đó: phát hiện bệnh nhân tâm thần mới: 17 bệnh nhân.

 - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tư vấn xét nghiệm tự nguyện 106 lượt người. Phát hiện nhiễm HIV mới: 05 (lũy kế: 100); bệnh nhân AIDS mới: 0 (lũy kế: 39); tử vong do AIDS: 0 (lũy kế: 08).

Công tác An toàn vệ sinh thực phẩm:

- Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP: 08 giấy (lũy kế: 72), giấy công bố phù hợp quy định: 04 giấy (lũy kế: 41).

-  Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại quán ăn Thùy Dương (639 Quang Trung, thị trấn Chư Ty) huyện Đức Cơ với 07 người ăn, 05 người mắc, 05 người đi viện, 0 người tử vong, nguyên nhân đang được làm rõ.

4. Hoạt động văn hoá, thể thao

Công tác Văn hóa:

Trình UBND tỉnh về việc xin chủ trương và đề nghị phối hợp tham gia ngày Di sản Văn hóa Việt nam lần thứ IX năm 2013 tại Hà Nội; xin chủ trương tham gia Tuần lễ “ Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa VN ” tại Hà Nội năm 2013.

Báo cáo Vụ Văn hóa dân tộc và Bộ Văn hóa về kết quả 05 năm triển khai các hoạt động Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Xây dựng Đề án khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị không gian Văn hóa Cồng chiêng tỉnh Gia Lai (giai đoạn 2014-2018).

Bàn giao các hiện vật phát hiện được trong đợt khảo sát tại huyện Kbang cho Bảo tàng tỉnh và Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Kbang tiếp nhận và trưng bày.

Cùng với đoàn nghệ nhân cồng chiêng huyện Chư Prông  tham gia Tuần lễ “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam ” tại Hà Nội.

Thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh (Tổ chức hội thảo khoa học lần 2 đề tài “Lịch sử Gia Lai từ nguồn gốc đến  nay”).

Tổng hợp và báo cáo tình hình xử lý các hộ kinh doanh Karaoke trái phép và thu hồi các giấy phép do các địa phương cấp vượt so với Quyết định số 302 theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh; Văn bản yêu cầu UBND huyện Chư Pưh thu hồi 02 giấy phép kinh doanh karaoke theo chỉ đạo của UBND tỉnh; hoàn thành báo cáo và cử cán bộ cùng làm việc với Đoàn giám sát – HĐND tỉnh về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa và cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng tại thành phố Pleiku và một số huyện địa bàn tỉnh năm 2012 - 2013.

Tổ chức triển lãm ảnh Di sản Văn hóa Việt Nam tỉnh Gia Lai năm 2013 từ ngày 30/10 – 06/11/2013; trình UBND tỉnh dự thảo các văn bản về việc đặt tên đường trên địa bàn huyện Chư Pưh.

Hướng dẫn và xây dựng kế hoạch Toạ đàm nhân ngày Thế giới xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ.

Tham gia Báo cáo đánh giá giữa kỳ Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011- 2015; đôn đốc các huyện hoàn thành dự án sửa đổi, bổ sung hương ước, quy ước lồng ghép yếu tố bình đẳng giới. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền phòng chống mại dâm đến 2015.

Công tác Thể thao

Tổng hợp theo dõi, báo cáo tình hình công tác tổ chức Đại hội TDTT các cấp; trưng tập VĐV thành lập đội tuyển tỉnh tham gia Hội thi thể thao các DTTS toàn quốc khu vực II tại Gia Lai.

Phối hợp với Tổng cục TDTT tổ chức thành công Hội thi thể thao các DTTS toàn quốc khu vực II tại Gia Lai. Tham gia có 15 tỉnh thành với hơn 500 VĐV.

Chuẩn bị các công tác liên quan tổ chức giải Quần vợt Hiệp hội Du lịch Việt Nam năm 2013 tại Gia Lai; giải Việt dã Báo Gia Lai mở rộng năm 2013.

Công tác Thanh tra

Kiểm tra và làm việc với 05 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao, 33 cơ sở kinh doanh karaoke, 01 cơ sở quảng cáo, 07 cơ sở lưu trú. Lập biên bản vi phạm hành chính đối với 01 cơ sở kinh doanh karaoke không có giấy phép tại huyện Mang Yang. Tịch thu 01 màn hình LG, 01 đầu máy, 01 âm ly; 01 bao đĩa không tem nhãn.

Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra, kiểm tra năm 2013.

Xây dựng kế hoạch thực hiện “Ngày Pháp luật” năm 2013; kế hoạch phòng, chống tham nhũng năm 2014.

Báo cáo công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013; tổng hợp báo cáo kết quả thanh, kiểm tra 10 tháng đầu năm 2013 phục vụ buổi làm việc với Đoàn giám sát của Ban VHXH-HĐND tỉnh.

5. Tai nạn giao thông

   Tháng 10: Theo báo cáo của Ban An toàn Giao thông, thì tình hình an toàn giao thông số vụ tai nạn giao thông giảm, giảm về số người chết và bị thương so với tháng trước.

Số vụ tai nạn giao thông là 12 vụ, giảm 4 vụ so  tháng trước và tăng 1 vụ so  cùng kỳ năm trước.

Số người chết là 15 người, giảm 3 người so  tháng trước và tăng 3 người so  cùng kỳ năm trước.

Số người bị thương là 12 người, giảm 11 người so  tháng trước, giảm 10   người so cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 10 tháng: Số vụ tai nạn giao thông là 188 vụ, tăng 18 vụ so  cùng kỳ năm trước.

Số người chết là 210 người, tăng 18 người so cùng kỳ năm trước.

Số người bị thương là 139 người, tăng 4 người so  cùng kỳ năm trước.

+ Số lượng mô tô đăng ký mới và chuyển đến trong tháng 10/2013:  2.347

+ Lũy kế mô tô đến tháng 10/2013:  586.763

+ Số lượng ô tô đăng ký mới và chuyển đến trong tháng 10/2013: 95

+ Lũy kế ô tô đến tháng 10/2013: 28.917

+ Tổng phương tiện đăng ký mới và chuyển đến trong tháng 10/2013: 2.442

    + Tổng phương tiện đến tháng 10/2013: 615.680.

Nguồn: Cục Thống kê Gia Lai


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt