Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Kon Tum tháng 10/2013
Do ảnh hưởng cơn bão số 8, 9, 10, trên địa bàn tỉnh mưa lớn kéo dài làm ngập úng, bồi lấp, ảnh hưởng đến năng suất 858,7 ha lúa (TP Kon Tum 37,5 ha, Đăk Hà 314,6 ha, Sa Thầy 267 ha, Đăk Tô 49,1 ha, Ngọc Hồi 139,7 ha, Đăk Glei 4 ha, Tu Mơ Rông 12,9 ha, Kon Plông 9,4 ha, Kon Rẫy 24,5 ha). Trong đó, mất trắng 20,5 ha; Ngô, sắn 149,9 ha; Cà phê, cao su 49 ha.

 I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tính đến ngày 15/10/2013

1.  Nông nghiệp

Tổng DTGT cây hàng năm vụ mùa năm 2013 tỉnh Kon Tum ước đạt: 65.120 ha, tăng 1,0% (+638 ha) so vụ mùa năm 2012.

- Cây lúa ruộng diện tích: 11.754 ha, vượt 0,5% kế hoạch và tăng 2,9% (+335 ha)  so với vụ mùa năm 2012.

- Cây lúa rẫy diện tích: 4.624 ha, vượt 10,4% kế hoạch và bằng 93,3% so với vụ mùa năm 2012.

- Cây ngô diện tích: 6.729 ha, tăng 4,2% (+270 ha) so với vụ mùa năm 2012.

- Cây sắn diện tích: 40.100 ha, tăng 1,0% (+393 ha) so với vụ mùa năm 2012.

- Rau các loại: DTGT 1.169 ha, tăng 9,2% (+98 ha) so với vụ mùa năm 2012. Diện tích rau các loại tăng do có chương trình hỗ trợ giống của các trung tâm khuyến nông, đã vận động nhân dân tích cực sản xuất để người dân cải thiện bữa ăn hàng ngày.

Các loại cây hàng năm khác diện tích gieo trồng không lớn và không biến động lớn so với vụ mùa năm 2012.

Đến nay cây trồng vụ mùa đã kết thúc gieo trồng. Cây ngô vụ mùa đã thu hoạch khoảng 90% diện tích, năng suất ước đạt 37,81 tạ/ha.

Sản lượng lương thực vụ mùa năm 2013 tỉnh Kon Tum ước đạt: 78.444 tấn, tăng 2,3% (+1.790 tấn) so với vụ mùa năm 2012. Trong đó sản lượng lúa 53.000 tấn, tăng 1,2% (+633 tấn); Sản lượng ngô 25.444 tấn, tăng 4,8% (+1.157 tấn) so với vụ mùa năm 2012.

* Tình hình mưa lũ: Do ảnh hưởng cơn bão số 8, 9, 10, trên địa bàn tỉnh mưa lớn kéo dài làm ngập úng, bồi lấp, ảnh hưởng đến năng suất 858,7 ha lúa (TP Kon Tum 37,5 ha, Đăk Hà 314,6 ha, Sa Thầy 267 ha, Đăk Tô 49,1 ha, Ngọc Hồi 139,7 ha, Đăk Glei 4 ha, Tu Mơ Rông 12,9 ha, Kon Plông 9,4 ha, Kon Rẫy 24,5 ha). Trong đó, mất trắng 20,5 ha; Ngô, sắn 149,9 ha; Cà phê, cao su 49 ha.

* Tình hình dịch bệnh: Theo báo cáo của Chi cục thú y tỉnh, đàn gia súc mắc bệnh (LMLM) tại 4 làng (Làng Rẽ, Làng Tang, Làng Kênh, Làng Xộp), xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Từ ngày 29/9-13/10/2013 có 71 con gia súc mắc bệnh (62 con trâu, bò và 9 con lợn). Đến ngày 13/10/2013 đã điều trị khỏi bệnh 38 con trâu, bò. Hiện nay, ngành thú y và địa phương xảy ra dịch đang tích cực triển khai các biện pháp phòng chống dịch; Chi cục thú y đang tiếp tục theo dõi diễn biến tình hình dịch bệnh để kịp thời tham mưu, đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

2. Lâm nghiệp

Ước tính đến ngày 15/10/2013 trên địa bàn tỉnh Kon Tum diện tích rừng trồng tập trung đạt 1.000 ha (trồng rừng phòng hộ là 350 ha, hỗ trợ trồng rừng sản xuất là 650 ha); các đơn vị tiếp tục lập hồ sơ, chuẩn bị hiện trường triển khai trồng rừng trong thời gian tới. Ước số cây trồng phân tán đạt 2.530 ngàn cây.

Ước đến ngày 15/10/2013 tiếp tục công tác chăm sóc rừng là 4.060 ha. Chia ra: rừng chăm sóc theo kế hoạch của tỉnh 645,5 ha, diện tích chăm sóc rừng nguyên liệu giấy là 100 ha, diện tích chăm sóc rừng Sư đoàn 10 trồng khu vực thao trường là 122,7 ha, diện tích chăm sóc rừng của các hộ cá thể 2.731,8 ha, diện tích chăm sóc rừng của doanh nghiệp 210 ha, diện tích chăm sóc rừng vốn đầu tư nước ngoài 250 ha.

Tổng lượng gỗ khai thác ước đến ngày 15/10/2013 trên địa bàn tỉnh Kon Tum là 15.022,4 m3. Chia ra: Khai thác chính phẩm, tận dụng gỗ rừng tự nhiên trên đường tuần tra biên giới, khai thác diện tích chuyển đổi trồng cao su, tận dụng gỗ trên các công trình thủy điện, tận dụng gỗ trên các công trình khác là 11.876,9 m3 (trong đó: rừng tự nhiên là: 8.926,4 m3, khai thác năm 2012 chuyển sang là: 2.750,5 m3, gỗ cành ngọn là 200 m3); khai thác gỗ rừng trồng (chủ yếu rừng nguyên liệu giấy) là 1.160 m3; gỗ nhân dân tự khai thác làm nhà, đóng dụng cụ sinh hoạt và dùng vào các mục đích khác là 1.985,5 m3. Do thời điểm này trên địa bàn đang ảnh hưởng của bão, dẫn đến mưa nhiều nên tình hình khai thác gỗ không diễn ra, chủ yếu là các hộ dân khai thác phục vụ cho sinh hoạt.

Lượng củi khai thác ước đến ngày 15/10/2013 là 118.804,4 ster; trong đó: Củi tận dụng trên diện tích chuyển đổi trồng cao su là 15.105,6 ster, củi các hộ cá thể tự khai thác là 103.698,8 ster.

Các lâm sản khác khai thác như song mây 39 tấn; tre, lồ ô 105 ngàn cây;  bời lời 280 tấn, bông đót 41 ngàn mét, măng tươi 1.070 tấn; nhựa thông 149,1 tấn.

3. Thuỷ sản

Ước tính sản lượng, sản phẩm thuỷ sản đến ngày 15 tháng 10 năm 2013 trên địa bàn tỉnh Kon Tum là 2.229 tấn, tăng 6,4% (+135 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Ước sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt là 954 tấn, tăng 6,2% (+56 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Ước sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 1.275 tấn, tăng 6,6% (+79 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

II. Công nghiệp

* Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2013 dự tính tăng 13,23% so cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ số ngành công nghiệp khai khoáng dự tính tăng 53,02%; ngành công nghiệp chế biến tăng 0,66%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 30,58%; ngành cung cấp nước và thu gom xử lý rác thải tăng 2,70%.

* Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2013 dự tính tăng 6,23% so tháng trước. Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến (tăng 6,91%), nguyên nhân trong tháng 10 các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đã hoạt động sản xuất cơ bản ổn định, nên sản phẩm sản xuất tăng hơn so tháng trước.

* Chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 10 tháng đầu năm 2013 dự tính tăng 9,37% so cùng kỳ năm 2012. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng tăng cao (tăng 41,39%), nguyên nhân là do trong năm phát sinh thêm sản phẩm quặng sắt của công ty TNHH MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai-Kon Tum khai thác tại xã Mo Ray, huyện Sa Thầy đã làm cho chỉ số sản xuất của ngành này tăng cao; chỉ số ngành công nghiệp chế biến tăng 2,94%,  mức tăng này không đáng kể so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do sản phẩm đường, tinh bột sắn sản xuất giảm; chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,41%; chỉ số ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 1,95%.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 10 tháng đầu năm 2013 như: Đá xây dựng khai thác 528,744 ngàn m3, bằng 96,82% so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do lượng đá xây dựng trong các tháng đầu năm tiêu thụ chậm, một phần là do số lượng đá khai thác còn tồn kho nhiều, nên các doanh nghiệp hạn chế sản lượng khai thác; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 67.745 tấn, bằng 96,49% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 10.104 tấn, bằng 86,23% so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân vụ mía năm nay Công ty cổ phần Đường Kon Tum thu mua nguồn nguyên liệu mía từ ngoài tỉnh với số lượng ít nên đã kết thúc niên vụ sản xuất sớm hơn so năm trước; bàn ghế ước tính sản xuất 321,077 ngàn chiếc, tăng 4,98% so cùng kỳ năm trước.

Tình hình sản xuất công nghiệp trong 10 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh tuy vẫn còn chịu tác động ảnh hưởng chung của nền kinh tế trong và ngoài nước nhưng nhìn chung các ngành vẫn duy trì hoạt động ổn định. Ngành công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trưởng chậm so cùng kỳ do một số doanh nghiệp còn khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào, bên cạnh sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm, lượng tồn kho khá lớn; Thời gian từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 8/2013 các nhà máy sản xuất tinh bột sắn tạm ngưng sản xuất do hết nguồn nguyên liệu, đến nay mới có 3/4 đơn vị hoạt động sản xuất trở lại; Riêng Công ty cổ phần Đường Kon Tum năm nay nguồn nguyên liệu mía thu mua ngoài tỉnh giảm và kết thúc niên vụ sản xuất sớm hơn đã làm cho sản lượng đường giảm so với cùng kỳ. Đối với các hồ thuỷ điện các tháng trong năm vẫn đảm bảo lượng nước cho các nhà máy hoạt động bình thường. Trong các tháng đầu năm 2013, lượng đá xây dựng tiêu thụ chậm do vậy các doanh nghiệp đã hạn chế sản lượng khai thác, tuy nhiên, từ cuối tháng 6/2013 đến nay nhu cầu thị trường tiêu thụ sản lượng khai thác có chuyển biến tăng nên các doanh nghiệp đang tập trung vào sản xuất. Các đơn vị sản xuất bàn, ghế vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường để ký kết hợp đồng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa nên hạn chế sản xuất số lượng sản phẩm, mặt khác nguồn nguyên liệu yêu cầu đạt tiêu chuẩn để đưa vào sản xuất sản phẩm dần khan hiếm, giá nguyên liệu đầu vào cao, sản xuất ít có lãi; Bên cạnh đó, việc tiếp cận và đầu tư nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở còn khó khăn phần nào đã ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đánh giá chung về tình hình hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh, từ đầu quý III/2013 đến nay, các đơn vị, cơ sở hoạt động sản xuất tương đối ổn định và tốc độ tăng khá hơn so 6 tháng đầu năm 2013.

III. Vốn đầu tư

* Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 năm 2013 đạt 127.633 triệu đồng, tăng 19,88% so cùng kỳ năm 2012, chia ra:

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt: 65.436 triệu đồng, chiếm 51,27% trong tổng số nguồn vốn, trong đó: Vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 17.635 triệu đồng, chiếm 26,95%; Vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 32.147 triệu đồng, chiếm 49,13%; Vốn ODA đạt 7.500 triệu đồng, chiếm 11,46%; Vốn Xổ số kiến thiết đạt 6.954 triệu đồng, chiếm 10,63%; Vốn khác đạt 1.200 triệu đồng, chiếm 1,83% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt: 61.420 triệu đồng, chiếm 48,12% trong tổng số nguồn vốn, trong đó: Vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 22.368 triệu đồng, chiếm 36,42%; Vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 38.542 triệu đồng, chiếm 62,75%; Vốn khác đạt 510 triệu đồng, chiếm 0,83% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt: 777 triệu đồng, chiếm 0,61% trong tổng số nguồn vốn, trong đó chủ yếu là nguồn vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 726 triệu đồng, chiếm 93,44% trong nguồn vốn ngân sách cấp xã.

* Dự ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng đầu năm 2013.

Trong những tháng đầu năm 2013, kinh tế nước ta nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng diễn ra trong bối cảnh vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và thách thức, Chính phủ tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, siết chặt đầu tư công; doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, huy động vốn gặp nhiều khó khăn, tín dụng tăng thấp là những yếu tố tác ảnh hưởng đến việc huy động và triển khai các nguồn vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, trong những tháng đầu năm hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, các hạng mục công trình thiết yếu như: hệ thống kết cấu hạ tầng khu đô thị Nam Đăk Bla, Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y.. đã và đang được tiếp tục triển khai nên vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng đầu năm có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau: Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong 10 tháng năm 2013 là 1.016.918 triệu đồng, tăng 6,05% so với cùng kỳ, đạt 69,48% so với kế hoạch năm 2013. Chia ra:

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt: 516.334 triệu đồng, chiếm 50,77% trong tổng số.

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt: 496.321 triệu đồng, chiếm 48,81% trong tổng số.

- Vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt: 4.263 triệu đồng, chiếm 0.42% trong tổng số.

IV.  Thương mại, dịch vụ và giá cả

1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

* Tổng mức hàng hoá bán lẻ, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh dự tính tháng 10 năm 2013 đạt 720.571 triệu đồng, tăng 2,72% so với tháng trước. Trong đó: cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ dự tính đạt 1.094 triệu đồng.

Trong tổng mức: thành phần kinh tế Nhà nước dự tính đạt 82.355 triệu đồng, chiếm 11,43%; thành phần kinh tế cá thể dự tính đạt 496.517 triệu đồng, chiếm 68,91% và thành phần kinh tế tư nhân dự tính đạt 141.699 triệu đồng, chiếm 19,66% tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ.

Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ, doanh thu dịch vụ ngành thương nghiệp dự tính đạt 587.427 triệu đồng, chiếm 81,52% trong tổng mức và tăng 2,8% so với tháng trước.

* Tổng mức hàng hoá bán lẻ, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh dự tính 10 tháng đầu năm 2013 đạt 6.864.751 triệu đồng, tăng 34,19% so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Trong đó: cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ dự tính đạt 10.909 triệu đồng.

Trong tổng mức: thành phần kinh tế Nhà nước dự tính đạt 811.620 triệu đồng, chiếm 11,82%; thành phần kinh tế cá thể dự tính đạt 4.694.371 triệu đồng, chiếm 68,39% và thành phần kinh tế tư nhân dự tính đạt 1.358.759 triệu đồng, chiếm 19,79% tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ.

Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ, doanh thu dịch vụ ngành thương nghiệp dự tính đạt 5.617.937 triệu đồng, chiếm 81,84% trong tổng mức và tăng 35,75% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước.

2.  Xuất, nhập khẩu

2.1. Xuất khẩu:

* Ước tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2013 đạt 5.460 ngàn USD, giảm 20,12% so với tháng trước. Chia ra, kinh tế Nhà nước kim ngạch xuất khẩu đạt 1.100 ngàn USD chiếm 20,15%, kinh tế tư nhân đạt 4.360 ngàn USD chiếm 79,85% trong tổng số. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 2.200 tấn, tinh bột sắn 1.000 tấn

* Ước tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 10  tháng đầu năm 2013 đạt 49.014 ngàn USD, tăng 9,21% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra, kinh tế Nhà nước kim ngạch xuất khẩu đạt 7.069 ngàn USD chiếm 14,42%, kinh tế tư nhân đạt 41.945 ngàn USD chiếm 85,58% trong tổng số. Sản phẩm chủ yếu: Bàn, ghế các loại 37.149 cái; Mủ cao su thô 8.902 tấn; cao su tổng hợp 332 tấn; tinh bột sắn 16.260 tấn; sắn lát khô 60.166 tấn; cà phê nhân 1.901 tấn; máy móc thiết bị phụ tùng 51 chiếc.

2.2. Nhập khẩu:

* Uớc tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2013 đạt 1.231 ngàn USD. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ xẻ các loại 1.721,2 m3.

* Ước tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn 10 tháng đầu năm 2013 đạt 7.979 ngàn USD, tăng 39,78% so cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu:  Gỗ xẻ các loại 11.962,2 m3; phân bón 6.000 tấn; chất dẻo nguyên liệu (dầu hoá dẻo; bột Slica) 111,2 tấn; máy móc thiết bị phụ tùng 35 cái; máy móc thiết bị điện 05 bộ.

3. Chỉ số giá:

Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2013 là 100,56% tăng 0,56% so với tháng trước, tăng 3,69% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể chỉ số các nhóm hàng so với tháng trước như sau:

Lương thực: Chỉ số nhóm lương thực tăng 0,56% so tháng trước: chỉ số nhóm gạo tăng 0,55%, trong đó chỉ số nhóm gạo tẻ thường tăng 0,58%, chỉ số nhóm gạo tẻ ngon tăng 0,51%, chỉ số nhóm gạo nếp tăng 0,21% so với tháng trước. Chỉ số giá các nhóm gạo tăng là do: vụ lúa mùa chưa vào vụ thu hoạch nên giá lúa tăng, ngoài ra giá gạo trên thị trường cả nước tăng làm cho giá gạo trên địa bàn tăng.

Thực phẩm:  Chỉ số nhóm  thực phẩm tăng 0,92% so với tháng trước, tăng chủ yếu ở các nhóm như: chỉ số giá nhóm thịt gia súc tươi sống tăng 0,83%,  trong đó nhóm thịt lợn tăng 0,84%, nhóm thịt bò tăng 0,83%. Nhóm thịt gia cầm tươi sống tăng 0,53%; nhóm trứng các loại tăng 0,59%; chỉ số nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,78%;  nhóm thuỷ sản tươi sống tăng 0,97%; nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 2,45%; nhóm quả tươi, chế biến tăng 1,61%.

- Chỉ số các loại thực phẩm tháng 10/2013 tăng so với tháng trước là do: nhu cầu sử dụng các loại thực phẩm tăng so với tháng trước và giá thịt hơi các loại tăng: giá thịt lợn tăng từ 2.000đ- 3.000đ/kg làm cho giá thực phẩm tăng. Do ảnh hưởng bão nên giá các loại thuỷ hải sản tươi sống và thuỷ hải chế biến tăng lên làm cho chỉ số nhóm thực phẩm tăng.

- Từ đầu tháng đến nay thời tiết trên địa bàn tỉnh liên tục có mưa to và kéo dài, do ảnh hưởng bão số 10 và số 11 nên nhiều diện tích  trồng rau xanh đã hư hại nặng và một số diện tích đất trồng rau bị ngập úng không sản xuất được nên nguồn cung cấp rau xanh cho thị trường giảm, do vậy giá một số loại rau xanh tăng so với tháng trước: bắp cải tăng 1,5%, cà chua tăng 1,26%, rau muống tăng 3,71%,  đỗ quả tươi tăng 2,78%, rau tươi khác tăng 3,19%, rau chế biến các loại tăng 0,71%; nhóm quả tươi, chế biến tăng 1,61%.

Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,33% so với tháng trước. Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng là do: nhóm thuốc lá tăng 0,48% và nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 0,43%; nhóm rượu bia tăng 0,06%. Chỉ số nhóm rượu bia tăng là do nhóm rượu nhẹ tăng 0,35%;  nhóm bia lon tăng 0,47% do nhu cầu sử dụng tăng nên giá các loại bia rượu tăng.

Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,42% so tháng trước. Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng là do: chỉ số nhóm may mặc tăng 0,5%, trong đó nhóm quần áo may sẵn tăng 0,62%, trong đó áo phông người lớn tăng 1,63%, quần áo thể thao người lớn tăng 1,81%; nhóm giày, dép tăng 0,33% trong đó giày, dép da nữ người lớn tăng 0,92% và giày vải, thể thao người lớn tăng 0,73%.

Chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,83% so tháng trước là do: nhu cầu sử dụng điện trong tháng tăng cao nên điện sinh hoạt tăng 3,82% so với tháng trước làm cho nhóm điện và dịch vụ điện tăng 3,77%. Mặc dù trong tháng giá ga giảm 9.000đ/bình 12kg làm cho chỉ số nhóm ga và các loại chất đốt khác giảm 1,75%, trong đó ga giảm 2,12%. Nhưng chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,83% so tháng trước là do điện sinh hoạt tăng.

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,42%. Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng là do: nhóm đồ dùng trong nhà tăng 0,44%, trong đó nhóm đồ dùng nấu ăn tăng 0,91%, nhóm hàng thuỷ tinh, sành sứ tăng 0,45%, nhóm hàng dệt trong nhà tăng 2,02%, trong đó chăn, màn tăng 3,37%. Nhóm dịch vụ trong gia đình tăng 0,84%, trong đó sữa chữa thiết bị gia đình tăng 2,31%.

        Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế  tăng 0,42%. Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế  tăng là do: thời tiết trên địa bàn tỉnh đang trong giai đoạn chuyển mùa (từ mùa mưa sang mùa khô) nên đã xảy ra một số dịch bệnh: dịch đau mắt đỏ, dịch sốt xuất huyết… nên giá một số loại thuốc tăng làm cho nhóm thuốc kháng sinh cơ bản tăng 0,19%, nhóm thuốc vitamin tăng 0,16%, nhóm thuốc cảm tăng 0,29%; nhóm dịch vụ y tế tăng 0,56% trong đó dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tăng 1,55%.

Chỉ số nhóm giao thông giảm 0,03% so với tháng trước. Chỉ số nhóm giao thông giảm là do: giá xăng giảm 390đ/lít vào ngày 07/10/2013 đã làm cho chỉ số nhóm nhiên liệu giảm 0,33% trong đó xăng, dầu diezen giảm 0,47% so với tháng trước. Riêng nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 2,05%, trong đó sữa chữa xe máy tăng 2,24%.

Chỉ số nhóm giáo dục tăng 0,04% so với tháng trước. Chỉ số nhóm giáo dục tăng là do nhóm văn phòng phẩm tăng 0,2% trong đó vở, giấy viết tăng 0,66%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập tăng 0,44% so với tháng trước.

Chỉ số nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,52% so tháng trước. Chỉ số nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng là do: nhóm dịch vụ văn hoá tăng 1,51%, trong đó nhóm chụp, in tráng ảnh tăng 4,27%; nhóm giải trí tăng 1,53%, trong đó nhóm cá, chim cảnh tăng 1,85%.

Chỉ số nhóm hàng hoá và dịch vụ tăng 0,94% so với tháng trước. Chỉ số nhóm hàng hoá và dịch vụ tăng là do: nhóm dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 4,53%, trong đó cắt tóc gội đầu tăng 4,55% và dịch vụ chăm sóc cá nhân  tăng 4,03%; nhóm hiếu hỉ tăng 0,92%, trong đó nhóm về hỉ tăng 1,05% và nhóm về hiếu tăng 0,71%.

Giá vàng bình quân trong tháng 10/2013 tại tỉnh Kon tum giảm 2,81% (giảm 101.000đ/chỉ)  so tháng trước;  so với tháng 12 năm trước giảm 25,05% (giảm 1.169.000đ/chỉ). Giá đô la Mỹ  giảm 0,23% (giảm 51đ/USD) so với tháng trước; so với tháng 12 năm trước giảm 0,12% (giảm 24đ/USD).

4. Vận tải

* Ước thực hiện tháng 10 năm 2013

Doanh thu vận tải tháng 10 năm 2013 là 82.561,1 triệu đồng, tăng 0,48% so với tháng trước, trong đó: doanh thu vận tải hành khách đạt 30.466,5 triệu đồng, tăng 0,53% so với tháng trước và doanh thu vận tải hàng hoá đạt 51.826,0 triệu đồng tăng 0,44% so với tháng trước.

Khối lượng hành khách vận chuyển 601 (1000.HK), tăng 0,47% và khối lượng hàng hoá vận chuyển 596 (1000.Tấn) tăng 0,46% so với tháng trước. Khối lượng hành khách luân chuyển 75.853 (1000.HK.Km), tăng 0,58% và khối lượng hàng hóa luân chuyển 30.298 (1000.Tấn.Km) tăng 0,51% so với tháng trước.

Doanh thu và sản lượng vận tải trong tháng tăng so với tháng trước là do: các đơn vị hoạt động vận tải hàng hóa vẫn duy trì nguồn hàng ổn định, tập trung vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất cũng như sinh hoạt trong nhân dân trên địa bàn tỉnh. Cùng với hoạt động vận tải hàng hóa, hoạt động vận tải hành khách vẫn đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của người dân.

* Ước thực hiện 10 tháng năm 2013

Doanh thu vận tải thực hiện 10 tháng năm 2013 là 796.982,6 triệu đồng, tăng 17,03% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu vận tải hành khách đạt 290.599,3 triệu đồng, tăng 24,34% so với cùng kỳ năm trước và doanh thu vận tải hàng hoá đạt 503.893,4 triệu đồng tăng 12,72% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hành khách vận chuyển 5.722 (1000.HK), tăng 22,74% và khối lượng hàng hoá vận chuyển 5.785 (1000.Tấn) tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hành khách luân chuyển 721.549 (1000.HK.Km), tăng 22,33% và khối lượng hàng hoá luân chuyển 294.391 (1000.Tấn.Km) tăng 11,96% so với cùng kỳ năm trước.

V. Tình hình xã hội 

1. Y tế tháng 9/2013

- Dịch hạch, dịch thương hàn, dịch tả trong tháng không xảy ra.

- Dịch đau mắt đỏ: Trong tháng 9 ghi nhận 894 ca tại 8/9 huyện, thành phố (trừ huyện Tu Mơ Rông).

- Bệnh viêm gan cấp: Trong tháng không xảy ra ổ dịch mới, toàn tỉnh ghi nhận 19 ca mắc mới, tính đến ngày 30/9/2013 đã ghi nhận 110 trường hợp viêm gan cấp, không có trường hợp tử vong.

- Bệnh tay - chân - miệng: Trong tháng ghi nhận 38 ca mắc mới, tăng 10 ca so với tháng trước, không có trường hợp tử vong. Tổng số bệnh nhân mắc tay chân miệng tính đến ngày 30/9/2013 là 300 bệnh nhân, không có tử vong.

- Sốt xuất huyết: Trong tháng 9 toàn tỉnh ghi nhận 86 ca mắc sốt xuất huyết (Ngọc Hồi 02 ca, Đak Tô 01 ca, TP Kon Tum 46 ca, Đăk Glei 07 ca, Đăk Hà 26 ca, Kon Rẫy 04 ca), giảm 12 ca so với tháng trước, không có trường hợp tử vong. Tổng số mắc trong 09 tháng đầu năm 2013 là 316 ca, không có tử vong.

- Sốt rét: Trong tháng ghi nhận 98 ca mắc mới, giảm 05 ca so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân mắc sốt rét trong 9 tháng đầu năm 2013 là 842 ca, không có sốt rét ác tính và không có tử vong.

- Bệnh thủy đậu: Trong tháng ghi nhận 18 ca mắc, tăng 04 ca so với tháng trước, không có tử vong. Tính đến 30/9/2013, tổng số mắc là 636 ca, không có tử vong.

- HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận thêm 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới; 02 bệnh nhân chuyển sang AIDS. Tổng số người nhiễm HIV/AIDS tính đến 30/9/2013 là 333 trường hợp. Trong đó: AIDS là 168 trường hợp, tử vong: 111 trường hợp.

- Ngộ độc thực phẩm: Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (huyện Sa Thầy), tổng số người mắc là 27 trường hợp, không có tử vong. Tổng số ca mắc lẻ tẻ ghi nhận tại các cơ sở y tế là 21 ca, nguyên nhân do ăn uống không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

2. Giáo dục

- Trong tháng 10 năm 2013, ngành giáo dục tỉnh Kon Tum tiếp tục tập trung công tác dạy và học; triển khai tập huấn tìm hiểu về kinh doanh trong môn Công nghệ cấp THCS, THPT cho hơn 140 thầy cô giáo là chuyên viên phụ trách THCS tại 9 phòng GD&ĐT huyện/thành phố, là giáo viên cốt cán môn Công nghệ của tất cả các trường THCS, THPT, PTDTNT trong toàn tỉnh.

- Hiện nay trường Trung cấp y tế Kon Tum và các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh đang gấp rút thực hiện cho đợt tuyển sinh và chuẩn bị khai giảng năm học 2013-2014.

3. Hoạt động văn hoá, thể thao

* Hoạt động văn hoá nghệ thuật

- Từ ngày 03 đến ngày 09 tháng 10 năm 2013, tại thành phố Kon Tum, Sở Công Thương phối hợp với Công ty cổ phần Thương mại và Truyền thông Tây Nguyên Xanh tổ chức hội chợ kích cầu năm 2013 với 45 doanh nghiệp tham gia. Hàng trăm gian hàng với các mặt hàng rất phong phú đa dạng giúp người dân có cơ hội mua sắm các vận dụng thiết yếu trong cuộc sống. Hội chợ cũng là nơi để người dân thưởng thức các trò chơi dân gian và các tiết mục văn nghệ đặc sắc do các ca sĩ, danh hài nổi tiếng đến từ thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn.

- Trong tháng 10 năm 2013 Sở Văn hoá -Thể thao & Du lịch tiếp tục triển khai công tác viết hồi ký cách mạng “Sống giữa lòng dân” tập 4-5; sưu tầm tài liệu, tìm hiểu nhân chứng một số di tích trên địa bàn tỉnh và phối hợp khảo sát, hoàn thiện hồ sơ di tích đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh).

* Thể dục - thể thao

Sở Văn hoá-Thể thao &Du lịch duy trì tập luyện đội bóng đá trẻ thanh niên dân tộc và các lớp năng khiếu; đồng thời kiểm tra, tuyển chọn lớp năng khiếu võ thuật cổ truyền theo kế hoạch.

4. Tình hình an ninh trật tự - An toàn giao thông

        * Tình hình  ANTT – ATGT tháng 9/2013

- Phạm pháp hình sự: xảy ra 35 vụ (giảm 17 vụ so với tháng trước). Trong đó: Cướp tài sản 01 vụ; cướp giật tài sản 01 vụ; cố ý gây thương tích 05 vụ; trộm cắp tài sản 15 vụ; hủy hoại tài sản 01 vụ; cố ý làm hư hỏng tài sản 02 vụ; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy 07 vụ; vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ; gây rối trật tự công cộng 01 vụ.

Thiệt hại: Bị thương 04 người, mất 02 xe mô tô, 320.000.000 đồng và một số tài sản khác trị giá khoảng 80.000.000 đồng, 60 cây cao su 05 năm tuổi bị chặt phá. Thu giữ 12 gói bột màu trắng (nghi hêrôin) là tang vật của các vụ án.

- Tai nạn giao thông: Xảy ra 05 vụ (giảm 01 vụ so với tháng trước).

Hậu quả: Chết 05 người (giảm 01 người so với tháng trước), bị thương 05 người (giảm 09 người so với tháng trước), hư hỏng 01 xe ô tô, 08 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 02 xe ô tô khách vận chuyển 800 con vịt không rõ nguồn gốc và 330 kg thịt thối; 2.734 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, tạm giữ 397 phương tiện và 2.191 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 2.734 trường hợp, thu 1.138.210.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Tình hình ANTT - ATGT 9  tháng đầu năm 2013 (tính đến ngày 30/09/2013)

- Phạm pháp hình sự: Xảy ra 325 vụ. Trong đó: Giết người 11 vụ; cướp giật tài sản 12 vụ; cướp tài sản 11 vụ; bắt giữ người trái pháp luật 01 vụ; cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ; cố ý gây thương tích 48 vụ; cưỡng đoạt tài sản 01 vụ; cố ý làm hư hỏng tài sản 11 vụ; trộm cắp tài sản 144 vụ; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 02 vụ; lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03 vụ; hủy hoại tài sản 07 vụ; hiếp dâm 08 vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 05 vụ); chống người thi hành công vụ 06 vụ; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy 48 vụ; gây rối trật tự công cộng 06 vụ; vận chuyển lâm sản trái phép 03 vụ; đánh bạc 01 vụ; vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng 01 vụ.

Thiệt hại: Chết 11 người, bị thương 74 người; mất 35 mô tô, 05 ĐTDĐ, 47 máy tính xách tay, 1,8 m3 gỗ,  1.702.775.000 VNĐ, 1.000 NDT; 644 cây cao su 03 năm tuổi, 60 cây cao su 05 năm tuổi, 99 cây cao su 10 năm tuổi và 311 cây cà phê 03 năm tuổi bị chặt phá và một số tài sản khác trị giá khoảng 1.660.000.000 đồng. Thu giữ: 75 gói bột trắng (nghi hêrôin), 03 ô tô, 08 mô tô, 05 ĐTDĐ, 01 tivi, 03 bộ máy vi tính, 01 tủ lạnh, 20,971 m3 gỗ  và 34.825.000 đồng là tang vật của các vụ án.

- Tai nạn giao thông: Xảy ra 72 vụ. Hậu quả: chết 56 người, bị thương 69 người, hư hỏng 24 xe ô tô, 82 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện và bắt giữ 02 đối tượng có hành vi cướp tài sản, tạm giữ 01 xe mô tô, 01 sợi dây chuyền, 03 mặt dây chuyền, 02 biển số xe; 01 xe ô tô khách vận chuyển 250 kg thịt động vật không rõ nguồn gốc; 02 xe ô tô khách vận chuyển 800 con vịt không rõ nguồn gốc và 330 kg thịt thối; 01 xe ô tô chở 1.300 gói thuốc lá Jet không rõ nguồn gốc; 36.447 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, tạm giữ 5.104 phương tiện và 27.753 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 39.227 trường hợp, thu 16.314.213.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

5. Tình hình thiệt hại do ảnh hưởng bão số 11 (từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 10 năm 2013)

Theo báo cáo của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 10 năm 2013 trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa to đến rất to trên diện rộng đã làm thiệt hại một số hạng mục công trình giao thông, thủy lợi và nhà ở trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:

- Về nhà cửa: Mưa to và gió lốc đã làm tốc mái: 54 nhà dân; 02 công trình phụ; làm ngập 12 nhà; 06 công trình văn hóa; 02 điểm trường bị ảnh hưởng tốc mái; 02 trung tâm thương mại tốc mái, hư hỏng sập đổ. Đã tổ chức di dời đến nơi an toàn 95 hộ dân ở khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét. Giá trị thiệt hại ước khoảng: 1.948 triệu đồng.

- Về sản xuất nông nghiệp: làm ngập úng, bồi lấp, đổ ngã khoảng 182,9 ha lúa; 02 con trâu bò bị cuốn trôi. 03 kho lúa của người dân bị tốc mái, 12 kho lúa ngập úng. Giá trị thiệt hại ước khoảng: 1.402 triệu đồng.

- Về công trình giao thông, thuỷ lợi:

+ Giao thông:

Các tuyến đường: Quốc lộ 24; 14; 14C; 40B; 672; 673; 675;676; 677; 678; đường Đăk Kôi – Đăk Psi; đường tái định cư thủy điện Plei Krông; đường nam Quảng Nam bị sạt lở ta luy âm và dương tại một số vị trí, đất chảy tràn mặt đường (khối lượng sạt lở khoảng 2.440m3), cây cối đổ gãy, nước sông dâng cao gây ách tắc giao thông tại một số vị trí. 

Các tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã: mưa lũ đã gây sạt lở, hư hỏng với chiều dài khoảng 100m, khối lượng sạt lở, cuốn trôi là 3.510m3; làm hư hỏng, cuốn trôi 03 cầu treo tạm và 01 cầu tạm; gây sạt lở, hư hỏng 06 cầu, cống bằng bê tông và 03 cầu treo kiên cố bị xói lở mố trụ, có 05 vị trí đường giao thông bị đứt. Giá trị thiệt hại ước khoảng: 6.085 triệu đồng.

+ Thủy lợi, nước sinh hoạt: làm 02 công trình bị hư hỏng, cuốn trôi 02 đập tạm, sạt lở kênh mương bê tông khoảng 20m. Giá trị thiệt hại ước khoảng: 310 triệu đồng.

- Công trình điện:

+ Lưới điện 22KV đã xảy ra một số sự cố như sau:

Xuất tuyến 475 E56 (đoạn Đăk Tô-Ngọc Hồi) mất lúc 5h30’ sáng ngày 15/10/2013.

Lưới điện xã Mo Ray huyện Sa Thầy bị mất lúc 6h15’ sáng ngày 15/10/2013.

Lưới điện huyện Tu Mơ Rông bị mất lúc 6h00’ sáng ngày 15/10/2013 đoạn Kon Đào đi Tu Mơ Rông; đến 7h45’ Công ty điện lực Kon Tum đã khắc phục, cấp điện lại bình thường.

+ Huyện KonPLông: 5 xã Đăk Tăng, Măng Bút, Đăk Ring, Đăk Nên, Pờ Ê bị mất điện (từ 2 giờ ngày 15/10/2013). Điện lực đang tổ chức kiểm tra và khắc phục sự cố. Giá trị thiệt hại ước khoảng: 600 triệu đồng.

Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 10.345 triệu đồng.            


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt