Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3/2013
Trên địa bàn tỉnh, trong quý I năm 2013 thu hút đầu tư chững lại, việc triển khai các dự án gặp nhiều khó khăn, cùng thị trường tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

 A.     KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH  TẾ QUÝ I NĂM 2013:

I-THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI:

Năm 2013 là năm thứ ba của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015; theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ IX đề ra.

Trên địa bàn tỉnh, trong quý I năm 2013 thu hút đầu tư chững lại, việc triển khai các dự án gặp nhiều khó khăn, cùng thị trường tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng  gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước tình hình đó UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các sở, ban ngành và các địa phương trong tỉnh tổ chức thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp thúc đẩy đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, tập trung phát triển sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, gắn với nhiệm vụ tăng cường kiểm soát thị trường, bình ổn giá cả, chống đầu cơ, tăng giá, ngăn chặn lạm phát cao quay trở lại, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ, Nghị quyết số 23-NQ/TU ngày 28/11/2012 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 57/NQ-HĐND ngày 5/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2013 và các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường cho doanh nghiệp trong tỉnh tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong những quý tiếp theo trong năm.

II-TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:

Ước quý I/2013, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 2010 đạt 5.863,03 tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm 2012. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản  đạt 1.477,73 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ ; khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục ổn định và tăng trưởng khá (tăng 17,8%), chủ yếu do ngành phân phối điện nước tăng mạnh (tăng 45,6%) ; khu vực dịch vụ tăng  11,9 % so cùng kỳ, trong đó ngành khách sạn, nhà hàng tăng cao (tăng 20,9%) so với năm 2012.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 1994 đạt 2.664,73 tỷ đồng, tăng 14,3% so với năm 2012, tăng chậm hơn tốc độ tăng năm 2012 (năm 2012 tăng 14,5% so năm 2011). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản  đạt 7.54,28 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ, với mức đóng góp 2,9% trong mức tăng chung của GRDP. Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục ổn định và tăng trưởng khá (tăng 21,7%), chủ yếu do ngành phân phối điện nước tăng mạnh (tăng 44,1%); với mức đóng góp cao nhất 6,9% trong mức tăng GRDP. Khu vực dịch vụ tăng 4,5% so cùng kỳ, đóng góp 4,3% trong mức tăng chung GDRP; trong đó ngành khách sạn, nhà hàng tăng cao (tăng 20,9%) so với năm 2012.

                                    Bảng 1: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

                                                                       

Ước thực hiện quí I/2013

% So sánh với quý I năm 2012

1) Tổng sản phẩm (GRDP) giá thực tế - Triệu đồng

7.711.593

122,6

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

2.490.806

119,8

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

2.132.093

130,6

 

 - Khu vực dịch vụ

3.088.694

119,9

 

2) Tổng sản phẩm (GRDP) giá SS 2010- Triệu đồng

5.863.032

113,1

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

1.477.726

110,0

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

1.770.936

117,8

 

 - Khu vực dịch vụ

2.614.370

111,9

 

3) Tổng sản phẩm (GRDP) giá SS 1994- Triệu đồng

2.664.726

114,3

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

754.282

110,0

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

902.382

121,7

 

 - Khu vực dịch vụ

1.008.062

111,6

 

4) Đóng góp trong tăng trưởng (%)

 

 

 

 - Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

2,9

 

 

 - Khu vực công nghiệp-xây dựng

6,9

 

 

 - Khu vực dịch vụ

4,5

 

 

           

   III- SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1.Sản xuất nông nghiệp

Năm 2013 tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/5/2011 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2011-2015; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng công nghệ cao, thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản nhằm phát triển sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất cao, chất lượng cao.

Trong quí I/2013 sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung công tác gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch cây trồng hàng năm vụ Đông Xuân, chăm sóc công nghiệp dài ngày và tập trung phòng chống chống khô hạn. Nắng nóng vẫn đang tiếp diễn, dòng chảy trên các sông, suối tiếp tục xuống thấp, nhằm chủ động trong công tác chống hạn, thời gian qua ngành nông nghiệp đã tăng cường kiểm tra chỉ đạo các địa phương và các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi quản lý chặt chẽ, điều tiết hợp lý nguồn nước, thực hiện nạo vét hồ chứa, kênh mương, sửa chữa công trình, duy tu bảo dưỡng các máy móc, thiết bị nhằm đáp ứng kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 và các nhu cầu khác của nhân dân.

Công tác chuẩn bị đất gieo trồng vụ Đông Xuân (2012 – 2013) được các địa phương chỉ đạo đảm bảo kịp thời mùa vụ. Tính đến thời điểm 10/3/2013 diện tích đất cày bừa thực hiện 30.910,9 ha, tăng 4,51%; trong đó diện tích cày bừa bằng máy đạt 28.336,9 ha, chiếm 88,8%, tăng 5,15% so cùng kỳ.

Tính từ đầu vụ đến nay toàn tỉnh gieo trồng, xuống giống được 31.910,9 ha cây hàng năm các loại, tăng 4,51% (+1.377,9 ha) so cùng kỳ.

Lúa gieo trồng được 10.591,8 ha, đạt 96,06% kế hoạch, bằng 99,62% so cùng kỳ, trong đó: huyện Đạ Tẻh có diện tích gieo trồng giảm mạnh (giảm 13,5%) so cùng kỳ do chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa và 1 vụ ngô. Diện tích gieo trồng trong vụ tập trung chủ yếu ở một số huyện như: Cát Tiên 3.739 ha; Đạ Tẻh 1.850 ha; Lâm Hà 1.202 ha; Đức Trọng 900 ha; Đơn Dương 942 ha; Di Linh 990 ha.

Ngô gieo trồng 2.042,4 ha, đạt 115,55% kế hoạch, tăng 24,05% (+398,4 ha) so cùng kỳ, tăng do giá ngô ổn định, dễ tiêu thụ, một số vùng chuyển đổi diện tích ở một số cây trồng như lúa, rau, dưa, mía sang trồng ngô. Diện tích ngô gieo trồng tập trung chủ yếu ở Đạ Tẻh 875 ha; Cát Tiên 498 ha; Bảo Lâm 111 ha; Lạc Dương 100 ha; Đơn Dương 90 ha.

Khoai lang gieo trồng 262 ha, bằng 86,18% so cùng kỳ; chủ yếu là giống khoai lang Nhật, chất lượng cao. Diện tích gieo trồng tập trung ở Cát Tiên 94,8 ha; Đơn Dương 62 ha; Bảo Lâm 28,2 ha; Đức Trọng 20 ha; Lâm Hà 15,5 ha.

Đối với cây rau, hoa tiếp tục đầu tư theo hướng công nghệ cao nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả trên 1 héc ta canh tác. Diện tích rau, đậu các loại gieo trồng 16.457,6 ha, tăng 4,39% (+691,6 ha) so cùng kỳ. Trong đó: rau các loại gieo trồng 16.042,1 ha, tăng 4,66% (+714,1 ha). Diện tích rau được trồng tập trung ở vùng chuyên canh như: Đơn Dương 7.120 ha; Đức Trọng 3.800 ha; Đà Lạt 3.051,3 ha; Lạc Dương 978 ha. Diện tích hoa các loại gieo trồng 2.320,8 ha, tăng 11,1%, tập trung ở Đà Lạt, Đức Trọng, Lạc Dương. Sản xuất hoa hiện đang được người sản xuất chú trọng với nhiều giống hoa mới thích nghi với điều kiện tự nhiên và có giá trị kinh tế cao được nhân rộng.

Bảng 2: Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân 2012-2013

 

Kế hoạch 2013

Thực hiện

Thực hiện

kỳ báo cáo

% so sánh

 

cùng kỳ năm trước

Cùng kỳ

Kế hoạch

Tổng diện tích gieo trồng (ha)

 

 

30.533

31.910,9

104,51

 

 

   - Lúa

11.026

10.632

10.591,8

99,62

96,06

   - Ngô

1.765

1.644

2.039,4

124,05

115,55

   - Khoai lang

195

304

262

86,18

134,36

   - Rau các loại

14.210

15.328

16.042,1

104,66

112,89

   - Đậu các loại

670

438

415,5

94,86

62,01

   - Hoa các loại

2.128

2.089

2.320,8

111,10

109,06

* Thu hoạch vụ Đông – Xuân: đến ngày 10/3/2013 toàn tỉnh thu hoạch 13.557,3 ha cây hàng năm các loại, đạt 42,48% diện tích gieo trồng, tăng 25,8% so cùng kỳ. Trong đó, lúa thu hoạch 3.838,6 ha, đạt 36,24% diện tích gieo trồng, tăng 20,33%, chủ yếu ở 3 huyện phía Nam của tỉnh (Đạ Huoai, Cát Tiên, Đạ Tẻh); ngô thu hoạch 858,2 ha, đạt 42,1% diện tích gieo trồng, tăng 47,97%; rau các loại thu hoạch 7.633,9 ha, đạt 47,58% diện tích gieo trồng, tăng 14,08% so cùng kỳ; hoa các loại thu hoạch 936,5 ha, đạt 40,35% diện tích gieo trồng.

* Tình hình khô hạn: Theo báo cáo của Chi cục Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh một số điểm hạn hán cục bộ ngoài công trình thủy lợi thiếu nước tưới  tại huyện Đạ Tẻh khoảng 200 ha; Di Linh 90 ha; Đức Trọng 50 ha. Tuy nhiên nếu tình hình thời tiết hiện nay kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sản xuất vụ Hè Thu 2013 nguy cơ hạn hán là rất cao.

Diện tích cây lâu năm trên địa bàn toàn tỉnh hiện tại không có nhiều biến động. Hiện nay, các địa phương đang  tiếp tục đầu tư chăm sóc, tưới nước chống hạn, phòng trừ sâu bệnh, giữ cho cây trồng phát triển tốt đảm bảo năng suất; chăm sóc vườn ươm cây con; riêng cây điều hiện bà con nông dân đang bắt đầu thu hoạch. Các ngành, các cấp, các địa phương tăng cường  kiểm tra công trình thuỷ lợi, huy động lực lượng nạo vét kênh mương, khai thác có hiệu quả các nguồn nước phục vụ cho công tác tưới tiêu, đặc biệt trong tháng 3/2013 các ngày 12, 13, 14 một số địa phương trong tỉnh đã có những cơn mưa cục bộ (TP Đà Lạt, TP Bảo Lộc, huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Di Linh), nên số diện tích cà phê được tưới (đạt trên 70%) nhìn chung sinh trưởng và phát triển tốt, phần diện tích còn lại có nguy cơ bị giảm năng suất.

 * Tình hình dịch bệnh: vụ Đông Xuân 2012-2013 trên cây lúa đã có trên 166,8 ha bị nhiễm bệnh rầy nâu, bệnh đạo ôn lá 166,8 ha; 223 ha bị bệnh khô vằn chủ yếu ở huyện Đam Rông, Di Linh, Đa Huoai; 852 ha rau họ thập tự bị nhiễm sâu tơ, sưng rễ, cháy lá. Trên cây cà phê bệnh rỉ sắt, vàng lá trên 18.900 ha; cây chè bị rầy xanh, bọ xít muỗi gây hại làm ảnh hưởng 8.020 ha. Hiện các cấp, các ngành, các địa phương cùng với Chi cục Bảo vệ thực vật đang chỉ đạo, hướng dẫn nông dân tăng cường biện pháp phòng trừ để hạn chế thiệt hại.

2.Tình hình chăn nuôi

          Trong Quý I năm 2013 tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định. Do nhu cầu cung cấp thịt cho thị trường trong dịp tết Nguyên Đán năm 2013 nên tổng đàn gia súc, gia cầm biến động giảm so với thời điểm 01/10/2012.

          Hiện nay, tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm tại các địa phương trên cả nước đang diễn biến phức tạp, đặc biệt là bệnh cúm gia cầm đã bùng phát tại một số địa phương trong khu vực và lân cận tỉnh Lâm Đồng; với tỉnh Lâm Đồng tuy không có dịch bệnh xảy ra nhưng nguy cơ bùng phát dịch bệnh từ các ổ dịch cũ là rất cao. Để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh nói chung và bệnh cúm gia cầm nói riêng, ngày 24/01/2013 UBND tỉnh đã có công văn 475/UBND-NN gửi các sở, ban, ngành về việc tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; ngày 27/02/2013 UBND tỉnh đã có công văn 931/UBND-NN gửi các sở, ban, ngành về việc tăng cường công tác phòng chống dịch heo tai xanh và Công điện số 1027/CĐ-UBND Lâm Đồng, ngày 04 tháng 3 năm 2013, về việc phòng, chống dịch gia cầm và kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

        Để kiểm soát tình hình dịch bệnh; ngành chức năng cũng đã tiến hành kiểm dịch xuất tỉnh 15.417 con heo, 278 con trâu bò, 84.605 con gia cầm, 5.446.660 quả trứng gia cầm, 1.790 tấm da bò; kiểm dịch nhập tỉnh 25.326 con heo, 579 con trâu bò, 327.788 con gia cầm, 1.979 xe phân gia súc gia cầm. Từ đầu năm đến nay đã phát hiện và lập biên bản 08 trường hợp vi phạm các quy định về kiểm dịch động vật, đã xử phạt 6 trường hợp, thu phạt 4,5 tỳ đồng.

3. Tình hình sản xuất lâm nghiệp

          Trong quý I/2013, sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2012-2013; thực hiện công tác nghiệm thu lâm sinh; khai thác lâm sản; triển khai công tác giao khoán, quản lý bảo vệ rừng với diện tích năm 2012 chuyển qua là 377.718 ha bằng các nguồn vốn khác nhau cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức, cá nhân thuộc diện nhận khoán BVR trên địa bàn toàn tỉnh; ước tháng 3/2013 giao khoán quản lý bảo vệ diện tích 115.300 ha bằng 100,26% so cùng kỳ; ước quý I năm 2013 toàn tỉnh giao khoán quản lý bảo vệ rừng đạt 285.300 ha, đạt 75,53% so kế hoạch, bằng 104,70% so cùng kỳ.

Ước thực hiện tháng 3/2013 khối lượng gỗ tròn các loại khai thác đạt 15.500 m3, bằng 67,14% so cùng kỳ. Ước quý I năm 2013 khai thác gỗ tròn các loại đạt 50.339 m3, tăng 37,35% so cùng kỳ, trong đó khai thác tận thu, tận dụng VSR 44.749 m3, tăng 39,79% so với cùng kỳ, khai thác rừng trồng 5.590 m3; một số sản phẩm khác như lồ ô tuyển 55 ngàn cây; song mây 39,5 tấn, do đang trong mùa khô nên các đơn vị đẩy nhanh tiến độ khai thác để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giao.   

* Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng:  các đơn vị chức năng đã thẩm định xong 42 phương án PCCCR mùa khô 2012-2013, với tổng kinh phí đầu tư được phê duyệt là 13,816 tỷ đồng.

Từ đầu năm đến 11/3/2013 do thời tiết khô hanh nắng nóng kéo dài, tình hình cháy rừng gia tăng, tổng số vụ cháy là 70 vụ (tăng 67 vụ so cùng kỳ), với diện tích cháy 150,8 ha (cháy rừng trồng 09 vụ, diện tích 20,9 ha, chủ yếu là rừng thông; cháy rừng tự nhiên 09 vụ, diện tích 14,54 ha; cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán rừng là 52 vụ, tổng diện tích 115,33 ha). Tập trung ở thành phố Đà Lạt 21; Lâm Hà 19 vụ; các huyện Đam Rông, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Lạc Dương cháy từ 4-5 vụ, các huyện còn lại cháy từ 1-2 vụ.

 Tình hình vi phạm lâm luật: trong quý I năm 2013 các lực lượng chức năng như: Kiểm lâm, Ban Lâm nghiệp xã, các chủ rừng tại các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nên đã hạn chế tình hình vi phạm lâm luật tại các địa phương. Trong 2 tháng đầu năm 2013 các lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản tổng số 333 vụ vi phạm lâm luật, tăng 49,33% so cùng kỳ, trong đó, phá rừng trái phép 86 vụ, tăng 72%; vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản 54 vụ, giảm 3,57%; mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 152 vụ tăng 60,0%; vi phạm khác 31 vụ, tăng 63,16% so với cùng kỳ,  diện tích rừng bị phá 24,85 ha, tăng 1,14 lần (+13,26 ha) so cùng kỳ.

Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 309 vụ đạt 92,79%, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 299 vụ; chuyển xử lý hình sự 10 vụ.  Phương tiện tịch thu qua xử lý vi phạm: ô tô, máy kéo 02 chiếc; xe trâu bò kéo: 03 chiếc; xe máy 31 chiếc; phương tiện khác 25 chiếc; Gỗ các loại 287,18m3 (gỗ quý hiếm 10,44 m3); gỗ xẻ các loại 125,60m3 (gỗ quí hiếm 2,33 m3); động vật rừng bị tịch thu 69 con với tổng trọng lượng: 64 kg, trong đó động vật quý hiếm 03 con. Thu nộp ngân sách 1.691 triệu đồng, trong đó tiền phạt 785,372 triệu đồng, tiền bán tang vật tịch thu 905,913 triệu đồng.

IV- CÔNG NGHIỆP - ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

1. Sản xuất công nghiệp

 Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý I/2013 vẫn còn nhiều khó khăn, phát triển không đồng đều giữa các ngành, tăng chủ yếu ở ngành sản xuất và phân phối điện; ngành công nghiệp chế biến tăng chậm, ngành khai khoáng giảm. Các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thị trường, tranh thủ tiếp cận các chính sách ưu đãi của Chính phủ cũng như của địa phương để cơ cấu lại sản xuất, sản phẩm, tăng đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chú trọng đến đổi mới công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng, tiết kiệm tối đa chi phí nhăm hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh, tiêu thụ nhanh lượng hàng tồn kho để giảm áp lực vay vốn.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3 năm 2013 toàn tỉnh tăng 6,49% so cùng kỳ. Trong đó: ngành khai khoáng giảm 27,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,04%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 17,36%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,28% so cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I năm 2013 toàn tỉnh tăng 14,83% so cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 19,28% so cùng kỳ. Trong đó: sản phẩm cao lanh các loại đạt 15,32 ngàn tấn, giảm 26,69% ; đá xây dựng các loại đạt 224 ngàn m3, giảm 28,11%; cát tự nhiên các loại đạt 44,9 ngàn m3, giảm 3,15% so cùng kỳ.

Riêng sản phẩm alumin từ ngày 9/12/2012 đến ngày 15/3/2013 đã sản xuất được 24.012 tấn (do công ty TNHH một thành viên Nhôm Lâm Đồng Vinacomin sản xuất), hiện nay đang hoàn tất thủ tục bán sản phẩm cho tập đoàn Khoáng sản và công ty Tân Tiến ở Hà Nội.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,57%. Trong đó: ngành công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,82%; sản xuất trang phục tăng 4,28%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 39,92%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 17,15%. Một số sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp đã tác động đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là: quả và hạt ướp lạnh đạt 3,96 ngàn tấn, tăng 107,55%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng lỏng 4,82 ngàn lít, tăng 71,61%; bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket 500 ngàn cái, tăng 29,03%; quần áo lót cho người lớn 478,32 ngàn cái, tăng 28,31%; chè chế biến 5,04 ngàn tấn, tăng 25,24%; bên cạnh đó có một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: hạt điều khô 159,85 tấn, giảm 52,97%; phân hỗn hợp NPK đạt 11,81 ngàn tấn, giảm 18,58%; rau ướp lạnh 3,96 ngàn tấn, giảm 12,1% so cùng kỳ.

Ngành sản xuất, phân phối điện tăng 48,31% so cùng kỳ, do tổ máy số 2 thủy điện Đồng Nai 4 đã đi vào hoạt động. Sản lượng điện sản xuất đạt 905,95 triệu kwh, tăng 57,15% và điện thương phẩm đạt 196,52 triệu kwh, tăng 16,39% so cùng kỳ.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,88% so cùng kỳ, sản lượng nước ghi thu đạt 3.991,8 ngàn m3, tăng 3,41%, thu gom rác thải không độc hại 13.058 tấn, tăng 11,09% so cùng kỳ.

2.     Đầu tư xây dựng

Quý I năm 2013 thời tiết nắng ráo thuận lợi cho việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản, trong quý có tháng 2 trùng Tết Nguyên đán Quý Tỵ, các đơn vị nghỉ xây dựng, mặt khác giá cả thị trường, hàng hóa tăng, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập nên ảnh hưởng không nhỏ đến thực hiện vốn đầu tư. Từ đầu năm đến nay công tác đầu tư xây dựng chủ yếu thực hiện đầu tư vốn cho các công trình chuyển tiếp của năm 2012; riêng các công trình mới theo kế hoạch năm 2013 đang trong giai đoạn chuẩn bị các thủ tục đầu tư. Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn xu hướng giảm (giảm 2,95%) so cùng kỳ. 

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước dự tính đạt 525,5 tỷ đồng, giảm 26,22% so cùng kỳ, giảm chủ yếu vốn nhà nước do Trung ương quản lý (giảm 72,08%) do trong quý I năm 2012 dự án tổ hợp bô xít nhôm Lâm Đồng còn trong giai đoạn đầu tư và đến nay dự án gần như đã hoàn thành và chỉ còn đầu tư ít theo kế hoạch còn lại.

 Nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng dự tính đạt 420,4 tỷ đồng, tăng 25,20% so cùng kỳ.

 Vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước đạt 2.127,3 tỷ đồng, tăng 7,1% so cùng kỳ, chiếm 78,45% trong tổng vốn. Trong đó vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 678,5 tỷ đồng và vốn đầu tư của hộ gia đình đạt 1.448,8 tỷ đồng.

 Nguồn vốn thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 58,8 tỷ đồng, tương đương 2,8 triệu USD, chiếm 2,17% trong tổng vốn.

*Tình hình thành lập mới doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài

Từ đầu năm đến 15/3/2013 đã cấp ĐKKD cho 123 doanh nghiệp và 19 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đăng ký 623,15 tỷ đồng, bằng 106,1% về số lượng và bằng 161,6% về vốn đăng ký so cùng kỳ, cấp thay đổi bổ sung ĐKKD cho 140 trường hợp, trong đó bổ sung vốn 11 trường hợp với tổng vốn bổ sung 159,65 triệu đồng.

Trong quý I/2013, có 02 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đăng ký 7,3 triệu USD, bằng 200% về số dự án đăng ký và bằng 365% về vốn đăng ký so với cùng kỳ; có 01 dự án điều chỉnh (bổ sung ngành nghề kinh doanh). Tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh từ trước đến nay là 117 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt 543,93 triệu USD.

V-HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TÍN DỤNG

1. Hoạt động tài chính

Trong quý I/2013, công tác thu ngân sách được các ngành, các cấp, các địa phương tập trung vào các loại thu, lĩnh vực thu và các địa bàn có tiến độ thu chậm, đặc biệt tập trung chỉ đạo các khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách trên địa bàn là tiền sử dụng đất và các khoản thu từ lĩnh vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh. Động viên khuyến khích các cơ sở kinh doanh khắc phục khó khăn, vươn lên phát triển sản xuất để thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Công tác chi ngân sách đảm bảo duy trì tốt các hoạt động thường xuyên về quản lý nhà nước, đảm bảo xã hội, an ninh quốc phòng, đồng thời quản lý chặt chẽ chi tiêu công, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát đảm bảo hiệu quả.

Dự ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 3/2013 thực hiện 390,739 tỷ, giảm 8% so cùng kỳ. Ước quý I/2013 đạt  935,585 tỷ, đạt 17,01% kế hoạch địa phương, tăng 1,37% so cùng kỳ; trong đó, nguồn thu từ thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh giảm 10,26% so cùng kỳ, còn lại các khoản thu của các doanh nghiệp trên địa bàn đều tăng so cùng kỳ như: thu từ doanh nghiệp trung ương tăng 30%, thu từ doanh nghiệp địa phương tăng 67,62%, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 82,63%, thu từ thuế đất, nhà tăng 42,94%.

 Tổng thu ngân sách địa phương ước tháng 3/2013 đạt 653,175 tỷ, tăng 3,57%  so cùng kỳ; ước quý I/2013 đạt 2.867,667 tỷ, đạt 36,31% kế hoạch địa phương, tăng 79,52% so cùng kỳ.

Bảng 3:  Thu chi ngân sách quý I năm 2013

 

 

Ước quí I

năm 2013

(Triệu đồng)

% SS Quí I năm 2013 với cùng kỳ

I.Tổng thu ngân sách nhà nước

935.585

89,85

1.Thu nội địa

723.372

104,70

  Trong đó:- Doanh nghiệp nhà nước ĐP

31.718

167,62

                  - Khu vực ngoài quốc doanh

322601

89,74

                  - Khu vực có vốn ĐT nước ngoài

15.547

182,62

2. Thu từ hải quan

15.891

66,78

II. Tổng thu ngân sách địa phương

2.867.667

179,52

III.Tổng chi ngân sách địa phương

2.634.094

175,03

    Trong đó:- Chi đầu tư phát triển          

178.112

78,77

                    - Chi thường xuyên

1.014.089

129,18

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện tháng 3/2013 đạt 501,579 tỷ, bằng 58,12% so cùng kỳ. Dự ước quý I/2013 tổng chi ngân sách địa phương đạt 2.634,094 tỷ, đạt 33,35%  dự toán địa phương, chi xây dựng cơ bản bám sát theo dự toán, đình hoãn các công trình xây dựng mới, mua sắm xe công, mua sắm trang thiết bị ngoại trừ các công trình có tính chất an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo, nông thôn mới và mua sắm trang thiết bị phục vụ y tế trường học. Trong đó chi đầu tư phát triển 178,112 tỷ chiếm 15,54% so kế hoạch, giảm 21,23% so cùng kỳ; chi thường xuyên 1.014,089 tỷ, chiếm 20,18% so kế hoạch, tăng 29,18 % so cùng kỳ. Trong tổng chi thường xuyên, chi sự nghiệp kinh tế 64,773 tỷ, chiếm 12,07% so kế hoạch, tăng 52,92% so cùng kỳ; chi giáo dục đào tạo 430,828 tỷ, chiếm 20,25% so kế hoạch, tăng 30,54% so cùng kỳ; chi y tế 119,187 tỷ, chiếm 19,73% so kế hoạch, tăng 15,92% so cùng kỳ; chi quản lý hành chính 219,311 tỷ, chiếm 21,91% so kế hoạch, tăng 45,70% so cùng kỳ.

2. Hoạt động tín dụng

Trong những tháng đầu năm 2013 Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh tập trung triển khai thực hiện các nội dung về tín dụng, giải quyết nợ xấu theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ nhẳm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; chỉ đạo, định hướng các tổ chức tín dụng có biện pháp hỗ trợ và tăng nguồn vốn cho vay, nhất là đối với khu vực nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ; thực hiện nghiêm và đúng lộ trình việc hạ mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng; đơn giản các thủ tục, điều kiện cho vay; gia hạn thời hạn cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp xuất khẩu đến hết ngày 31/12/2013. 

Vốn huy động đến cuối tháng 02/2013 đạt 19.458 tỷ, tăng 0,95% so đầu năm, tăng 21,27% so cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư là 16.298 tỷ, tăng 20,6% so cùng kỳ, tăng 4,11% so đầu năm. Các loại tiền thanh toán, tiền gửi kho bạc là 3.160 tỷ, giảm 12,7% so đầu năm, tăng 24,87% so cùng kỳ.

Hoạt động sử dụng vốn: tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đến cuối tháng 02/201322.221 tỷ, tăng 13,6% so cùng kỳ, giảm 1,1% so đầu năm. Trong tổng dư nợ toàn địa bàn, dư nợ trung dài hạn 8.581 tỷ, chiếm 38% tổng dư nợ, tăng 0,3% so đầu năm, tăng 8,5% so cùng kỳ; dư nợ ngắn hạn 13.640 tỷ, chiếm 62% tổng dư nợ, giảm 1,9% so đầu năm, tăng 17,1% so cùng kỳ.

Về chất lượng tín dụng: tổng nợ xấu đến cuối tháng 02/2013 là 362 tỷ, chiếm 1,63% tổng dư nợ, tăng 7,11% so đầu năm, giảm 22,24% so cùng kỳ.

Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009, đến nay trên địa bàn toàn tỉnh có 32 đơn vị tài chính tín dụng tham gia cho vay tại 41 xã, dư nợ cho vay đạt 4.398 tỷ với 77.344 khách hàng còn dư nợ; nợ xấu là 34 tỷ, chiếm 0,77% tổng dư nợ cho vay nông thôn mới. Qua báo cáo của 36 đơn vị trong toàn tỉnh, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn đạt 12.554 tỷ, chiếm 56% tổng dư nợ; nợ xấu là 136 tỷ, chiếm1,08% tổng dư nợ. 

VI- THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ - GIÁ CẢ

         1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

         Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2013 đạt 3.031,8 tỷ đồng, tăng 21,2% so với cùng kỳ; trong đó kinh tế nhà nước đạt 298,5 tỷ đồng, tăng 14,32%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.715,9 tỷ đồng, tăng 22,16% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,4 tỷ đồng tăng 1,75% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, một số nhóm hàng tăng mạnh như nhóm hàng lương thực thực phẩm đạt 822,8 tỷ đồng tăng 51,64%, nhóm phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) đạt 228,7 tỷ đồng tăng 42,4%, nhóm nghệ thuật vui chơi giải trí đạt 125,9 tỷ đồng tăng 29,66% so với cùng kỳ năm 2012.

          Ước quý I/2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.272,9 tỷ đồng đạt 23,09% so với kế hoạch, tăng 23,09% so với cùng kỳ; trong đó kinh tế nhà nước đạt 892,5 tỷ đồng, tăng 12,93%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 8.329 tỷ đồng, tăng 24,49% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 51,4 tỷ đồng giảm 2,65% so với cùng kỳ năm 2012. Trong quý I/2013, thị trường hàng hóa khá ổn định, dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đủ đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là chương trình bình ổn giá thị trường dịp tết 2013 đã đạt được kết quả tốt nhằm hạ nhiệt những điểm nóng tăng giá bất hợp lý vào thời gian cao điểm góp phần ổn định giá. Mặt khác, việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, chương trình hành động của Tỉnh uỷ trên tất cả các lĩnh vực cũng đạt được kết quả khả quan như hoạt động xúc tiến du lịch được tăng cường, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã thay đổi tâm lý “sính ngoại” của người dân về việc sử dụng hàng hóa sản xuất tại địa phương và hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc Hội Doanh nghiệp trẻ Lâm Đồng quảng bá thương hiệu và phát triển kinh doanh

         2. Dịch vụ lưu trú và ăn uống

         Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống, ước tháng 3/2013 đạt 332,8 tỷ đồng, tăng 35,62% so với cùng kỳ. Ước quý I/ 2013, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.131,2 tỷ đồng, tăng 50,53% so với cùng kỳ.

         Tổng số khách nghỉ tại các cơ sở lưu trú tháng 3/2013 đạt 202.292 lượt khách, tăng 4,4% so với cùng kỳ 2012; trong đó, khách nội địa đạt 191.695 lượt khách, tăng 4,23%; khách quốc tế đạt 10.597 lượt khách, tăng 7,52% so với cùng kỳ. Tổng số khách nghỉ tại các cơ sở lưu trú quý I/2013 ước đạt 709.648 lượt khách, tăng 14,67% so với cùng kỳ 2012; trong đó, khách nội địa đạt 652.710 lượt khách, tăng 11,01%; khách quốc tế đạt 56.938 lượt khách, tăng 84,35% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do trong quý I/2013, thời gian nghỉ dài, thời tiết thuận lợi, quản lý dịch vụ, giá cả tốt… nên thu hút du khách đến Đà Lạt - Lâm Đồng, đây là dấu hiệu khởi sắc cho ngành du lịch Lâm Đồng 2013, với nhiều hình thức, chính sách thu hút du lịch mới.

         3. Xuất, nhập khẩu

         Trong quý I/2013, tình hình xuất nhập khẩu của cả nước nói chung và của Lâm Đồng nói riêng tiếp tục gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới và trong nước như khả năng phục hồi kinh tế Mỹ còn mong manh; khu vực EU vẫn đang tiếp tục đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ công; tốc độ tăng trưởng của nhiều quốc gia có xu hướng chậm lại; tăng trưởng kinh tế Nhật chưa được cải thiện…. Trong nước, nợ xấu và hàng tồn kho tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, khó khăn của các doanh nghiệp trong nước hiện nay là vấn đề tiếp cận nguồn vốn vay, vấn đề lãi suất đã hạn chế đầu tư sản xuất và mở rộng sản xuất nên sẽ ảnh hưởng đến mức tăng trưởng nguồn hàng xuất khẩu trong năm 2013 và các năm tiếp theo.

          Việc thực hiện có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu nhằm giải quyết hàng tồn kho, hỗ trợ thị trường, thực hiện chính sách miễn giảm thuế, phí…; qua đó hỗ trợ và thúc đẩy tiêu dùng nội địa sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng, chủ động tìm kiếm thị trường xuất khẩu. 

           a. Xuất khẩu

         Kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2013, ước đạt 27.445,3 nghìn USD, tăng 18,52% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh tế tư nhân ước đạt 4.993,8 nghìn USD, tăng 18,96%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21.636,5 nghìn USD, tăng 24,11% so với cùng kỳ năm 2012. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong tháng 3/2013 như cà phê xuất khẩu 8.628 tấn, đạt trị giá 18.690 nghìn USD, so cùng kỳ tăng 23,36% về lượng và tăng 31,18% về giá trị xuất khẩu, một số thị trường tiêu thụ chủ yếu như Bỉ đạt 1.718 nghìn USD, Italia đạt 2.006 nghìn USD, Anh đạt 1.996 nghìn USD, Đức đạt 2.841 nghìn USD; chè chế biến xuất khẩu 781 tấn, đạt trị giá 1.491,7 nghìn USD, giảm 2,09% về lượng và tăng 27,65% về giá trị, chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng chè xanh, chè đen và chè chế biến khác sang thị trường Đài Loan đạt 829,5 nghìn USD, Pakixtan đạt 56 nghìn USD, một số nước Đông Á và Châu Mỹ; mặt hàng rau quả xuất khẩu đạt 969,7 tấn, đạt trị giá 1.581 nghìn USD, giảm 30% về lượng và giảm 19,97% về giá trị.

         Ước quý I/2013, kim ngạch xuất khẩu đạt 78.049,2 nghìn USD, tăng 19,07% so cùng kỳ năm trước và đạt 22,96% so với kế hoạch. Trong đó, kinh tế tư nhân ước đạt 17.510,8 nghìn USD, tăng 28,75%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 58.783,4 nghìn USD, tăng 19,08% so với cùng kỳ năm 2012. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong quý I/2013 như cà phê xuất khẩu 23.770,9 tấn, đạt trị giá 50.800,7 nghìn USD, so cùng kỳ tăng 20,17% về lượng và tăng 19,88% về giá trị xuất khẩu; chè chế biến xuất khẩu 2.535,3 tấn, đạt trị giá 4.444,4 nghìn USD, giảm 6,2% về lượng và tăng 6,07% về giá trị; mặt hàng rau quả xuất khẩu đạt 2.803,7 tấn, đạt trị giá 4.797,8 nghìn USD, giảm 2,05% về lượng và tăng 21,4% về giá trị.

         b. Nhập khẩu

         Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Châu Á, Châu Âu; nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là tơ, xơ, sợi dệt, vải may mặc cho hoạt động ngành dệt may và nhóm hàng hóa khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

         Ước kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2013 đạt 3.261 nghìn USD, tăng 40,06% so cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế tư nhân đạt 1.729 nghìn USD và tăng 77,28%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.532 nghìn USD, tăng 13,23% so cùng kỳ. Trong quý I/năm 2013, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 9.4110 nghìn USD, tăng 44, 9% so cùng kỳ và đạt 24,13% kế hoạch năm; trong đó khu vực kinh tế tư nhân đạt 4.504,8 nghìn USD và tăng 61,59%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.905,2 nghìn USD, tăng 33,28% so cùng kỳ.

         4. Giá cả thị trường

Sau 2 tháng đầu năm, giá cả thị trường biến động tăng, đến tháng 3/2013 đã ổn định và có xu hướng giảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2013 giảm 0,31% so với tháng 02/2013 (CPI tháng 02/2013 so với tháng 01/2013 tăng 1,3%, tháng 01/2013 so với tháng 12/2013 tăng 0,33%) , tăng 1,31% so với tháng 12/2012 và tăng 8,69% so cùng kỳ năm trước. Bình quân 3 tháng năm 2013, chỉ số CPI tăng 9,29% so với bình quân 3 tháng năm 2012.

         So tháng trước, một số nhóm hàng giảm từ 0,25% đến 0,63% như nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,25%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD giảm 0,33%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,43%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,56% và nhóm giao thông giảm 0,63%. Bên cạnh đó một số nhóm hàng tăng từ 0,04% đến 0,25% như nhóm giáo dục (+0,04%), nhóm văn hoá, giải trí và du lịch (+0,05%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+0,07%), nhóm thuốc và địch vụ y tế (+0,17%), nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (+0,22%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,25%).

         Giá vàng tháng 3/2013 trên địa bàn tỉnh dao động từ 4,105 triệu đến 4,160 triệu đồng/chỉ, giảm 9,02% so với tháng trước giảm 7,1% so cùng kỳ; bình quân 3 tháng tăng 0,15 so cùng kỳ năm trước. Trước ảnh hưởng của giá vàng thế giới giảm, giá vàng trong nước cũng có xu hướng giảm, nhưng tốc độ giảm chậm hơn so với thế giới, chênh lệch giữa giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới khoảng 4,1 - 4,2 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân là do giá USD tự do giảm mạnh và nhiều thử thách đối với đà tăng của thị trường vàng trong năm nay như do nhu cầu yếu, nhu cầu vàng đang có chiều hướng giảm bởi những can thiệp của chính phủ nhằm kiềm chế nhập khẩu vàng xuất phát từ Trung Quốc và Ấn Độ; lực cầu đang suy giảm trong khi lượng cung vàng tăng lên; lạm phát thấp và sự ổn định của đồng USD do chương trình nới lỏng tiền tệ của Mỹ vẫn được duy trì, đồng USD cũng không chịu nhiều áp lực mạnh mẽ.

         Tỷ giá USD/VND giữ ở mức 20.850 đồng/USD bán ra và mua vào là 20.800 đồng/USD, chỉ số giá USD tháng 3/2013 tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 0,56% so cùng kỳ; bình quân 3 tháng giảm 0,39 so cùng kỳ năm trước.

         5. Vận tải, bưu chính viễn thông

         Vận tải hành khách tháng 3 năm 2013 ước đạt 2.776 nghìn hành khách, giảm 5,46% và luân chuyển đạt 256.263,3 nghìn hành khách.km, tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước tính đạt 2.754,9 nghìn hành khách, giảm 5,53% và luân chuyển đạt 250.025,3 nghìn hành khách.km, tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách hàng không đạt 14,4 nghìn hành khách, tăng 8,19% và luân chuyển đạt 6.234,1 nghìn hành khách.km, tăng 2,02% so với cùng kỳ. Ước quý I/2013, vận tải hành khách đạt 8.569,1 nghìn hành khách, giảm 2,35% và luân chuyển đạt 772.941,7 nghìn hành khách.km, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vận tải hành khách đường bộ ước tính đạt 8.504,9 nghìn hành khách, giảm 2,36% và luân chuyển đạt 753.355,9 nghìn hành khách.km, tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách hàng không đạt 43,8 nghìn hành khách, giảm 0,14% và luân chuyển đạt 19.574 nghìn hành khách.km, giảm 6,46% so với cùng kỳ, do xe taxi và tuyến xe buýt Đà Lạt - Bảo Lộc của Công ty TNHH Phương Trang Đà Lạt ngưng hoạt động nên lượng hành khách đi tuyến đường ngắn giảm mạnh.

         Khối lượng hàng hoá vận chuyển chủ yếu là vận tải đường bộ, ước tháng 3/2013 đạt 610,2 nghìn tấn, tăng 7,58% và luân chuyển đạt 67.581,3 nghìn tấn.km, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm trước. Ước quý I/2013 đạt 1.724,8 nghìn tấn, tăng 5,14% và luân chuyển đạt 199.867 nghìn tấn.km, tăng 2,43% so với cùng kỳ.  

         Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 3/2013 đạt 241.210 triệu đồng, tăng 18,31% so cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 214.012 triệu đồng, tăng 20,02%; doanh thu vận tải hàng không đạt 27.163 triệu đồng, tăng 6,37% so với cùng kỳ. Ước quý I/2013 đạt 728.727 triệu đồng, tăng 14,98% so cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 645.012 triệu đồng, tăng 17,68%; doanh thu vận tải hàng không đạt 83.609 triệu đồng, giảm 2,28% so với cùng kỳ.

         Doanh thu hoạt động bưu chính viễn thông tháng 3/2013 ước đạt 175.592 triệu đồng, giảm 6,53% so cùng kỳ. Ước quý I/2013 đạt 518.068 triệu đồng, giảm 7,89% so với cùng kỳ.

         Số thuê bao điện thoại phát triển mới trong tháng 3/2013 ước đạt 955 thuê bao, trong đó thuê bao di động đạt 1.020 thuê bao; riêng thuê bao cố định giảm 65 thuê bao; thuê bao internet phát triển mới đạt 660 thuê bao. Trong quýI/2013, số thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 4.332 thuê bao, số thuê bao internet phát triển mới đạt 1.824 thuê bao.

VII- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN HÓA, XÃ HỘI

  1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền    

Trong quí I/2013, ngoài nhiệm vụ thường xuyên, toàn tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 83 năm thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2013), mừng Đảng mừng Xuân; chương trình văn nghệ đón giao thừa, bắn pháo hoa tại 2 thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc và hội chợ Xuân, toàn tỉnh đã treo dựng 1.200m2 panô, 724 băng rôn và 1.800 cờ phướn với chủ đề “mừng Đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Quý Tỵ”, đồng thời tuyên truyền hướng dẫn người dân treo cờ tổ quốc tại nhà riêng và các tuyến phố trong toàn tỉnh. Trung tâm văn hóa tỉnh, Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh phối hợp với Trung tâm văn hóa thành phố Đà Lạt và thành phố Bảo Lộc luân phiên tổ chức 10 chương trình nghệ thuật phục vụ nhân dân địa phương và du khách trong 10 ngày Tết, thu hút khoảng 1 nghìn người xem mỗi đêm; trung tâm phát hành phim, chiếu bóng tỉnh cũng tổ chức lưu diễn 70 buổi phục vụ nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với hơn 500 người xem.

Hội báo Xuân 2013 với chủ đề “Mừng Đất nước đổi mới - Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Quý Tỵ 2013” được tổ chức tại thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc, trưng bày 290 loại báo, 700 tờ báo, ấn phẩm Xuân và 150 bản sách; 20 pa nô, 2 tivi và 28 ảnh về chủ đề báo chí mừng Xuân kết hợp với hoạt động viết thư pháp, thu hút 2.741 lượt người đến xem và 8.080 lượt người đến đọc báo. Ngoài ra, nhân kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng, thư viện tỉnh trưng bày 100 bản sách và tổ chức Ngày hội đọc sách với 835 bản thu hút hàng trăm lượt bạn đọc; cấp 200 thẻ mới, phục vụ trên 7 nghìn bạn đọc, thư viện hiện có 223.686 bản sách. Bảo tàng tỉnh mở cửa thường xuyên phục vụ trên 2.000 lượt khách đến tham quan. Tại thành phố Đà Lạt đã tổ chức Hội hoa xuân từ ngày 08-19/02/2013 với sự tham gia của hội viên Hội sinh vật cảnh tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh bạn gồm các nội dung: triển lãm hơn 9.000 tác phẩm địa lan, phong lan, kiểng hoa, bonsai hoa, gỗ lúa, đá cảnh; tổ chức giải thi các tác phẩm sinh vật cảnh với hơn 400 tác phẩm các loại tham gia và các hoạt động trao đổi, mua bán các loại hoa, cây cảnh. Hội chợ Tết được tổ chức tại Quảng trường Lâm Viên từ ngày 09- 19/02/2013 với các trò chơi dân gian, biểu diễn ca nhạc, võ thuật cổ truyền, triễn lãm thư pháp với trên 130 gian hàng.

Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, thông tin trong quí I/2013 đã kiểm tra 200 cơ sở, qua kiểm tra đã lập biên bản và xử phạt 15 triệu đồng đối với công ty cổ phần Truyền thông Cốt Lõi với hành vi tổ chức không đúng chương trình do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cấp phép.

2. Hoạt động phong trào thể dục - thể thao

Trong quý I/2013, hoạt động thể dục thể thao tiếp tục hưởng ứng cuộc vận đông “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao rộng khắp.

Thể thao thành tích cao: tham gia giải việt dã Bình Dương mở rộng, đạt 1 huy chương đồng; giải việt dã leo núi Bà Rá toàn quốc, đạt 1 huy chương đồng; giải bóng đá quốc tế thanh niên dân tộc thiểu số năm 2013 tại Kon Tum, đạt huy chương vàng.

           Thể dục thể thao quần chúng: giúp công tác chuyên môn Hội khỏe Phù Đổng cho phòng Giáo dục Đào tạo thành phố Đà Lạt từ ngày 12-15/01/2013 và cho tỉnh Lâm Đồng từ 25-30/01/2013 thi đấu các môn: bóng đá mini, cờ vua, bóng chuyền, đá cầu, aerobic, kéo co và điền kinh. Tổ chức giải leo núi Brăh Yàng tỉnh Lâm Đồng tại huyện Di Linh, đồng thời phối hợp với tỉnh đoàn tổ chức giải việt dã 26/03.

3. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Tình hình chung của hoạt động giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh trong quý I/2013 tương đối ổn định, các nhiệm vụ trọng tâm được thực hiện tích cực, cơ bản đảm bảo đúng kế hoạch và đạt kết quả tốt. Đến giữa năm học 2012-2013, toàn tỉnh có 60.803 cháu học mầm non, trong đó 7.361 cháu nhà trẻ, giảm 2,74%; 53.442 cháu mẫu giáo, tăng 8,37% so cùng kỳ. Giáo dục phổ thông có 244.279 học sinh, so năm học trước giảm 0,08%, trong đó tiểu học có 111.655 em, giảm 0,42%; trung học cơ sở có 85.762 em, giảm 0,40% và trung học phổ thông có 46.862 em, tăng 1,29%. Đội ngũ giáo viên đến giữa năm học 2012-2013 trực tiếp giảng dạy là 16602 người, trong đó giáo viên mầm non 2.902, tăng 16,45%; giáo viên tiểu học 5.959 người, tăng 6,46%, giáo viên THCS 5.276 người, tăng 6,09% và giáo viên THPT 2.465 người, giảm 8,90%.

Kết quả học kỳ I năm học 2012-2013: chất lượng môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học loại giỏi 44,6%, khá 34,7%, trung bình 17,4%, yếu 3,3%; môn Toán học lực loại giỏi 48,4%, khá 27,9%, trung bình 19,5% và yếu 4,2%; về hạnh kiểm có 99,85% học sinh thực hiện đầy đủ nhiệm vụ; 17 học sinh bỏ học, chiếm 0,015% tổng số học sinh. Bậc trung học sơ sở học lực loại khá, giỏi 45,15%, trung bình 37,02%, yếu, kém 17,83%; hạnh kiểm loại khá, tốt 91,86%, trung bình 7,6% và yếu 0,54%; có 347 học sinh bỏ học, chiếm 0,4% tổng số học sinh. Bậc trung học phổ thông học lực loại khá, giỏi 28,9%, trung bình 48%, yếu, kém 23,1%; hạnh kiểm loại khá, tốt 87,5%, trung bình 10,5% và yếu 2%; có 242 học sinh bỏ học, chiếm 0,51% tổng số học sinh.

Toàn tỉnh hiện có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và 5 trung tâm cấp huyện, 6 trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp cấp huyện, 125 trung tâm học tập cộng đồng, tăng 7 trung tâm so cùng kỳ. Số học viên bổ túc trung học cơ sở cuối học kỳ I là 104, tỷ lệ duy trì sĩ số 77,61%, 60% xếp loại học lực trung bình trở lên và 70% hạnh kiểm khá trở lên; bổ túc trung học phổ thông là 1.869, tỷ lệ 89,55%, 58% xếp loại học lực trung bình trở lên và 62% hạnh kiểm khá trở lên. Trong học kỳ I, có 3 đơn vị cấp huyện đã huy động được 82 học viên ra lớp xóa mù chữ.

Qua tổng kết, các trường đang khắc phục những tồn tại, thiếu sót cuả học kỳ I, tích cực triển khai nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II và những công việc cuối năm: tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tổ chức thi học sinh giỏi, ôn tập chuẩn bị thi tốt nghiệp, triển khai đồng bộ các hoạt động chuyên môn, kiểm tra phương pháp giảng dạy…

4. Hoạt động y tế và an toàn thực phẩm

Trong quí I/2013 ngoài các nhiệm vụ thường xuyên, ngành y tế tập trung tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh đặc biệt là trong những ngày Tết Nguyên Đán từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện đều tăng cường trực 24/24h, cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân. Trong 6 ngày Tết (mùng 1 đến mùng 6 Âm lịch), có 1.150 bệnh nhân đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh, giảm 16% so với Tết 2012; trong đó, số bệnh nhân đến khám, cấp cứu do tai nạn là 1.416 ca, giảm 617 ca và do tai nạn giao thông là 847 ca, giảm 166 ca so với Tết 2012; tổng số bệnh nhân tử vong là 12 người, giảm 6 người so với Tết 2012. Tại các cơ sở điều trị của toàn tỉnh, ngành Y tế Lâm Đồng cũng tổ chức thăm hỏi, động viên và hỗ trợ cho 1.150 bệnh nhân đang điều trị trong 6 ngày Tết, với tổng kinh phí là 65 triệu đồng.

Từ đầu năm đến nay, có 315 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, không có tử vong. Không có dịch sốt rét xảy ra. có 95 trường hợp mắc sốt rét, giảm 20 trường hợp so cùng kỳ, không có tử vong. Sốt xuất huyết có 35 trường hợp mắc bệnh, giảm 05 trường hợp so cùng kỳ, không có tử vong. Không phát hiện thêm  bệnh nhân phong mới; hiện toàn tỉnh đang theo dõi điều trị cho 2 bệnh nhân trong tổng số 201 bệnh nhân phong đang quản lý, chăm sóc tàn phế cho 177 bệnh nhân. Bệnh lao, phát hiện 91trường hợp mắc bệnh, không có tử vong; hiện toàn tỉnh đang quản lý điều trị cho 423 bệnh nhân lao, tăng 14 trường hợp so cùng kỳ. Không có trường hợp mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng và bệnh não vi rút. Phát hiện 15 trường hợp nhiễm HIV mới, số nhiễm HIV tích luỹ tính đến nay là 1.926 trường hợp; không có trường hợp mắc AIDS mới, số mắc AIDS tích lũy là 411, không có tử vong do AIDS mới, tử vong do AIDS tích luỹ là 269 trường hợp.

Công tác bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - kế hoạch hoá gia đình tiếp tục được duy trì, số phụ nữ có thai được quản lý là 7.211 người, đạt 97%; số phụ nữ đẻ được khám thai từ 3 lần trở lên, đạt 79%, tỷ lệ phụ nữ sinh được cán bộ y tế đỡ đẻ là 98,5%. Khám phụ khoa cho 17.316 lượt người, điều trị phụ khoa cho 5.121trường hợp; thực hiện đặt dụng cụ tử cung mới cho 1.082 người, số người đang mang dụng cụ tử cung là 73.165 người. Thực hiện tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi từ đầu năm đến nay là 4.600 trẻ,  đạt 20% so kế hoạch; số trẻ được bảo vệ phòng uốn ván sơ sinh là 4.100, đạt 18% kế hoạch; tiêm phòng uốn ván cho 3.500 phụ nữ có thai, đạt 17% so kế hoạch và cho 590 phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, đạt 6% so kế hoạch.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường nên từ đầu năm đến nay chưa xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh. Trong quý I/2013, ngành Y tế đã phối hợp với các ngành liên quan tiến hành kiểm tra 4.119 cơ sở trong tổng số 16.305 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, phát hiện 926 cơ sở có vi phạm, đã nhắc nhở, chấn chỉnh 767 cở sở và xử phạt 159 cơ sở, tổng số tiền là 79,65 triệu đồng.

5. Tình hình thăm hỏi, hỗ trợ, tặng quà Tết Nguyên đán Qúy Tỵ

Nhân dịp Xuân Qúy Tỵ 2013, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có công văn số 61/UBND-VX ngày 04/01/2013 về việc thăm hỏi, hỗ trợ người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, cận nghèo và lực lượng vũ trang nhân dân với tổng kinh phí 24,76 tỷ đồng, tăng 6 tỷ so với Tết Nhâm Thìn 2012.

Trong đó từ ngân sách tỉnh16.960 triệu đồng, mức chi cụ thể cho từng đối tượng như sau: hỗ trợ 6.194,6 triệu đồng cho 29.071 đối tượng chính sách, bao gồm 136 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, cán bộ hoạt động cách mạng, thương binh hạng 1/4, mức hỗ trợ 1 triệu đồng/người, tổng số tiền là 136 triệu đồng; 103 đối tượng là quân nhân bị tai nạn lao động hạng 1/4, bệnh binh hạng 1/3, bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con liệt sỹ mồ côi, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ, gia đình có từ 2 liệt sỹ trở lên, mức hỗ trợ 500 ngàn đồng/người, tổng số tiền là 51,5 triệu đồng; 4.432 đối tượng là thương binh hạng 2/4, quân nhân btai nạn lao động hạng 2/4, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, mức hỗ trợ 300 ngàn đồng/người, tổng số tiền là 1.329,6 triệu đồng; 20.350 đối tượng là thương binh các hạng còn lại, bệnh binh hạng 2/3, người có công với cách mạng, người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học, cán bộ nghỉ hưu, tai nạn lao động hạng 1/4 và bệnh nghề nghiệp hạng 1/4, người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, mức hỗ trợ 200 ngàn đồng/người, tổng số tiền là 4.070 triệu đồng và 4.050 đối tượng bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, cán bộ nghỉ do mất sức lao động, quân nhân bị bệnh nghề nghiệp, mức hỗ trợ 150 ngàn đồng/người, tổng số tiền là 607,5 triệu đồng. Hỗ trợ 4.221 triệu đồng cho 27.493 đối tượng bảo trợ xã hội, nhân viên và cơ sở bảo trợ xã hội. Hỗ trợ 3.661,2 triệu đồng cho 18.306 hộ nghèo với mức hỗ trợ 200 ngàn đồng/hộ và 2.383,2 triệu đồng cho 15.888 hộ cận nghèo với mức hỗ trợ 150 ngàn đồng/hộ. Hỗ trợ cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang 500 triệu đồng. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều thành lập Ban giám việc chi trả trợ cấp tết cho các đối tượng, đến nay chưa phát hiện có sai sót.

  6. Lao động và thu nhập

  Qua kết quả tổng hợp nhanh điều tra lao động việc làm quý I/2013, tình hình thất nghiệp ở thành thị và nông thôn có xu hướng giảm so cùng kỳ, đã giải quyết việc làm mới cho khoảng 7.100 lao động, đạt 23,7% kế hoạch, tăng 200 lao động (2,9%) so cùng kỳ; có 78 người đi xuất khẩu lao động, đạt 13% kế hoạch, tăng 11,4% so cùng kỳ. Tuy nhiên tình trạng thiếu việc làm vẫn còn nhiều bất cập cần được quan tâm, người lao động tìm việc làm mới còn khó khăn, người lao động đang làm việc có nhu cầu làm thêm giờ, dẫn đến tỷ lệ thiếu việc làm tăng cao.  

Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm quý I/2013

                                                                                                      Đơn vị tính: %

 

 

Tỷ lệ thất nghiệp chung

Trong đó:

Tỷ lệ thiếu việc làm

Trong đó:

 

Thành thị

Nông thôn

Thành thị

Nông thôn

Quý I/2012

0,94

1,46

0,16

5,59

6,34

4,47

Quý I/2013

0,86

1,11

0,49

9,50

6,73

13,50

Trong quý I/2013, đời sống cán bộ, công chức, viên chức và công nhân làm công ăn lương có cuộc sống tương đối ổn định, trong dịp Tết vừa qua cũng được hưởng tăng thêm bình quân mỗi người từ 1 đến 8 triệu đồng. Ước thu nhập bình quân khu vực nhà nước đóng trên địa bàn đạt 5.600 nghìn đồng/người/tháng, cao hơn khu vực địa phương quản lý 1,6 lần (thu nhập bình quân địa phương đạt 3.500 nghìn đồng). Đối với các đơn vị Trung ương quản lý có Công ty khai thác mỏ Bôxít thu nhập bình quân đạt 9.300 nghìn đồng/người/tháng, cao gấp 3,3 lần so với Công ty dâu tằm tơ Bảo Lộc thấp nhất (2.800 nghìn đồng). Đối với các đơn vị địa phương quản lý có ngành xây dựng thu nhập bình quân cao nhất đạt 4.900 nghìn đồng/người/tháng, cao gấp 1,8 lần so với các đơn vị quản lý nhà nước (2.700 nghìn đồng).

Công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục được tiến hành rộng khắp bằng nhiều hành động thiết thực và mang lại hiệu quả cao. Từ đầu năm đến nay không xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt trong nông dân, chưa xảy ra trường hợp bị thiếu đói phải cứu trợ; tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lâm Đồng tuy còn nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực, quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và các đoàn thể quần chúng trong việc tiếp tục triển khai các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc, các chương trình mục tiêu, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động... nên nhìn chung đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tiếp tục ổn định.                                                                 

7. Tình hình an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội

Theo số liệu của Công an tỉnh, trong tháng 02/2013 toàn tỉnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông, giảm 16 vụ; làm chết 15 người, giảm 2 người; bị thương 37 người, giảm 12 người so cùng kỳ. Tính 2 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 67 vụ tai nạn giao thông, giảm 30 vụ; làm chết 34 người, bằng năm trước; bị thương 57 người, giảm 33 người so cùng kỳ; trong đó tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng 1 vụ, tăng 1 vụ, tăng 3 người chết so cùng kỳ.

Trong quý I/2013, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 1 vụ cháy tại cửa hàng tạp hóa số 37B Hùng Vương, thành phố Đà Lạt, trị giá tài sản thiệt hại khoảng 150 triệu đồng, không thiệt hại về người. Không xảy ra thiên tai, cháy nổ, có 1 trường hợp đốt pháo đêm giao thừa, làm 1 người bị thương ở huyện Di Linh và 9 vụ trộm cắp xe máy trong dịp Tết.

          B.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI:

            1.Những thuận lợi và khó khăn:

Thuận lợi:  Nền kinh tế Lâm Đồng vẫn đang trên đà phát triển với tốc độ cao so với khu vực và cả nước, tình hình an ninh chính trị, kinh tế – xã hội ổn định và giữ vững. Kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là một số công trình dự án mới đưa vào hoạt động trong năm 2013; công tác đô thị được nâng cấp, chất lượng tăng trưởng kinh tế đã có bước cải thiện đáng kể; nền kinh tế của tỉnh đang thích nghi dần với thị trường quốc tế và khu vực.

Việc triển khai các cơ chế, chính sách mới có tác động tích cực trong việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong quản lý đời sống và xã hội. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng tạo thế và lực cho kinh tế cả nước nói chung và Lâm Đồng nói riêng.

Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức; hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; khả năng cạnh tranh của các sản phẩm chưa cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nhất là trong việc phát triển sản xuất công nghiệp; cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực chưa chuyển dịch kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.

Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy đã được đầu tư qua nhiều năm nhưng thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh và bền vững, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi và hạ tầng đô thị.

Khu vực doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng và lãi suất vẫn còn cao, tài sản đã thế chấp và không đáp ứng được các điều kiện vay để tiếp tục đầu tư; chỉ số tồn kho giảm nhưng vẫn còn ở mức cao; số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động nhiều.

Đời sống của nhân dân vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn; các tệ nạn xã hội ngăn chặn chưa hiệu quả, tâm lý xã hội còn diễn biến phức tạp, … Bên cạnh đó, những yếu tố bên ngoài của hội nhập quốc tế và khu vực đang đặt ra nhiều thách thức lớn đối với các loại sản phẩm; việc thu hút vốn đầu tư ngày càng khó khăn.

2. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội:

          Nhằm triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2013 mà Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra, ngoài những nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong phương hướng và nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2013. Các ngành, các cấp cần tiếp tục tập trung triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

a. Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hành động của tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kinh tế xã hội và dự toán thu ngân sách năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết 03, 04, 05 của Tỉnh ủy và 04 Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội 4 địa bàn trọng điểm và sơ kết 02 năm thực hiện các Nghị quyết này.

b. Tăng cường kiểm tra, giám sát quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới. Tăng cường công tác hướng dẫn, công khai, minh bạch về thuế. Tăng cường công tác quản lý và điều hành ngân sách, thực hành tiết kiệm; kiên quyết không giải quyết các khoản chi phát sinh ngoài kế hoạch, không mua sắm tài sản chưa cần thiết có giá trị lớn.

c. Tập trung chỉ đạo quyết liệt để đẩy nhanh tiến độ đầu tư thực hiện các công trình trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội. Đôn đốc các chủ dự án đẩy nhanh tiến độ đầu tư, công trình hoàn thành hạng mục nào thì tổ chức nghiệm thu hạng mục đó để giải ngân tốt kế hoạch vốn xây dựng cơ bản năm 2013; đôn đốc các chủ đầu tư khẩn trương triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ để sớm đưa vào sử dụng.

d. Trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp tiếp tục tập trung vào một số lĩnh vực như: chỉ đạo công tác phòng chống cháy rừng, phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng trái phép; chuẩn bị đủ điều kiện để thực hiện kế hoạch gieo trồng vụ hè thu. Chỉ đạo tích cực công tác phòng chống, ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Chủ động xử lý các dịch bệnh ngay tại cơ sở, không để lây lan trên diện rộng.

 e. Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại: Tiếp tục chỉ đạo, kịp thời tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ thị trường theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chỉnh phủ;

f. Tiếp tục chỉ đạo công tác đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các hộ nghèo, đào tạo nghề. Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới, chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội.

g. Tăng cường các hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, chú trọng phòng chống các dịch bệnh nhất là trong thời gian giao mùa. Chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cho kỳ thi tốt nghiệp các cấp năm học 2012 - 2013 và thi tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.

h. Tập trung giải quyết các phát sinh vướng mắc, kiên quyết không để xảy ra điểm nóng, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp để giảm thiểu đến mức thấp nhất về tai nạn giao thông.

Trong 3 tháng đầu năm 2013, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tiếp tục được giữ vững; đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ổn định và được cải thiện./-


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt