Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2021

 Tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2021

Tình hình kinh tế thế giới khởi sắc trong năm 2021 khi các quốc gia triển khai mạnh mẽ chiến lược tiêm chủng vắc-xin phòng Covid-19 đã giúp giảm nhanh số ca lây nhiễm và tử vong. Tuy nhiên, tăng trưởng của các nền kinh tế có sự khác biệt do tốc độ triển khai vắc-xin và chính sách hỗ trợ khác nhau ở các quốc gia. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra dự báo về triển vọng kinh tế toàn cầu , trong đó có sự điều chỉnh tăng, giảm giữa các nền kinh tế. Thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi nhưng có xu hướng chậm dần, giá nhiều mặt hàng tăng mạnh so với năm 2020, lạm phát gia tăng nhưng nhìn chung vẫn được kiểm soát trên toàn thế giới. Ngoài ra, đại dịch đã gây tắc nghẽn trong chuỗi giá trị toàn cầu làm cho giá nguyên liệu sản xuất tăng là thách thức không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các quốc gia.

Trong nước, tiếp nối kết quả đã đạt được của năm 2020, những tháng đầu năm 2021, kinh tế vĩ mô nước ta tiếp tục ổn định và bắt đầu khởi sắc. Tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng Tư với biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh chóng, nguy hiểm diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm như: Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ... ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe, tính mạng của người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh. 

Trước tình hình đó, với sự quyết tâm cao nhất của cả hệ thống chính trị, nhân dân cả nước, cộng đồng doanh nghiệp và lực lượng tuyến đầu chống dịch đã phát huy tinh thần đoàn kết, đồng lòng, chung sức, huy động mọi nguồn lực để đẩy lùi dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe, chăm lo, ổn định đời sống cho người dân và nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng 2021 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28%. Về sử dụng GDP quý III/2021, tiêu dùng cuối cùng giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 1,61%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,51%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,75%.

GDP 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,74%, đóng góp 23,52%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,57%, đóng góp 98,53%; khu vực dịch vụ giảm 0,69%, làm giảm 22,05%. 

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế trong đại dịch, năng suất lúa tăng cao, chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản 9 tháng năm 2021 đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành nông nghiệp tăng 3,32%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,3%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 0,66%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. 

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 6,05%, đóng góp 1,53 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 7,17%, làm giảm 0,27 điểm phần trăm do sản lượng dầu thô khai thác giảm 6% và khí đốt tự nhiên giảm 17,6%. Ngành xây dựng giảm 0,58%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm.

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại và dịch vụ. Tăng trưởng âm trong 9 tháng năm 2021 của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế. Ngành bán buôn, bán lẻ giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,3 điểm phần trăm trong tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành vận tải kho bãi giảm 7,79%, làm giảm 0,47 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,18%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm. Ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất với mức tăng 21,15%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,37%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,24%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,03%; khu vực dịch vụ chiếm 40,19%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,99%.

Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2020; tích lũy tài sản tăng 4,27%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,21%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 18,46%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp 9 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá. Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội làm ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất - chế biến - tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trước những khó khăn, thách thức, ngành Nông nghiệp đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

a) Nông nghiệp

Nhờ thời tiết thuận lợi và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, gieo trồng giống lúa mới cho giá trị kinh tế cao dần thay thế giống lúa truyền thống nên năng suất lúa đông xuân của cả nước năm nay đạt 68,6 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2020, sản lượng đạt 20,63 triệu tấn, tăng 755,1 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.577,4 nghìn ha, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.040,9 nghìn ha, bằng 99%, các địa phương phía Nam đạt 536,5 nghìn ha, bằng 101,4%. Diện tích gieo cấy lúa mùa miền Bắc năm nay thấp hơn so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng; chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản hoặc không sản xuất do thiếu lao động, hiệu quả sản xuất thấp. Một số địa phương giảm nhiều diện tích gieo cấy lúa: Nghệ An giảm 3,4 nghìn ha; Hà Nội giảm 1,7 nghìn ha; Hưng Yên  giảm 1,1 nghìn ha.

Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy ước đạt 1.954 nghìn ha, tăng 8,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, tăng chủ yếu ở vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên hải miền Trung. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.509 nghìn ha, giảm 15,1 nghìn ha, do chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Một phần đất trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang trồng cây hoa màu, cây ăn quả; phần khác chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc sản xuất một vụ lúa - một vụ tôm ở vùng đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Tính đến ngày 15/9/2021, các địa phương đã thu hoạch được 1.643,8 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 84,1% diện tích gieo cấy và bằng 101,5% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1.364,3 nghìn ha, chiếm 90,4% và bằng 100,9%. Theo báo cáo của các địa phương, ước tính năng suất lúa hè thu cả nước năm nay đạt 56,5 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2020. Trong đó, tăng cao nhất ở vùng Bắc Trung Bộ với năng suất đạt 51,4 tạ/ha, tăng 3,6 tạ/ha; tiếp theo là vùng Tây Nguyên đạt 55,9 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha; vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 56,6 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha.

Do diện tích gieo cấy và năng suất tăng so với vụ hè thu trước nên sản lượng chung toàn vụ đạt 11,03 triệu tấn, tăng 282,7 nghìn tấn. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa hè thu và sản lượng tăng so với vụ trước : Khánh Hoà tăng 11,2 nghìn ha và tăng 66,7 nghìn tấn; Bình Định tăng 3,2 nghìn ha và tăng 20,7 nghìn tấn; Quảng Ngãi tăng 2,7 nghìn ha và tăng 15,3 nghìn tấn. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long diện tích gieo trồng giảm 15,1 nghìn ha nhưng năng suất tăng nên sản lượng đạt 8,55 triệu tấn, tăng 76,7 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Chín, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 599,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa thu đông đang ở giai đoạn trổ đều và bắt đầu cho thu hoạch. Ngành Nông nghiệp cần tăng cường công tác giám sát chặt chẽ diện tích lúa thu đông, theo dõi diễn biến tình hình thời tiết, sâu bệnh, chuẩn bị các phương tiện cần thiết để bảo vệ diện tích lúa thu đông chưa thu hoạch.

Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 3.642,4 nghìn ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.192,2 nghìn ha, giảm 0,1%; nhóm cây ăn quả đạt 1.154,1 nghìn ha, tăng 3,6%; nhóm cây lấy quả chứa dầu đạt 185 nghìn ha, tăng 2,7%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 53,7 nghìn ha, tăng 6,5%.

Sản lượng thu hoạch nhiều loại cây ăn quả và cây công nghiệp 9 tháng năm 2021 tăng do thời tiết năm nay thuận lợi, cây trồng không bị hạn hán, thiếu nước tưới. Trong đó, sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm như điều ước tính đạt 365,2 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước; hồ tiêu đạt 275,6 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su đạt 822,8 nghìn tấn, tăng 2,6%; chè búp đạt 865,2 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả chủ yếu hầu hết đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài đạt 801,1 nghìn tấn, tăng 6,7%; thanh long đạt 1.030,5 nghìn tấn, tăng 1,7%; cam đạt 689,7 nghìn tấn, tăng 3,8%; bưởi đạt 511,3 nghìn tấn, tăng 6,1%; chuối đạt 1.779,2 nghìn tấn, tăng 2,6%; nhãn đạt 544,4 nghìn tấn, tăng 7,8%. 

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định, dịch viêm da nổi cục đang dần được kiểm soát nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao. Chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành vẫn cần tiếp tục triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, tổ chức tốt việc tiêm vắc xin; giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các ổ dịch mới phát sinh; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, mua bán trâu, bò trái phép, không rõ nguồn gốc. 

Chăn nuôi lợn và gia cầm chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều chợ đầu mối, chợ truyền thống tạm ngưng hoạt động, chi phí sản xuất tăng, khâu lưu thông bị gián đoạn, nhu cầu thị trường giảm do nhà hàng, quán ăn đóng cửa, du lịch đình trệ nên các cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng cao, tăng nguy cơ thua lỗ. 

Sản phẩm chăn nuôi

 

 

Ước tính

quý III/2021

Cộng dồn

9 tháng/2021

Tốc độ tăng/giảm so với 

cùng kỳ năm trước (%)

 

Quý III/2021

9 tháng/2021

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Nghìn tấn)

     

Thịt trâu

25,6

86,6

-1,3

-0,4

Thịt bò

101,4

332,4

-1,6

2,4

Thịt lợn

1.058,7

3.060,9

-0,3

5,0

Thịt gia cầm

470,5

1.402,7

1,0

4,3

Trứng (Triệu quả)

4.419,0

12.841,8

2,8

4,3

Sữa (Nghìn tấn)

295,5

856,6

10,5

11,0

 Tính đến ngày 20/9/2021, cả nước không còn dịch tai xanh; dịch lở mồm long móng còn ở Thái Nguyên; dịch cúm gia cầm còn ở Lạng Sơn; dịch tả lợn châu Phi còn ở 35 địa phương  và dịch viêm da nổi cục còn ở 31 địa phương  chưa qua 21 ngày,

b) Lâm nghiệp

Quý III năm 2021, sản xuất lâm nghiệp gặp khó khăn do nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội trong thời gian dài, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ giảm tiến độ so với kế hoạch đầu năm. Các doanh nghiệp chế biến gỗ gặp trở ngại trong thu mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do chuỗi cung ứng bị đứt gãy.

Trong quý III/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 65,8 nghìn ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 18,5 triệu cây, tăng 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.643,6 nghìn m3, tăng 2,0%; sản lượng củi khai thác đạt 4,4 triệu ste, giảm 2,7%.

Tính chung 9 tháng năm 2021, ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 176,2 nghìn ha, tăng 2,8 % so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 65,1 triệu cây, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 12.589,2 nghìn m3, tăng 4,3%; sản lượng củi khai thác đạt 14,3 triệu ste, giảm 0,9%.

Diện tích rừng bị thiệt hại  quý III/2021 là 942,4 ha, tăng 56,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 736,8 ha, gấp 1,9 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 205,6 ha, giảm 8,0%. Tính chung 9 tháng năm 2021, cả nước có 1.748,2 ha rừng bị thiệt hại, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1.020,2 ha, tăng 54,6%; diện tích rừng bị chặt, phá là 728 ha, tăng 8,3%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý III/2021 ước tính đạt 2.281,4 nghìn tấn, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.607,5 nghìn tấn, giảm 5,9%; tôm đạt 337 nghìn tấn, giảm 5,2%; thủy sản khác đạt 337 nghìn tấn, giảm 1,6%. Ước tính 9 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản đạt 6.377,3 nghìn tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: Cá đạt 4.612,5 nghìn tấn, giảm 1,2%; tôm đạt 810 nghìn tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác đạt 954,8 nghìn tấn, tăng 1,5%.

 

Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III ước tính đạt 1.215,3 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 766,4 nghìn tấn, giảm 11,1%; tôm đạt 300,4 nghìn tấn, giảm 5,2%. Tính chung 9 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 3.320,1 nghìn tấn, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.224,1 nghìn tấn, giảm 3,1%; tôm đạt 699,8 nghìn tấn, tăng 4,3%; thủy sản khác đạt 396,2 nghìn tấn, tăng 1,9%.

Giá cá tra liên tục ở mức thấp kể từ cuối năm 2019 đến nay, dao động khoảng 20-22 nghìn đồng/kg khiến cho người nuôi giảm quy mô nuôi hoặc chuyển sang nuôi thủy sản khác. Việc thực hiện giãn cách xã hội gây trở ngại cho sản xuất, các doanh nghiệp chế biến cá tra dừng hoặc giảm công suất hoạt động, do đó sản lượng cá tra giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cá tra 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 987,4 nghìn tấn, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2021 đạt 315,3 nghìn tấn, giảm 19,8%).

Sản lượng thu hoạch tôm nuôi giảm mạnh trong quý chủ yếu do các nhà máy chế biến giảm thu mua tôm, tạm ngưng hoạt động, giảm công suất hoặc khó khăn trong thu mua . Sản lượng tôm sú quý III/2021 đạt 81,5 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 204 nghìn tấn, giảm 6,3%. Ước tính 9 tháng năm 2021, sản lượng tôm sú đạt 196,6 nghìn tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 462,2 nghìn tấn, tăng 5,5%.

Sản lượng thủy sản khai thác quý III/2021 ước tính đạt 1.066,1 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 841,1 nghìn tấn, giảm 0,5%; tôm đạt 36,6 nghìn tấn, giảm 5,1%. Tính chung 9 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.057,2 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.388,4 nghìn tấn, tăng 0,7%; tôm đạt 110,2 nghìn tấn, giảm 2,2%, thủy sản khác đạt 558,6 nghìn tấn, tăng 1,3%. Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng năm 2021 đạt 2.917,5 nghìn tấn, tăng 0,8%, trong đó: Cá đạt 2.294,3 nghìn tấn, tăng 0,7%; tôm đạt 100,1 nghìn tấn, giảm 2,3%.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong quý III/2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhất là tại các địa phương có khu công nghiệp lớn phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp quý III/2021 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2020.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2021 ước tính tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 6,29%; quý II tăng 11,18%; quý III giảm 3,5%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,05% (quý I tăng 8,9%; quý II tăng 13,35%; quý III giảm 3,24%); ngành khai khoáng giảm 7,17% do sản lượng khai thác dầu thô giảm 6% và khí đốt tự nhiên dạng khí giảm 17,6%.

Chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 28,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,7%; sản xuất trang phục tăng 4,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,4%; sản xuất đồ uống giảm 4,2%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 1,1%.

Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 9 tháng các năm 2017-2021 

của một số ngành công nghiệp trọng điểm

   

 

2017

2018

2019

2020

2021

           

Sản xuất kim loại

19,1

19,7

36,7

4,6

28,4

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

30,0

14,2

6,3

9,1

7,7

Sản xuất trang phục

8,8

10,9

8,4

-5,5

4,8

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

7,8

10,5

8,9

-4,1

4,5

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn

(trừ máy móc, thiết bị)

8,5

13,8

6,5

3,7

3,4

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

5,2

11,4

7,9

1,3

2,0

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

6,6

6,0

6,4

7,6

-1,1

Sản xuất phương tiện vận tải khác

9,4

5,7

-5,8

-9,3

-1,9

In, sao chép bản ghi các loại

8,8

7,6

11,8

-2,1

-2,2

Sản xuất đồ uống

4,6

8,2

11,0

-6,2

-4,2

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên

-10,9

-4,9

-2,4

-11,2

-12,4

Chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19: (1) Thành phố Hồ Chí Minh giảm 12,9% do sản xuất trang phục giảm 25,8%; dệt giảm 17,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 16%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 7,8%. (2) Bến Tre giảm 11,2% do ngành dệt giảm 25,2%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 18%; sản xuất trang phục giảm 15,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 13%. (3) Đồng Tháp giảm 9,9% do sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 37,7%; sản xuất trang phục giảm 1,4%; sản xuất sản chế biến thực phẩm giảm 9,6%. (4) Cần Thơ giảm 9,8% do sản xuất trang phục giảm 33,2%; sản xuất đồ uống giảm 22,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 25,1%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 9,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 6,7%. (5) Khánh Hòa giảm 9,5% do sản xuất trang phục giảm 17,1%; sản xuất đồ uống giảm 15,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 19,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 29,7%. (6) Trà Vinh giảm 7,3% do sản xuất phân phối điện, khi đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,1%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 8,8%; sản xuất thiết bị điện giảm 14,3%. (7) Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 5,3% do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) giảm 6%. (8) Vĩnh Long giảm 4,5% do sản xuất đồ uống giảm 12,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 18,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 14,1%.

Mức giảm IIP 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước

của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

 

 

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng: (1) Ninh Thuận tăng 32,6% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 58,5%; dệt tăng 6%. (2) Đắk Lắk tăng 25% do sản xuất giường, tủ, bàn ghế gấp 2,3 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 76,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 60,1%. (3) Hải Phòng tăng 19,7% do sản xuất trang phục tăng 54,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,5%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 21,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,5%. (4) Nghệ An tăng 18,3% do sản xuất trang phục tăng 43,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 55,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22%. (5) Gia Lai tăng 17,4% do sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 30%; sản xuất xe có động cơ tăng 26%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn ghế) tăng 2,3%. (6) Hà Tĩnh  tăng 16,6% do sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 16,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,7%. (7) Thanh Hóa tăng 15,3% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 37,7%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 22,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,6%; sản xuất trang phục tăng 15,1%. (8) Quảng Ngãi tăng 14,9% do sản xuất kim loại tăng 86,1%; dệt tăng 45,2% (bổ sung Nhà máy sản xuất sợi và vải Mahang Dung Quất, Xưởng vải Công ty TNHH Xindadong Textiles có cùng thời gian hoàn thành là tháng 8/2021, năng lực thiết kế tương ứng là 4.800 tấn/năm và 70 triệu m2/năm); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 17,1%. (9) Hà Nam tăng 14,4% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 17,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,8%. (10) Bình Phước tăng 14% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 29,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,2%; sản xuất trang phục tăng 6,9%; dệt tăng 5,2%.

Mức tăng IIP 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước

của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

 

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 9 tháng năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 43,6%; thép cán tăng 43,3%; ô tô tăng 18,6%; xăng dầu các loại tăng 16,1%; khí hóa lỏng LPG tăng 15,7%; sắt, thép thô tăng 12,4%; sữa bột tăng 10,3%; giày, dép da tăng 9,4%; phân hỗn hợp NPK tăng 9,2%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Tivi các loại giảm 35,9%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 17,6%; thủy hải sản chế biến giảm 8,8%; bia các loại giảm 8,7%; đường kính giảm 8,3%; thức ăn cho thủy sản giảm 7,2%; dầu mỏ thô khai thác giảm 6%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2021 tăng 12,4% so với tháng trước và giảm 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2021 tăng 3,5% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 28,2% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 24,3%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2021 là 81,1% (cùng kỳ năm trước là 75,6%). 

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2021 tăng 1,5% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 13,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không đổi và giảm 5,8%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,4% và giảm 16,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,8% và giảm 14,2%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,2% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,6% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,7% và giảm 14,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,1% và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và giảm 2,3%.

4. Hoạt động của doanh nghiệp 

Dịch Covid-19 kéo dài đã làm nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản; chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế bị đứt gãy do các đợt giãn cách liên tiếp, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tháng Chín có sự sụt giảm nghiêm trọng cả về số lượng và số vốn đăng ký. Trong tháng 9/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới chỉ đạt 3.899 doanh nghiệp, giảm 62,2% so với cùng kỳ năm 2020; số vốn đăng ký chỉ đạt 62,4 nghìn tỷ đồng, giảm 69,3%. Tính chung 9 tháng năm 2021, tổng số doanh nghiệp thành lập mới đạt 85,5 nghìn doanh nghiệp, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước; quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14 tỷ đồng, giảm 3,1%; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 90,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,3% .

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý IV/2021 với 73,7% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp 

Trong tháng 9/2021, cả nước có 3.899 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 62,4 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 49,9 nghìn lao động, giảm 32,3% về số doanh nghiệp, giảm 8,1% về vốn đăng ký và tăng 15% về số lao động so với tháng 08/2021; so với cùng kỳ năm 2020, giảm 62,2% về số doanh nghiệp, giảm 69,3% về số vốn đăng ký và giảm 39,9% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 16 tỷ đồng, tăng 35,7% so với tháng trước và giảm 18,8% so với cùng kỳ năm 2020. Trong tháng, cả nước còn có 3.317 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14,2% so với tháng trước và giảm 27,4% so với cùng kỳ năm 2020. 

Tính chung 9 tháng năm 2021, cả nước có 85,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.195,8 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 648,8 nghìn lao động, giảm 13,6% về số doanh nghiệp, giảm 16,3% về vốn đăng ký và giảm 16,6% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đạt 14 tỷ đồng, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.677,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 32 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 2.873 nghìn tỷ đồng, giảm 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 32,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,6% so với 9 tháng năm 2020, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng lên 117,8 nghìn doanh nghiệp, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 13,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, 9 tháng năm nay có 1.465 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 24,8% so với cùng kỳ năm trước; 23,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 22,2%; 60,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 9,5%. 

Cũng trong tháng Chín, có 2.240 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 28,2% so với tháng trước và giảm 31,5% so với cùng kỳ năm 2020; có 2.509 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 0,1% và giảm 38,8%; có 606 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 25,4% và giảm 65,1%. 

Tính chung 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 45,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước; 32,4 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 17,4%; 12,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 5,9%, trong đó có 11,4 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 5,7%; 146 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 24%. Bình quân một tháng có 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể 9 tháng năm 2021

phân theo lĩnh vực hoạt động

 

 

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Thành lập mới

Giải thể

Thành lập mới

Giải thể

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy

28.924

4.703

-11,1

0,7

Công nghiệp chế biến chế tạo

11.026

1.486

-10,7

11,5

Xây dựng

10.653

1.185

-15,4

17,6

Kinh doanh bất động sản

5.400

636

11,5

-8,6

Vận tải kho bãi

4.219

571

4,6

17,7

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

2.891

728

-24,5

12,0

Sản xuất phân phối, điện, nước, gas

961

270

-77,3

82,4

   

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp 

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2021 cho thấy: Có 13,2% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý II/2021; 25,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 61,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn . Dự kiến quý IV/2021, có 43,4% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2021; 26,3% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 30,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 79,4% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2021 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2021; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 71,8% và 68,8%.

Về khối lượng sản xuất, có 15% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III/2021 tăng so với quý II/2021; 27,6% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 57,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm . Xu hướng quý IV/2021 so với quý III/2021, có 43,5% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 23,9% số doanh nghiệp dự báo giảm và 32,6% số doanh nghiệp dự báo ổn định. 

Về đơn đặt hàng, có 12% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý III/2021 cao hơn quý II/2021; 31,8% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 55,4% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm . Xu hướng quý IV/2021 so với quý III/2021, có 39,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 24,3% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 36,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định. 

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý III/2021 so với quý II/2021, có 11,7% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 37,1% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 51,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý IV/2021 so với quý III/2021, có 34,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 22,4% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 43% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Trong tháng Chín, dịch Covid-19 bước đầu được kiểm soát ở một số địa phương, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ được phép hoạt động trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín tăng 6,5% so với tháng trước và giảm 28,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 7,1% (cùng kỳ năm 2020 giảm 0,7%).

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín năm 2021 ước tính đạt 308,8 nghìn tỷ đồng; quý III đạt 915,7 nghìn tỷ đồng. Tính chung  9 tháng năm 2021 đạt 3.367,7 nghìn tỷ đồng, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 8,7% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,1%).

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

 Nghìn tỷ đồng

 

Ước tính

tháng 9

năm

2021

Ước tính

quý III

năm

2021

Ước tính

9 tháng

năm

2021

Tốc độ tăng/giảm so với

cùng kỳ năm trước (%)

 

 

Tháng 9

năm 2021

Quý III

năm 2021

9 tháng

năm 2021

 

Tổng số

308,8

915,7

3.367,7

-28,4

-28,3

-7,1

 

Bán lẻ hàng hóa

270,8

801,7

2.779,7

-21,0

-20,4

-3,4

 

Dịch vụ lưu trú, ăn uống

 

 

upuống

19,4

57,0

279,4

-53,6

-55,7

-22,1

 

Du lịch lữ hành

0,1

0,2

4,6

-92,4

-94,0

-64,0

 

Dịch vụ khác

18,5

56,8

304,0

-59,6

-58,7

-19,4

 

Xét theo ngành hoạt động, trong doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2021 có ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 5%; phương tiện đi lại giảm 6,4%; may mặc giảm 9,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 10%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 10,5%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Hà Nội giảm 4,4%; Cần Thơ giảm 5,4%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 22,1%; Đà Nẵng tăng 4,4%; Hải Phòng tăng 9,6%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Quảng Ninh giảm 12,6%; Cần Thơ giảm 14,9%; Đà Nẵng giảm 17,5%; Đồng Nai giảm 20,8%; Hà Nội giảm 24,9%; Bình Dương giảm 26,4%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 30,5%; Nghệ An giảm 34,1%.

Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng năm 2021 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Quảng Ninh giảm 31,5%; Đà Nẵng giảm 42%; Cần Thơ giảm 45,3%; Hà Nội giảm 55,4%; Hải Phòng giảm 55,7%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 56,2%; Thừa Thiên - Huế giảm 63,1%; Bình Dương giảm 67,8%; Quảng Nam giảm 82,4%; Khánh Hòa giảm 89,5%. 

Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của Phú Yên giảm 4,5%; Đà Nẵng giảm 8,1%; Bình Dương giảm 9,7%; Nghệ An giảm 10,9%; Cần Thơ giảm 11,4%; Đồng Nai giảm 13,5%; Hà Nội giảm 20,4%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 23,3%.

b) Vận tải và viễn thông

Trong tháng Chín, nhiều địa phương nới lỏng dần giãn cách xã hội từ áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg xuống Chỉ thị số 15/CT-TTg nên vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước giảm 70,7% về lượng hành khách vận chuyển, giảm 79,2% về lượng hành khách luân chuyển và vận tải hàng hóa giảm 27,6% về sản lượng vận chuyển, giảm 15,9% về sản lượng luân chuyển. Tính chung 9 tháng năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 23,8% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách giảm 30,9% và vận chuyển hàng hóa giảm 5,6%, luân chuyển hàng hóa giảm 0,3%.

Vận tải hành khách tháng Chín ước tính đạt 80,9 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 70,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 2,4 tỷ lượt khách.km, giảm 79,2%; quý III năm nay ước tính đạt 247,6 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 69,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 7,8 tỷ lượt khách.km, giảm 78,1%. 

Tính chung 9 tháng năm 2021, vận tải hành khách đạt 2.018,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 23,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 29,6%) và luân chuyển 82,7 tỷ lượt khách.km, giảm 30,9% (cùng kỳ năm trước giảm 35,2%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 2.018,7 triệu lượt khách, giảm 23,7% và 82,2 tỷ lượt khách.km, giảm 25,2%; vận tải ngoài nước đạt 101,2 nghìn lượt khách, giảm 96,3% và 489,8 triệu lượt khách.km, giảm 95%. 

Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường 9 tháng năm nay đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong đó hàng không và đường sắt là những ngành chịu thiệt hại khá nặng nề.

Vận tải hành khách 9 tháng năm 2021 phân theo ngành vận tải

 

Số lượt hành khách

 

Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)

 

 Vận chuyển
(Triệu HK)

Luân chuyển
(T HK.km)

 

 Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

2018,8

82,7

 

-23,8

-30,9

Đường sắt

1,2

0,5

 

-57,8

-58,5

Đường biển

4,1

0,2

 

-26,1

-13,4

Đường thủy nội địa

134,0

2,3

 

-19,6

-19,0

Đường bộ

1866,1

67,5

 

-23,8

-24,6

Hàng không

13,4

12,2

 

-42,0

-52,8

 

   

Vận tải hàng hóa tháng Chín ước tính đạt 114,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 27,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 24,3 tỷ tấn.km, giảm 15,9%; quý III năm nay ước tính đạt 319,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 70,5 tỷ tấn.km, giảm 14,6%. 

Tính chung 9 tháng năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 1.195 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,3%) và luân chuyển 242,8 tỷ tấn.km, giảm 0,3% (cùng kỳ năm trước giảm 8,2%), trong đó: Vận tải trong nước đạt 1.175 triệu tấn vận chuyển, giảm 5,3% và 143,9 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 12,8%; vận tải ngoài nước đạt 20 triệu tấn vận chuyển, giảm 18,9% và 98,9 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 14,7%. 

Vận tải hàng hóa 9 tháng năm 2021 phân theo ngành vận tải

 

Sản lượng hàng hóa

 

Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)

 

Vận chuyển
(Triệu tấn)

Luân chuyển
(Tỷ tấn.km)

 

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

1195,0

242,8

 

-5,6

-0,3

Đường sắt

4,1

2,7

 

10,0

1,2

Đường biển

61,0

124,8

 

3,6

0,4

Đường thủy nội địa

237,1

50,1

 

-1,0

2,9

Đường bộ

892,6

61,9

 

-7,4

-5,2

Hàng không

0,2

3,3

 

-9,7

24,9

 

Doanh thu hoạt động viễn thông quý III/2021 ước tính đạt 76 nghìn tỷ đồng, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá giảm 0,3%). Tính chung 9 tháng năm 2021, doanh thu đạt 234 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 2,1%).

Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng 9/2021 ước tính đạt 126,3 triệu thuê bao, tăng 0,6% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 123 triệu thuê bao, tăng 0,7%. Số thuê bao truy nhập Internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Chín ước tính đạt 18,4 triệu thuê bao, tăng 13% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) và qua hệ thống cáp truyền hình (CATV) tăng nhanh, thuê bao truy nhập qua hình thức xDSL tiếp tục giảm.

c) Khách quốc tế đến Việt Nam 

Khách quốc tế đến nước ta trong quý III/2021 đạt 26,3 nghìn lượt người, giảm 40,3% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 9 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta đạt 114,5 nghìn lượt người, giảm 97% so với cùng kỳ năm trước. 

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Chín ước tính đạt 9,5 nghìn lượt người, tăng 2,2% so với tháng trước và giảm 31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 114,5 nghìn lượt người, giảm 97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 75,6 nghìn lượt người, chiếm 66% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 97,5%; bằng đường bộ đạt 38,5 nghìn lượt người, chiếm 33,6% và giảm 93,4%; bằng đường biển đạt 398 lượt người, chiếm 0,4% và giảm 99,7%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tăng trưởng tín dụng đạt 7,17%, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2021. Kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng khá, đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2021 tăng 13% so với cùng kỳ năm trước; tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán cho nền kinh tế tăng 12%.

Tính đến thời điểm 20/9/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 4,95% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 7,58%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 4,28% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 7,48%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,17% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,99%).

Để hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các ngân hàng thương mại lớn trong hệ thống ngân hàng đã giảm lãi suất cho vay đối với những khoản dư nợ hiện hữu từ giữa tháng 7 đến hết năm 2021. Hiện nay, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,4%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (4,5%/năm). Từ cuối tháng 8/2021, nhiều ngân hàng đã thay đổi mức lãi suất huy động theo hướng tiếp tục giảm trong bối cảnh ngân hàng dồi dào thanh khoản và tín dụng tăng chậm do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam của ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,3%-3,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,2%-5,7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,4%-6,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,1%-6,9% đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Diễn biến thị trường ngoại tệ và tỷ giá USD/VND nhìn chung ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt. Hoạt động thanh toán trong nền kinh tế diễn ra an toàn, hiệu quả, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán tiếp tục được hoàn thiện; thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng đồng thời ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2021 ước tính tăng 13% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2021 tăng 7%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 17%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 5%. Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và kéo dài, kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm truyền thống như đại lý, ngân hàng… tiếp tục gặp khó khăn, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đã hợp tác với những doanh nghiệp lớn, đẩy mạnh các hình thức giới thiệu sản phẩm bảo hiểm trực tuyến nhằm thu hút khách hàng. 

Trong tình hình dịch bệnh kéo dài và diễn ra phức tạp, thị trường chứng khoán phát triển ổn định với tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế trong 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 292,1 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2020. 

Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 24/9/2021, chỉ số VNIndex đạt 1.351,17 điểm, tăng 1,5% so với cuối tháng trước và tăng 22,4% so với cuối năm 2020. Giá trị vốn hóa thị trường đạt 6.913 nghìn tỷ đồng, tăng 30,6% so với cuối năm 2020. Trong tháng 9/2021, giá trị giao dịch bình quân đạt 27.608 tỷ đồng/phiên, giảm 4% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 24.042 tỷ đồng/phiên, tăng 224% so với bình quân năm 2020. Đến cuối tháng 8/2021, thị trường có 737 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở GDCK và 901 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết, đăng ký giao dịch đạt 1.628 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với cuối năm 2020.

Trên thị trường trái phiếu, đến cuối tháng 8/2021, có 435 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt hơn 1.428 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với cuối năm 2020. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trong tháng Chín đạt 9.708 tỷ đồng/phiên, tăng 15% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị giao dịch bình quân đạt 10.948 tỷ đồng/phiên, tăng 5,3% so với bình quân năm 2020.

Trên thị trường chứng khoán phái sinh, đối với sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30, khối lượng giao dịch bình quân đạt 156.531 hợp đồng/phiên, giảm 38% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, khối lượng giao dịch bình quân đạt 207.171 hợp đồng/phiên, tăng 32% so với bình quân năm trước. Tính đến ngày 17/9/2021, khối lượng hợp đồng mở (OI) đạt 30.657 hợp đồng, tăng 1% so với cuối tháng trước và giảm 24% so với cuối năm 2020. Đối với sản phẩm chứng quyền có bảo đảm, khối lượng giao dịch bình quân trong tháng 9/2021 đạt 19,85 triệu chứng quyền/phiên, tăng 95% so với tháng trước; giá trị giao dịch bình quân đạt 42,7 tỷ đồng/phiên, tăng 51%. Tính chung 9 tháng năm 2021, khối lượng giao dịch bình quân đạt 18,78 triệu chứng quyền/phiên, tăng 59% so với bình quân năm trước; giá trị giao dịch bình quân đạt 81,3 tỷ đồng/phiên, tăng 276%.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước do nhiều địa phương áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội làm đứt gãy chuỗi sản xuất và cung ứng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Tổng số dự án đầu tư nước ngoài tính đến 20/9/2021 đăng ký cấp mới giảm 37,8% so với cùng kỳ năm 2020 nhưng số vốn đăng ký tăng 20,6%. Vốn đăng ký cấp mới bình quân 1 dự án trong 9 tháng năm 2021 đạt 10,3 triệu USD/dự án (cùng kỳ năm 2020 đạt 5,3 triệu USD/dự án).

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III/2021 theo giá hiện hành ước tính đạt 697,2 nghìn tỷ đồng, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước giảm 20,6%; khu vực ngoài Nhà nước giảm 1,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 20,7%.

Ước tính 9 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 1.868,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 459,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,6% tổng vốn và giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.100,5 nghìn tỷ đồng, bằng 58,9% và tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 308,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% và giảm 3,4%.

Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

9 tháng giai đoạn 2017-2021 (Theo giá hiện hành)

 

%

 

Tổng số

Khu vực
Nhà nước

Khu vực
ngoài Nhà nước

Khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tốc độ phát triển

Năm 2017

113,2

104,7

118,2

113,5

Năm 2018

110,4

101,8

115,4

109,1

Năm 2019

109,9

102,2

114,0

108,4

Năm 2020

104,0

111,9

102,7

97,5

Năm 2021

100,4

95,3

103,9

96,6

Cơ cấu

Năm 2017

100,0

28,1

53,2

18,7

Năm 2018

100,0

25,9

55,6

18,5

Năm 2019

100,0

24,1

57,6

18,3

Năm 2020

100,0

26,0

56,9

17,1

Năm 2021

100,0

24,6

58,9

16,5

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 276,3 nghìn tỷ đồng, bằng 57,3% kế hoạch năm và giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 bằng 58% và tăng 30,6% ), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 48,5 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% kế hoạch năm và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 227,8 nghìn tỷ đồng, bằng 57,2% và giảm 8,1%, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 153,4 nghìn tỷ đồng, bằng 55,1% và giảm 7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 62,5 nghìn tỷ đồng, bằng 60,6% và giảm 10,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 11,9 nghìn tỷ đồng, bằng 72,7% và giảm 10,2%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam  tính đến ngày 20/9/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 22,15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20/9 hằng năm

Tỷ USD

 

2017

2018

2019

2020

2021

Vốn đăng ký

25,48

25,37

26,16

21,21

22,15

    Đăng ký cấp mới

14,56

14,13

10,97

10,36

12,50

    Đăng ký điều chỉnh

6,75

5,54

4,79

5,12

6,43

Góp vốn, mua cổ phần

4,17

5,70

10,40

5,73

3,22

Vốn thực hiện

12,50

13,25

14,22

13,76

13,28

 

- Vốn đăng ký cấp mới có 1.212 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 12,5 tỷ USD, giảm 37,8% về số dự án và tăng 20,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5,47 tỷ USD, chiếm 43,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,16 tỷ USD, chiếm 41,3%; các ngành còn lại đạt 1,87 tỷ USD, chiếm 14,9%. Trong số 62 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4,98 tỷ USD, chiếm 39,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nhật Bản 2,4 tỷ USD, chiếm 19,2%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 1,49 tỷ USD, chiếm 11,9%; Trung Quốc 1,44 triệu USD, chiếm 11,5%; Hàn Quốc 767,7 triệu USD, chiếm 6,1%; Hoa Kỳ 365,1 triệu USD, chiếm 2,9%. 

- Vốn đăng ký điều chỉnh có 678 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 6,43 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm trước. 

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 11,03 tỷ USD, chiếm 58,3% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,42 tỷ USD, chiếm 28,6%; các ngành còn lại đạt 2,48 tỷ USD, chiếm 13,1%. 

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.830 lượt với tổng giá trị góp vốn 3,22 tỷ USD, giảm 43,8% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 1.139 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,05 tỷ USD và 1.691 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,17 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 805,5 triệu USD, chiếm 25% giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt gần 729 triệu USD, chiếm 22,6%; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 398,6 triệu USD, chiếm 12,4%; các ngành còn lại 1,29 tỷ USD, chiếm 40%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2021, ước tính đạt 13,28 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9,57 tỷ USD, chiếm 72,1% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,74 tỷ USD, chiếm 13,1%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,13 tỷ USD, chiếm 8,5%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm 2021 có 41 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 150,1 triệu USD, giảm 44,1% so với cùng kỳ năm trước; có 15 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 422,1 triệu USD , gấp gần 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước . Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 572,3 triệu USD, tăng 32,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 270,8 triệu USD, chiếm 47,3% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 148,1 triệu USD, chiếm 25,9%; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 98,4 triệu USD, chiếm 17,2%. Trong 9 tháng năm 2021 có 20 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là nước dẫn đầu với 302,8 triệu USD, chiếm 52,9% tổng vốn đầu tư; Cam-pu-chia 89,4 triệu USD, chiếm 15,6%; Lào 47,8 triệu USD, chiếm 8,4%; Ca-na-da 32,1 triệu USD, chiếm 5,6%; Pháp, Đức, Hà Lan cùng đạt 32 triệu USD, cùng chiếm khoảng 5,59%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước 

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, đặc biệt là các địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả thu ngân sách Nhà nước trong 9 tháng năm 2021. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Thu ngân sách Nhà nước:

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 9/2021 ước tính đạt 22 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2021 đạt 1.034,2 nghìn tỷ đồng, bằng 77% dự toán năm (thu ngân sách Trung ương bằng 73,6%; thu ngân sách địa phương bằng 81,1%). Cụ thể một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa trong 15 ngày đầu tháng 9/2021 đạt 12,9 nghìn tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 15/9/2021 đạt 836,2 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% dự toán năm, trong đó: Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 105,6 nghìn tỷ đồng, bằng 71,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 143,8 nghìn tỷ đồng, bằng 72,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 176,3 nghìn tỷ đồng, bằng 74,2%; thu thuế thu nhập cá nhân 92,2 nghìn tỷ đồng, bằng 85,6%; thu thuế bảo vệ môi trường 41 nghìn tỷ đồng, bằng 63,7%; thu tiền sử dụng đất 103,6 nghìn tỷ đồng, bằng 93%.

- Thu từ dầu thô trong 15 ngày đầu tháng 9/2021 đạt 1,7 nghìn tỷ đồng; lũy kế đến ngày 15/9/2021 đạt 27,4 nghìn tỷ đồng, bằng 118% dự toán năm; 

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong 15 ngày đầu tháng 9/2021 đạt 7,3 nghìn tỷ đồng; lũy kế đến ngày 15/9/2021 đạt 170 nghìn tỷ đồng, bằng 95,3% dự toán năm. 

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 9 ước tính đạt 58,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2021 đạt 975,6 nghìn tỷ đồng, bằng 57,8% dự toán năm, trong đó: Chi thường xuyên đạt 689,3 nghìn tỷ đồng, bằng 66,5%; chi đầu tư phát triển 202,2 nghìn tỷ đồng, bằng 42,4%; chi trả nợ lãi 77,7 nghìn tỷ đồng, bằng 70,6%. 

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất nhập khẩu hàng hóa 

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên hoạt động xuất nhập khẩu trong tháng Chín giảm 2% so với tháng Tám. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2021 ước tính đạt 53,5 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 483,17 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,8%; nhập khẩu tăng 30,5% .

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 8/2021 đạt 27,23 tỷ USD, cao hơn 1,03 tỷ USD so với số ước tính.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9/2021 ước tính đạt 27 tỷ USD, giảm 0,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,87 tỷ USD, giảm 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 20,13 tỷ USD, tăng 0,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Chín giảm 0,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 7,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 1,9%. 

Trong quý III/2021, kim ngạch xuất khẩu đạt 83,89 tỷ USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7,2% so với quý II năm nay (tăng 7% so với quý I). 

Tính chung 9 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 240,52 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 62,72 tỷ USD, tăng 8,5%, chiếm 26,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 177,8 tỷ USD, tăng 22,8%, chiếm 73,9%.

Trong 9 tháng năm 2021 có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,5% tổng kim ngạch xuất khẩu (6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63,2%). Tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,1%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98%; máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng chiếm 92,5%; giày dép chiếm 80,5%; dệt may chiếm 62,6%.

Một số mặt hàng xuất khẩu quý III và 9 tháng năm 2021

 Nghìn tấn; Triệu USD

 

 

Ước tính

quý III

năm 2021

Ước tính

9 tháng

năm 2021

Tốc độ tăng/giảm so với

cùng kỳ năm trước (%)

 
 

Quý III năm 2021

9 tháng năm 2021

 

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD

             

Điện thoại và linh kiện

 

16.860

 

41.326

 

13,7