Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 8 năm 2021

            Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, hầu hết các cơ sở trên địa bàn tỉnh đều gặp khó khăn trong tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm do hàng hóa tiêu thụ chậm. Một số doanh nghiệp đã tạm ngưng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng so với thời gian chưa có dịch bệnh xảy ra, do phải lưu kho hàng. Cùng với cả nước, Lâm Đồng khẩn trương triển khai các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vừa chống dịch hiệu quả nhất là thực hiện Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng 8/2021 hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tập trung chủ yếu cho việc thu hoạch vụ hè thu; gieo trồng, chăm sóc cây vụ mùa. Công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được triển khai thường xuyên; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, trồng cây xanh và đảm bảo an toàn thuỷ lợi cho sản xuất trong mùa mưa lũ gắn với phòng chống dịch bệnh.

1.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Thu hoạch vụ hè thu: tiến độ thu hoạch năm nay nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 10/8/2021 diện tích thu hoạch ước tính đạt 24.931 ha, tăng 10% (+2.265,7 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại rau, củ, quả. Trong đó:

Diện tích lúa thu hoạch 3.256 ha/5.710 ha, đạt 57,02% diện tích gieo trồng, giảm 1,18% (-39 ha) so với cùng kỳ, trong đó: Cát Tiên 3.050 ha, chiếm 99,02%; Đạ Huoai 32 ha, chiếm 0,98%. Năng suất bình quân ước đạt 56,5 tạ/ha, tăng 3,35%; sản lượng trên diện tích thu hoạch đạt 18.396,4 tấn, tăng 2,12% (+382,6 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích ngô thu hoạch được 1.662,3 ha/3.552 ha, đạt 47,8% diện tích gieo trồng, giảm 1,68% (-28,4 ha); ước năng suất bình quân đạt 51,32 tạ/ha, tăng 5,07% (+2,48 tạ/ha); sản lượng cả vụ ước đạt 18.232 tấn, giảm 2,71% (-508 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích rau các loại thu hoạch 17.963 ha/23.561 ha, đạt 76,24%, tăng 15,55% (+2.417 ha); ước năng suất bình quân đạt 347,9 tạ/ha, tăng 1,37% (+4,7 tạ/ha) so với cùng kỳ.

Diện tích đậu các loại thu hoạch 430 ha/587 ha, đạt 73,25% diện tích gieo trồng, tăng 13,46% so với cùng kỳ.

Hoa các loại thu hoạch 742 ha, tăng 3,78% (+27 ha) so với cùng kỳ.

Tiến độ thu hoạch vụ hè thu đến 10/8/2021

Đơn vị tính: ha

 

Thực hiện
 cùng kỳ năm trước

Thực hiện kỳ báo cáo

So với

cùng kỳ

(%)

Tổng diện tích thu hoạch

22.665,25

24.931,0

110,00

Diện tích thu hoạch cây lương thực

4.985,7

4.918,3

98,65

 - Thu hoạch lúa hè thu

3.295,0

3.256,0

98,82

 - Thu hoạch ngô

1.690,7

1.662,3

98,32

 DT thu hoạch một số cây HN khác

19.194,0

21.675,0

112,93

 - Rau các loại

15.546,0

17.963,0

115,55

 - Hoa các loại

715,0

742,0

103,78

Sản xuất vụ mùa: Tiến độ gieo trồng tính đến ngày 10/8/2021 thực hiện 19.347,6 ha, tăng 19,63% (+3.174,4 ha) so với cùng kỳ, do thu hoạch vụ hè thu kịp tiến độ, sản xuất vụ mùa không bị thiếu nước, bà con nông dân tranh thủ xuống giống kịp thời vụ, trong đó:

        Diện tích lúa gieo trồng 8.963 ha, đạt 72,48% kế hoạch, tăng 5,14% (+3.352 ha) so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở Đức Trọng 2.659 ha, chiếm 29,67%; Di Linh 2.055 ha, chiếm 22,93%; Đơn Dương 1.720 ha, chiếm 19,2%; Đam Rông 1.002 ha, chiếm 11,18%; Cát tiên 812 ha, chiếm 9,06%; Lâm Hà 715 ha, chiếm 7,98%;…

Ngô gieo trồng 398 ha, tăng 7,57% so với cùng kỳ.

        Diện tích rau gieo trồng 5.655 ha, giảm 3,71% (-218 ha) so với cùng kỳ, diện tích gieo trồng tập trung phần lớn ở các vùng chuyên canh rau như: Đơn Dương, Đức Trọng, Đà Lạt và Lạc Dương.

          Diện tích hoa các loại gieo trồng 596 ha, giảm 2,61% (-16 ha) so với cùng kỳ.

          Cây hàng năm khác 3.264,6 ha, tăng 3,42% so với cùng kỳ. Trong đó: diện tích chủ yếu là cỏ chăn nuôi 2.680 ha, chiếm 82,09%, còn lại là diện tích cây gia vị sả, ớt,...

Tiến độ gieo trồng vụ mùa đến 10/8/2021

Đơn vị tính: ha.

Chỉ tiêu

Thực hiện
 cùng kỳ năm trước

Thực hiện kỳ báo cáo

So cùng kỳ (%)

Tổng diện tích gieo trồng

16.173,2

19.347,6

119,63

Diện tích gieo trồng cây lương thực

5.981,0

9.361,0

156,51

 - Gieo cấy lúa mùa

8.525,0

8.963,0

105,14

 - Ngô

370,0

398,0

         107,57

DTGT một số cây HN khác

10.162,2

9.986,6

97,98

 - Đậu các loại

90,0

94,0

104,44

 - Hoa các loại

612,0

596,0

97,39

          Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm ở tỉnh Lâm Đồng trong  tháng 8 năm 2021 tập trung vào việc chăm sóc, cải tạo vườn cây với chủ trương tái canh, ghép cành, chuyển đổi giống mới với năng suất, chất lượng cao đem lại hiệu quả kinh tế cao áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Tính từ đầu năm đến nay trồng mới, ghép cải tạo cây lâu năm toàn tỉnh thực hiện 7.317 ha. Trong đó: cây cà phê diện tích trồng mới, ghép cải tạo, tái canh thực hiện 3.525 ha (diện tích trồng mới 368 ha, diện tích cải tạo, tái canh 3.157 ha); cây chè 732 ha; cây ăn quả 1.529 ha, bao gồm sầu riêng, bơ, mít, măng cụt, mác mác trồng xen trong vườn cà phê; cây mắc ca 1.046 ha; cây dâu tằm 426 ha.

        * Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống sâu bệnh trên cây trồng

        Trong tháng 8/2021, tình hình dịch bệnh trên cây trồng cơ bản được đảm bảo an toàn, hầu hết chỉ gây hại ở mức độ nhẹ[1]. Các cơ quan chuyên môn đã phối hợp chặt chẽ với địa phương, theo dõi diễn biến của các loại dịch hại đang phát sinh tại các địa phương lân cận để triển khai các biện pháp phòng trừ phù hợp, đặc biệt là bọ cánh cứng đang trực tiếp gây hại trên các loại cây công nghiệp, cây ăn trái các loại… ở tỉnh Bình Phước có nhiều khả năng xâm nhập vào các vùng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng.

* Tình hình chăn nuôi

Tổng đàn và sản lượng gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ mở rộng quy mô chăn nuôi và khu vực doanh nghiệp phát triển tốt. Tuy nhiên, người chăn nuôi cần theo dõi sát diễn biến thị trường, các cơ quan chức năng cung cấp thông tin kịp thời, kiểm soát tình hình chăn nuôi tại địa phương, không nên tăng đàn ồ ạt dẫn tới tình trạng dư thừa nguồn cung, giá bán giảm sâu gây thua lỗ.

Đến thời điểm ngày 10/8/2021 tổng đàn trâu hiện có 13.121 con, giảm 5,1%; tổng đàn bò đạt 96.936 con, giảm 6,73% so với cùng kỳ, sản lượng sữa bò ước đạt 67.800 tấn, tăng 13,75% so với cùng kỳ. Tổng đàn lợn 396.920 con, tăng 2,9%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 45.793,6 tấn, giảm 6,4% so với cùng kỳ. Tổng đàn gia cầm ước đạt 11.106,5 nghìn con, tăng 7,5%, trong đó, tổng đàn gà 5.748,1 nghìn con, tăng 7,3%, sản lượng trứng gà ước tính 105.757,9 nghìn quả, tăng 1,5% so với cùng kỳ.

Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch bệnh:

Bệnh Viêm da nổi cục xuất hiện đầu tiên trên đàn bò tại xã Đạ Tồn, huyện Đạ Huoai từ ngày 26/7/2021, sau đó lây lan sang các xã, thị trấn của Đạ Huoai, Cát Tiên. Đến ngày 15/8/2021 đã có 216 con mắc bệnh (187 con bò, 29 con bê)/tổng đàn 401 con của 97 hộ chăn nuôi/17 thôn, tổ dân phố/09 xã, thị trấn/02 huyện (Đạ Huoai, Cát Tiên); số tiêu hủy là 02 con bê (tại huyện Cát Tiên) với trọng lượng tiêu hủy là 120kg.

Bệnh dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại xã Gia Hiệp, huyện Di Linh từ ngày 15/7/2021 đến ngày 11/8/2021 đã có 103 con lợn mắc bệnh (06 lợn nái, 83 lợn thịt và 14 lợn con)/08 hộ chăn nuôi/05 thôn/01 xã (Gia Hiệp). Đã tiêu hủy toàn bộ 103 con lợn mắc bệnh với trọng lượng tiêu hủy 3.652 kg.

Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh: kiểm dịch xuất tỉnh được 693.284 con lợn (trong đó 45.319 con lợn giống); 1,99 triệu con gia cầm (trong đó 1,58 triệu con gà giống và 212,1 tấn sản phẩm khác (chủ yếu nhộng tằm). Kiểm dịch nhập tỉnh được 50 con bò.

1.2. Lâm nghiệp

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu cho công tác quản lý bảo vệ, trồng mới rừng tập trung; trồng cây lâm nghiệp phân tán; chăm sóc, nuôi dưỡng, tỉa thưa rừng trồng.

Trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng: Ước tính trong tháng 8 trồng mới rừng tập trung ở các loại hình kinh tế trên địa bàn thực hiện 245 ha, tăng 6,52%; luỹ kế đến hết tháng 8 đạt 1.055 ha, tăng 3,94% (+40 ha) so với cùng kỳ, do được chuẩn bị ngay từ đầu năm (về hiện trường đất đai, bố trí vốn, lực lượng trồng, ...). Bên cạnh một số đơn vị sau khi thẩm định xong đã đẩy nhanh tiến độ công tác chuẩn bị cây giống, hiện trường thiết kế (trồng rừng thay thế; trồng rừng sau giải tỏa; trồng rừng sau khai thác trắng và trồng rừng trên đất trống).

Diện tích rừng trồng được chăm sóc: 8 tháng năm 2021 ước đạt 7.170 ha, tăng 6,22% (+420 ha) so với cùng kỳ. Trong đó: Diện tích rừng sản xuất được chăm sóc đạt 3.320 ha, chiếm 46,3%, tăng 2,15% (+70 ha); rừng phòng hộ được chăm sóc đạt 3.850 ha, chiếm 53,7%, tăng 10% (+350 ha) so với cùng kỳ.

Tổng diện tích đã khoán quản lý bảo vệ rừng 452.649,4 ha. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách tỉnh 56.912,65 ha; nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 395.736,39 ha. Hiện nay các đơn vị chủ rừng đang tiếp tục rà soát, đăng ký bổ sung các diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2021.

Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng: Tính đến ngày 12/8/2021 trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy/7,16 ha, trong đó: 02 vụ cháy rừng/1,83 ha; 03 vụ cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán rừng/5,33 ha (không gây thiệt hại đến tài nguyên rừng). Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh xảy các điểm cháy nhỏ/cháy thảm cỏ cây bụi, không ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Các điểm cháy đã được phát hiện kịp thời và huy động lực lượng chữa cháy dập tắt ngay.

Khai thác lâm sản: Ước tính trong tháng 8 sản lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 4.320 m3, tăng 2,25%; củi thước 3.125 ster giảm 3,55% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 8 sản lượng gỗ khai thác ở các loại hình kinh tế đạt 34.226 m3, tăng 2,73% (+911 m3), sản lượng khai thác tăng phần lớn là khai thác trắng và tỉa thưa rừng trồng; củi thước 51.509,5 ster, bằng 97,04% so với cùng kỳ.

Tình hình vi phạm lâm luật: Trong tháng 8 (từ 10/7/2021 đến ngày 10/8/2021), lực lượng Kiểm Lâm và các đơn vị chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện lập biên bản 35 vụ vi phạm, giảm 32,69% (-17 vụ) so với cùng kỳ. Trong đó: Số vụ phá rừng 15 vụ, tăng 15,38% (+2 vụ); diện tích rừng bị phá 5,46 ha, tăng 273,97% (+4 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2021, tổng số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn 340 vụ, giảm 17,87% (-74 vụ) so với cùng kỳ, trong đó hành vi: Phá rừng trái phép 150 vụ, tăng 8,7% (+12 vụ); diện tích rừng bị phá 25,57 ha, giảm 22% (-7,21 ha) so với cùng kỳ. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 309 vụ, trong đó: xử lý hành chính 285 vụ, xử lý hình sự 24 vụ. Lâm sản tịch thu qua xử lý vi phạm: tịch thu 603,8 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách 4,66 tỷ đồng.

2. Sản xuất công nghiệp

Trong tháng 8 và 8 tháng năm 2021, thời tiết Lâm Đồng nắng ráo, tạo điều kiện cho nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như chè, cà phê, tơ, rau, quả...tương đối đảm bảo cung ứng đủ cho các đơn vị sản xuất trong tỉnh; giá cả sản phẩm ổn định ở mức cao thuận lợi đến hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhu cầu của thị trường về một số hàng hóa không thiết yếu giảm, vận chuyển hàng hóa gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng tới sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo. Một số công ty sản xuất cầm chừng do nhu cầu tiêu thụ không cao; ngoài ra một số địa phương, đơn vị đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện ổn định so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn duy trì công suất chạy máy phát điện.

2.1. Sản xuất công nghiệp ước tháng 8 năm 2021.

Dự tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh giảm 4,4% so với cùng kỳ, chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành cung cấp nước. Trong đó:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 1,61% so với cùng kỳ, chủ yếu ngành khai khoáng đá cát sỏi, cao lanh (tăng 2,45%).

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19, một số doanh nghiệp không có hợp đồng sản xuất mới nên tháng 8 năm 2021 dự ước chỉ số sản xuất giảm 16,01% so với cùng kỳ.

Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng như: Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 23,56%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,18%; ngành sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 5,76%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 2,93%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 0,92%.

Nhiều ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm, ít nhất là 3,71% như ngành sản xuất kim loại và ngành cao nhất là 53,29% như ngành hóa dược và dược liệu; ngành sản xuất đồ uống giảm 51,98%; ngành chế biến thực phẩm giảm 27,99%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 27,9%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 23,16%; ngành dệt giảm 22,48%; ngành sản xuất trang phục giảm 15,78%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,05%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 so với cùng kỳ (%)

 

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Toàn ngành công nghiệp

110,53

108,05

97,02

95,60

  1. Khai khoáng

108,59

130,24

43,12

101,61

  1. Chế biến, chế tạo

122,79

111,85

106,09

83,99

  1. Sản xuất, phân phối điện ...

102,96

104,08

92,34

108,84

  1. Cung cấp nước; HĐ quản lý và xử lý rác thải, nước thải

106,54

109,46

105,56

94,43

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tiếp tục duy trì công suất chạy máy phát điện cung cấp nguồn năng lượng điện cho hệ thống điện quốc gia; đồng thời đảm bảo yêu cầu an toàn cho hệ thống hồ, đập thủy điện, duy trì dòng chảy và sản lượng điện sản xuất theo kế hoạch điều động của Trung tâm điều động điện quốc gia, trong tháng 8 năm 2021 dự ước chỉ số sản xuất tăng 8,84% so với cùng kỳ.

 Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: giảm 5,57%; trong đó khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 4,97% và hoạt động thu gom rác thải giảm 7,87% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn:

Sản phẩm chủ yếu công nghiệp khai khoáng: đá xây dựng đạt 225,4 ngàn m3, tăng 36,12%; cao lanh đạt 10,6 ngàn tấn, chỉ bằng 63,36%% so với cùng kỳ.

Các sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: So với cùng kỳ, nhiều  sản phẩm tăng cao như: Sợi xe từ sợi tơ tằm đạt 29 tấn, tăng 28,24%; quả và hạt ướp lạnh đạt 636 tấn, tăng 26,34%; tơ thô đạt 7 tấn, tăng 24,01%; phân bón NPK đạt 17,8 ngàn tấn, tăng 8,23%. Tuy nhiên, có những sản phẩm giảm sâu như: Bia đóng lon đạt 2,2 triệu lít, giảm 74,85% (do sản phẩm tồn kho các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng); sản phẩm trà đạt 849 tấn, giảm 67,14%; hạt điều khô đạt 117 tấn, giảm 31,37%. Riêng sợi len lông cừu không sản xuất do công ty Sợi Đà Lạt đang thực hiện cách ly y tế phòng, chống dịch Covid-19.

Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh đạt 843 triệu kwh, tăng 7,32%; trong đó, sản phẩm điện sản xuất phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng đạt 496 triệu kwh, tăng 7,32%; sản phẩm nước sạch đạt 2,6 triệu m3, giảm 4,97% so với cùng kỳ.

2.2. Tình hình sản xuất công nghiệp dự ước 8 tháng đầu năm 2021:

Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 12,03%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 19,92%; ngành cung cấp nước giảm 0,74%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm so với cùng kỳ  (%)

 

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Toàn ngành công nghiệp

106,88

107,59

100,11

111,00

  1. Khai khoáng

112,45

119,55

  94,42

112,03

  1. Chế biến, chế tạo

108,61

110,54

104,76

105,10

  1. Sản xuất, phân phối điện ...

105,15

104,07

  94,50

119,92

  1. Cung cấp nước; HĐ quản lý và xử lý rác thải, nước thải

107,15

110,63

106,73

99,26

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,03% so với cùng kỳ, trong đó: ngành khai khoáng khác như khai thác cát, sỏi cao lanh… tăng 12,62%.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1% so với cùng kỳ; chủ yếu tăng ở các ngành: dệt tăng 28,25%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 25,41%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,9%; sản xuất đồ uống tăng 14,48%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,73%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,01%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,48%; ngành sản xuất trang phục tăng 2,83%; ngành sản xuất kim loại tăng 1,02%. Riêng một số ngành giảm như: ngành sản xuất thuốc hóa dược giảm 24,66%; chế biến gỗ giảm 10,55%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,38%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 10,27%.

Chỉ số sản xuất ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 19,92% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,74% so với cùng kỳ; trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 0,73% và hoạt động thu gom rác thải giảm 0,76% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn:

Sản phẩm ngành công nghiệp khai khoáng: cao lanh đạt 115,4 ngàn tấn, tăng 24,56%; đá xây dựng đạt 1.454,8 ngàn m3, tăng 6,11%.

Các sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: So với cùng kỳ các sản phẩm bia đạt 61,9 triệu lít, tăng 23,62%; sản phẩm bê tông trộn sẵn đạt 343 ngàn m3, tăng 21,39%; sản phẩm phân bón NPK đạt 84,4 ngàn tấn, tăng 5,06%; sản phẩm hạt điều khô đạt 825 tấn, tăng 3,51%; rau ướp lạnh đạt 6.814 tấn, tăng 1,47%; sản phẩm ôxit nhôm đạt 465,1 ngàn tấn, tăng 1,02%.

Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh đạt 4.820 triệu kwh, tăng 19,53%; trong đó, sản phẩm điện sản xuất phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng đạt 2.981 triệu kwh, tăng 19,53%. Sản phẩm nước uống được đạt 21,5 triệu m3, giảm 0,77% so với cùng kỳ.

Ch s s dng lao động ca doanh nghip công nghip 8 tháng năm 2021 chỉ số lao động của doanh nghiệp công nghiệp giảm 3,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 2,54%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,7%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,89% và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải giảm 1,45% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình kinh tế: Chỉ số lao động của doanh nghiệp công nghiệp ở loại hình doanh nghiệp nhà nước giảm 3,05%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 5,66%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,05% so cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp và thu hút đầu tư[2]

Đăng ký kinh doanh: Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 8/2021 có 42 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 641,9 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 53,3% về số doanh nghiệp và tăng 6,3% về vốn đăng ký. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021, có 831 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 10.844,4 tỷ đồng, tăng 2,7% về số doanh nghiệp và tăng 64,4% về vốn đăng ký. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng đạt 13,05 tỷ đồng.

Tạm ngừng kinh doanh, giải thể: Trong tháng 8/2021 có 27 doanh nghiệp đăng ký tạm ngưng kinh doanh; 10 doanh nghiệp giải thể. Cũng trong 8 tháng đầu năm 2021, có 238 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 43,4%; có 351 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 15,8%; có 97 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 246,4 so với cùng kỳ. Trung bình mỗi tháng có hơn 12 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

4. Đầu tư

         Tháng 8 năm 2021, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc giải ngân vốn đầu tư công, không được để ngành nào, địa phương nào không giải ngân hết số vốn. Tỉnh Lâm Đồng tập trung giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020 còn lại; phân bổ kế hoạch, nhập dự toán chi cho các dự án được bố trí kế hoạch; tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và quy định tại Luật Đầu tư công, kế hoạch vốn năm 2020 được kéo dài sang năm 2021, nên các chủ đầu tư hiện nay tập trung giải ngân vốn kéo dài của năm 2020. Để thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021 đạt kế hoạch, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021. 

         Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2021 ước đạt 401,7 tỷ đồng, tăng 18,94% so với cùng kỳ. Trong đó, nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 374 tỷ đồng, tăng 19,62% so với cùng kỳ; trong nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 179,2 tỷ đồng, vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 61,8 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt gần 16 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 81,2 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 36 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 27,7 tỷ đồng, tăng 10,43% so với cùng kỳ. Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 8 tháng đầu năm 2021 đạt 2.089,6 tỷ đồng, tăng 17,66%; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.920,8 tỷ đồng, tăng 18,12% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 930,3 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 406,4 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 40,3 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 414,9 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 128,9 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 168,9 tỷ đồng, tăng 12,62% so với cùng kỳ.

         Trong tháng 8/2021, trên địa bàn tỉnh có 642 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: Nâng cấp đường Đankia và cầu Phước Thành (phường 7), hệ thống đường nội bộ kênh thoát nước đoạn giao với đường An Bình đoạn cống giao với đường Triệu Việt Vương, thành phố Đà Lạt; xây dựng đường liên xã từ thôn Liêng Đơng xã Phi Liêng đi xã Đạ K'Nàng, hệ thống thuỷ lợi Đơn Trang, xã Đạ Tông, huyện Đam Rông; đường từ xã Lát đi Phi Tô, Lâm Hà, xây dựng hồ chống bồi lắng, nhà máy xử lý nước thải khu vực Đan Kia - Suối Vàng, huyện Lạc Dương (giai đoạn 1); trường TH Nam Ban, Trường THCS Tân Thanh, Trường Mầm non 2, thị trấn Nam Ban, đường giao thông liên xã Hoài Đức đi Tân Thanh, trường THCS Lý Tự Trọng, huyện Lâm Hà; đường tránh thị trấn Thạnh Mỹ, xây dựng hoàn chỉnh 02 Trường mầm non đạt chuẩn (trường mầm non Ka Đô, trường mầm non Hoàng Oanh), huyện Đơn Dương; xây dựng 03 trường THCS đạt chuẩn (Nguyễn Trãi, Đà Loan, Tà Năng), 02 trường Tiểu học đạt chuẩn (Bình Thạnh, Kim Đồng), huyện Đức Trọng; xây dựng trường TH tân Châu I, đường vào nghĩa địa Thôn 4 và các khu sản xuất xã Hoà Trung, huyện Di Linh; vỉa hè, hệ thống thoát nước dọc đường trung tâm thị trấn Lộc Thắng (đi vào khu tái định cư Bau xít), đường giao xã B'Lá đi xã Lộc Quảng, huyện Bảo Lâm; đường từ QL 20 vào trung tâm xã Đạ Ploa (giai đoạn 2), huyện Đạ Huoai; xây dựng đường giao thông đi từ đường 3/2 đến đường 26/3 tuyến nhánh 1, nhánh 2 huyện Đạ Tẻh; Đường ĐH 93 (Bù Khiêu - Đức Phổ), sửa chữa nâng cấp các trường học, đường 3L, 3K, K5, K10 thị trấn Cát Tiên, huyện Cát Tiên.

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính[3]

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh trong 8 tháng 2021 tăng gần 1.870 tỷ đồng so với cùng kỳ. Chi ngân sách tập trung cho công tác hỗ trợ cho người lao động bị ảnh hưởng dịch Covid-19. Bên cạnh đó thực hiện theo dự toán và tiến độ triển khai nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 31/8/2021 ước đạt 7.706,9 tỷ đồng, bằng 82,87% dự toán năm và tăng 32,05% so với cùng kỳ, trong đó thu nội địa đạt 7.745,4 tỷ đồng, tăng 31,12%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 261,4 tỷ đồng, tăng 65,83%. Trong thu nội địa, thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.738,7 tỷ đồng, tăng 86,32%; thu thuế thu nhập cá nhân 808,5 tỷ đồng, tăng 43,01%; thu tiền từ đất và nhà đạt 1.511,4 tỷ đồng, tăng 43,15%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 644,6 tỷ đồng, tăng 30,15%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 73,4 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Các khoản thu giảm là thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương giảm mạnh, đạt 53,6 tỷ đồng, chỉ bằng 11,16% so với cùng kỳ; thu thuế bảo vệ môi trường 372,9 tỷ đồng, giảm 1,62% và thu thuế sử dụng đất phí nông nghiệp đạt 11,6 tỷ đồng, giảm 0,34%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 31/8/2021 ước tính đạt 10.287,6 tỷ đồng, bằng 66,9% dự toán năm, tăng 9,61% so với cùng kỳ; trong đó chi thường xuyên đạt 4.950 tỷ đồng, giảm 2,99%; chi đầu tư phát triển 1.701,7 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ. Trong tổng chi thường xuyên, chi sự nghiệp y tế đạt gần 19 tỷ đồng, tăng 18%; chi giáo dục và đào tạo 2.250 tỷ đồng, tăng 0,99%; và công nghệ 13 tỷ đồng, giảm 5,67% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng[4]

Trong tháng các tổ chức tín dụng trên địa bàn bàn tỉnh tiếp tục triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách, quy định của Ngành, của Nhà nước và địa phương nhất là các quy định phòng, chống dịch Covid – 19. Thực hiện các giải pháp khắc phục thiệt hại do ảnh hưởng dịch Covid - 19, trích lập dự phòng rủi ro, đặc biệt nhất là đối với các khoản nợ theo cơ cấu lại thời gian trả nợ theo quy định Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN.

Cho vay hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng dịch Covid - 19: Có 425 khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ với dư nợ 18.542 tỷ đồng; 16.903 khách hàng được cho vay mới với doanh số cho vay là 38.827 tỷ đồng.

Ước đến 31/8/2021 vốn huy động đạt 73.500 tỷ đồng, tăng 19,51% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 53.300 tỷ đồng, chiếm 72,52% tổng vốn huy động, tăng 17,92%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 20.200 tỷ đồng, chiếm 27,48% tổng vốn huy động, tăng 23,93% so với cùng kỳ.

Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt đến 31/8/2021 ước đạt 127.000 tỷ đồng, tăng 19,25% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung, dài hạn 35.560 tỷ đồng, chiếm 28% tổng dư nợ, tăng 4,59%; dư nợ ngắn hạn 91.440 tỷ đồng, chiếm 72% tổng dư nợ, tăng 26,12% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/8/2021 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 801 tỷ đồng, chiếm 0,63% tổng dư nợ, tăng 31,31% so với cùng kỳ.

6. Thương mại, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Tình hình dịch Covid-19 trong tháng 8/2021 diễn biến phức tạp, khó lường và lây lan rộng trên các tỉnh, thành trong cả nước. Đối với tỉnh Lâm Đồng đã xuất hiện nhiều chùm lây nhiễm, đồng thời ảnh hưởng dịch của các tỉnh, thành trong vùng kinh tế Đông Nam bộ, Duyên hải Miền Trung đã tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh tế-xã hội của tỉnh. UBND tỉnh Lâm Đồng tiếp tục chỉ đạo quyết liệt công tác phòng chống dịch trên địa bàn; tuy nhiên do dịch bệnh kéo dài và tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản gặp nhiều khó khăn, giá cả hàng hóa tăng giảm bất thường, lưu thông hàng hóa khó khăn do nhiều địa phương thực hiện biện pháp cách ly xã hội kéo dài làm giảm tốc độ phát triển nền kinh tế địa phương. 

D ước tng mc bán l hàng hóa và doanh thu dch v tháng 8/2021 đạt 3.233,8 t đồng, bằng 73,69% so vi cùng k(nếu loại trừ yếu tố giá sẽ bằng 71,78%). Cộng dồn 8 tháng đầu năm tng mc bán l hàng hóa và doanh thu dch v ước đạt 35.621,5 t đồng, tăng 1,03% so vi cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố giá sẽ giảm 0,81%). Trong đó:

 Doanh thu bán l hàng hóa tháng 8/2021 ước đạt 3.011,4 t đồng, chiếm gần 93,12% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, giảm 9,82% so vi cùng k. Hầu hết doanh thu các nhóm hàng trong tháng 8 đều giảm từ 2,9% đến 67,12% so với cùng kỳ (doanh thu nhóm hàng lương thực, thực phẩm giảm 4,73%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 19,32%; …); riêng doanh thu nhóm hàng xăng, dầu các loại đạt 329,9 tỷ đồng, tăng 61,21% so với cùng kỳ. D ước doanh thu bán l hàng hóa 8 tháng đầu năm 2021 đạt 27.682,5 t đồng, tăng 9,4% so vi cùng k. Mt s nhóm hàng ch yếu như lương thực, thực phẩm đạt 11.980,9 tỷ đồng, tăng 11,44%; phương tiện đi lại đạt 2.417,2 tỷ đồng, tăng 46,01%; xăng, dầu các loại đạt 2.916,1 tỷ đồng, tăng 38,54%  so với cùng kỳ.

Doanh thu dch v khác (tr ăn ung, lưu trú và l hành) tháng 8/2021 ước đạt 153,8 t đồng, bằng 28,53% so với cùng kỳ. Doanh thu các ngành dịch vụ đều giảm mạnh, chỉ có ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng gần 1,5%, các ngành có tỷ trọng đóng góp cao như dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 64,6 tỷ đồng, bằng 76,63%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 41 tỷ đồng, bằng 96,22% so với cùng kỳ. D ước doanh thu dch v khác (tr ăn ung, lưu trú và l hành) 8 tháng đầu năm 2021 đạt 4.186,6 t đồng, giảm 9,09%; trong đó, dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.964,9 tỷ đồng, giảm 4,7%; dch v kinh doanh bt động sn đạt 1.135,5 t đồng, giảm 7,94% so với cùng kỳ.

          Doanh thu dch v lưu trú, ăn ung tháng 8/2021 ước đạt 68,6 t đồng, bằng 13,46% so vi cùng k. Trong đó, doanh thu dch v lưu trú đạt 0,3 t đồng, bằng 0,57%; doanh thu dch v ăn ung đạt 68,3 t đồng, bằng 14,95% so vi cùng k. Tng lượt khách ng qua đêm ti các cơ s lưu trú đạt hơn 3 nghìn lượt khách, bằng 1,74% so với cùng kỳ. D ước doanh thu dch v lưu trú, ăn ung 8 tháng đầu năm 2021 đạt 3.751,8 t đồng, bằng 70,34% so vi cùng k. Trong đó, doanh thu dch v lưu trú đạt 540,9 t đồng, bằng 74,5%; doanh thu dch v ăn ung đạt 3.210,9 t đồng, bằng 69,68% so vi cùng k. Tng lượt khách ng qua đêm ti các cơ s lưu trú đạt hơn 1.580 nghìn lượt khách, bằng 69,54% so với cùng kỳ.

6.2. Giá cả thị trường

6.2.1. Ch s giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2021 giảm 0,08% so với tháng trước, tăng 2,66% so với cùng kỳ và tăng 1,57% so với tháng 12 năm trước; bình quân 8 tháng đầu năm 2021 tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân khiến CPI tháng này giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc lưu thông hàng hóa gặp nhiều khó khăn, phức tạp, hầu hết các chợ đầu mối và chợ truyền thống tại các tỉnh tạm ngưng hoạt động, nên khâu tiêu thụ hàng hoá trên địa bàn bị giảm sút; mặt khác, một số địa phương có nguồn cung các mặt hàng như thịt lợn, thịt gia cầm, rau, củ, quả… dồi dào nhưng tiêu thụ chậm, giá cả giảm mạnh, tác động làm nhóm thực phẩm giảm; giá xăng, dầu điều chỉnh giảm ngày 27/7/2021 và ngày 11/8/2021 cũng là nguyên nhân tác động giảm lên CPI tháng này.

Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý sợ phong tỏa, giãn cách, làm tăng sức mua hàng hoá để dự trữ trong thời gian giãn cách xã hội đã tác động tăng lên một số mặt hàng nhóm lương thực; chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cũng tác động làm tăng chỉ số giá nhóm giao thông; giá gas tăng 12.000 đồng/bình12kg; thiết bị đồ dùng gia đình, văn phòng phẩm, sách giáo khoa tăng...

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng so với tháng trước có 03 nhóm tác động giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,56%; bưu chính viễn thông giảm 0,55%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,51%. Còn lại, có 08 nhóm tác động tăng từ 0,01%-0,63%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình có mức tăng cao nhất là 0,63% so với cùng kỳ.

6.2.2. Ch s giá vàng và Đô la M

Giá vàng thế giới giảm do giới đầu tư tập trung mua cổ phiếu, dồn vốn vào chứng khoán, khiến dòng tiền đổ vào thị trường vàng giảm; mặt khác, giá nhiên liệu thường biến động cùng chiều với giá kim loại quý nên khi giá dầu thô suy yếu thường kéo giá vàng đi xuống. Trên địa bàn tỉnh giá vàng 9999 bình quân dao động quanh mức 5,72 triệu đồng/chỉ, giảm 0,17% so với tháng trước so với tháng trước và tăng 0,11% so với cùng kỳ; bình quân 8 tháng đầu năm 2021 tăng 16,74% so với cùng kỳ.

Tỷ giá USD trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 23.100 đồng/USD, giảm 0,05% so với tháng trước và giảm 0,73% so với cùng kỳ.   

           

6.3. Hoạt động vận tải

                   Hoạt động vận tải hành khách trên địa bàn tiếp tục tạm dừng vận chuyển hành khách công cộng đi, đến tỉnh Lâm Đồng; hoạt động vận tải hàng hóa vẫn duy trì bình thường, đảm bảo phòng, chống dịch theo quy định của các cơ quan chức năng. Ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh nên doanh thu ngành vận tải trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong tháng 8 giảm mạnh so với tháng trước và cùng kỳ.

- Doanh thu hot động vn ti, kho bãi và dch v h tr vn ti ước tháng 8/2021 đạt hơn 191,2 t đồng, bằng 64,69% so vi cùng k; trong đó, doanh thu vn ti đường b đạt hơn 174,6 t đồng, bằng 69,41%; doanh thu kho bãi và các hot động dch v h tr vn ti đạt gần 17 t đồng, bằng 37,7% so vi cùng k. D ước doanh thu hot động vn ti, kho bãi và dch v h tr vn ti lũy kế 8 tháng đầu năm 2021 đạt hơn 2.252,3 t đồng, giảm 7,57% so vi cùng k; trong đó, doanh thu vn ti đường b đạt hơn 1.995,9 t đồng, giảm 3,06%; doanh thu kho bãi và các hot động dch v h tr vn ti đạt hơn 256,1 t đồng, bằng 67,84% so vi cùng k.

- Doanh thu vn ti hành khách tháng 8/2021 ước đạt hơn 13,5 t đồng, bằng 14,84%; khi lượng vn chuyn đạt 368,6 nghìn hành khách, bằng 20,36% và luân chuyn đạt 24,5 triu hành khách.km, bằng 10,62% so vi cùng k. D ước doanh thu vn ti hành khách 8 tháng đầu năm 2021 ước đạt hơn 685,4 t đồng, bằng 82,61%; khi lượng vn chuyn đạt 15.675,2 nghìn hành khách, bằng 81,72% và luân chuyn đạt 1.722,8 triu hành khách.km, bằng 85,52% so vi cùng k.

- Doanh thu vn ti hàng hoá tháng 8/2021 ước đạt hơn 161 t đồng, tăng 0,67%; khi lượng hàng hoá vn chuyn đạt 1.049 nghìn tn, tăng 13,84% và luân chuyn đạt 120,2 triu tn.km, bằng 85,11% so vi cùng k. D ước doanh thu vn ti hàng hoá 8 tháng đầu năm 2021 đạt hơn 1.310,6 t đồng, tăng 6,61%; khi lượng hàng hoá vn chuyn đạt 13.047 nghìn tn, tăng 51,03% và luân chuyn đạt 1.067,2 triu tn.km, tăng 1,05% so vi cùng k.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền  

Trong tháng 8 năm 2021, ngành văn hóa - thông tin tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị và công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 theo chỉ đạo của UBND tỉnh, tạm dừng hoạt động triển lãm và tổ chức các sự kiện, lễ hội, cũng như các hoạt động thể dục thể thao các giải thi đấu tỉnh, khu vực, quốc gia... do dịch bệnh Covid-19.

 

·        Một số hoạt động cụ thể diễn ra trong tháng 8 năm 2021 như sau:

          Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng triển khai 03 tài liệu tuyên truyền xe loa, 20,88 m2 pano, nội dung tuyên truyền: Cách phân biệt cảm lạnh thông thường, cảm cúm và viêm phổi do Covid-19 và cách phòng chống dịch cúm Covid-19.

Treo Pano tuyên tuyền chào mừng kỷ niệm 76 năm ngày Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945-2/9/2021): 92,16 m2; Thực hiện thay mới nội dung tuyên truyền phòng chống Covid-19 trên hệ thống Pano hộp các tuyến đường: 192 m2, tổng cộng 284,16 m2. Ngoài ra tuyên truyền kỷ niệm 76 năm ngày cách mạng tháng 8 (19/8/1945-19/8/2021); Tuyên truyền kết quả đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Tuyên truyền kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888-20/8/2021); Tuyên truyền kỷ niệm 52 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2021); Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan tới chủ quyền biển đảo; khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Tuyên truyền xây dựng Nông thôn mới... và các ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong tháng. 

Hoạt động Bảo tàng trong tháng do dịch bệnh Covi-19 nên không đón khách tham quan. Thư viện tỉnh cấp 14 thẻ bạn đọc (4 thẻ người lớn, 10 thẻ thiếu nhi).

           Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh. Qua đó góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, tạo môi trường văn hoá vui tươi, lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, khích lệ mọi người hăng hái thi đua lao động sản xuất. Đẩy mạnh công tác phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội phòng ngừa trên phạm vi rộng và trên các lĩnh vực trọng điểm.    

7.2. Hoạt động y tế 

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19, hàng hóa và nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, cũng như nông sản thực phẩm rau củ quả, trái cây, thịt cá tươi sống, các thực phẩm đóng hộp, đường sữa dầu ăn v..v  đều phong phú, đa dạng và đảm bảo cung ứng thường xuyên lâu dài cho thị trường. Giá cả các mặt hàng đều bình ổn, không tăng so với trước đây, đảm bảo đáp ứng nhu cầu mua sắm ổn định của người dân.

                   Công tác phòng bệnh từ đầu tháng đến nay:

Công tác phòng,chống sốt rét: Trong tháng không có dịch sốt rét xảy ra, không có trường hợp mắc sốt rét và mắc sốt rét ác tính và không có trường hợp tử vong do sốt rét.

  Công tác phòng, chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 45 trường hợp mắc sốt xuất huyết (giảm 65 trường hợp so cùng kỳ).

Công tác phòng chống bệnh phong: Không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh quản lý 136 bệnh nhân phong, giám sát 15 bệnh nhân phong, chăm sóc tàn phế cho 136 bệnh nhân.

Công tác phòng, chống bệnh lao: Khám phát hiện, thu dung 32 bệnh nhân lao mới. Toàn tỉnh quản lý điều trị 395 bệnh nhân lao.

         Công tác phòng,chống bệnh HIV/AIDS: Trong tháng có 04 trường hợp nhiễm HIV mới đưa vào quản lý (tích lũy: 1.741), không có trường hợp chuyển AIDS (tích lũy: 288) và không có trường hợp tử vong AIDS (tích lũy: 596).

Công tác tiêm chủng mở rộng từ đầu năm đến nay: Tiêm chủng đầy đủ cho 12.195 trẻ; tiêm viêm gan B trước 24 giờ đạt 10.033 trẻ; tiêm phòng uốn ván cho 10.403 phụ nữ có thai. Tổ chức tiêm vắc xin Sởi – Rubella cho 13.037 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván mũi 4 cho 13.227 trẻ 18 tháng tuổi. Tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi mũi 1: 12.720 trẻ; mũi 2: 12.631 trẻ và mũi 3: 12.254 trẻ.

                   7.3. Hoạt động giáo dục

Tỉnh Lâm Đồng kết thúc Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, thực hiện đúng các quy định về công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19. Kết quả xét tốt nghiệp chung cả 02 đợt như sau: 13.789/13.839 (99,64%) thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT (tăng 0,1% so với năm học trước); hệ THPT có 13.369/13.405 (99,73%); hệ GDTX có 408/416 (98,08%); thí sinh tự do có 12/18 (66,67%). Theo thống kê của Bộ Giáo dục- Đào tạo, tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2021 của tỉnh Lâm Đồng xếp hạng 11 trên toàn quốc. Kết quả đối sánh độ lệch điểm trung bình cuối năm lớp 12 so với điểm thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021, tỉnh Lâm Đồng có 7/9 môn thi xếp trong tốp 10 toàn quốc, cụ thể: môn Ngữ Văn xếp hạng 2, môn Vật lý và Tiếng Anh xếp hạng 3, môn Sinh học xếp hạng 4, môn Toán xếp hạng 5; môn Hóa xếp hạng 6, môn Lịch sử và Địa lý xếp hạng 11, môn Giáo dục Công dân xếp hạng 36.

Trên cơ sở Kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo[5] và diễn biến của dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra hết sức phức tạp, Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Lâm Đồng đang xây dựng kế hoạch trình UBND tỉnh phê duyệt để triển khai ngày tựu trường và khai giảng cho năm học mới đảm bảo an toàn và đúng kế hoạch.

7.4. An sinh xã hội

          Kết quả hỗ trợ đến các đối tượng[6] (tính đến ngày 16/8/2021) trên địa bàn tỉnh đã chi trả được 61.330 đối tượng, với tổng số tiền 91,99 tỷ đồng[7]. Cụ thể: Người có công gặp khó khăn là 2.462 người, với số tiền 3,69 tỷ đồng; đối tượng Bảo trợ xã hội là 32.108 người, với số tiền 48,16 tỷ đồng; đối tượng Hộ nghèo, hộ cận nghèo: 13.478 hộ, với số tiền 20,22 tỷ đồng; đối tượng lao động tự do (trừ người bán vé số lưu động) là 12.111 người, với số tiền 18,17 tỷ đồng; đối tượng người bán vé số lưu động là 1.171 người, với số tiền 1,75 tỷ đồng.

         7.5. Tình hình an toàn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh từ ngày 15/7/2021 đến ngày 14/8/2021 xảy ra 09 vụ (giảm 03 vụ so với cùng kỳ); 04 người chết (giảm 05 người); 10 người bị thương (tăng 05 người so với cùng kỳ). Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/8/2021 xảy ra 66 vụ; 46 người chết (giảm 01 người); 45 người bị thương (tăng 09 người so với cùng kỳ).

Trong tháng 8/2021, đăng ký mới cho 522 xe ôtô và 2.213 xe môtô. Tổng số phương tiện đến nay đang quản lý là 77.684 xe ôtô, 1.121.779 xe môtô và 103 phương tiện đường thủy. Trong tháng, lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 1.390 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt là 1,8 tỷ đồng; tước 86 giấy phép lái xe; tạm giữ 08 ô tô, 31 mô tô; trong đó có 02 trường hợp vi phạm nồng độ cồn, 01 trường hợp dương tính với chất ma túy.

7.6. Tình hình cháy, nổ và vi phạm môi trường

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy, làm 03 người bị thương, giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 2,6 tỷ đồng.

Về vi phạm môi trường: Trong tháng 8/2021, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có Quyết định “Xử phạt vi phạm hành chính” và yêu cầu khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với 03 vụ vi phạm môi trường với tổng số tiền 733 triệu đồng.

7.7. Thiệt hại do thiên tai

Từ ngày 19/7/2021 đến 18/8/2021 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 05 đợt mưa to kèm theo gió lốc[8] gây thiệt hại ước tính khoảng 3.310 triệu đồng, nhưng không gây thiệt hại về người. Tài sản và hoa màu bị thiệt hai: 01 nhà ở tốc mái; hư hại 02 ngôi nhà; lũ bồi lấp 01 căn nhà ở; 09 căn bị ngập nước và 153 ha diện tích sầu riêng, dâu tằm, mía bị ngập hư hại; cháy 12 bộ vi tính, hệ thống truyền thanh, máy in; sét đánh chết 04 con bò./.


[1] Trên cây cà phê: khô cành, quả gây hại 3.391 ha tại hầu hết các huyện; bọ xít muỗi gây hại nhẹ 1.853 ha cà phê chè tại Lạc Dương, Đà Lạt; bệnh rỉ sắt gây hại 3.338 ha tại tp Đà Lạt, Đam Rông, Lạc Dương, Lâm Hà. Trên cây điều bệnh thán thư gây hại 4.602 ha; bọ xít muỗi gây hại 3.917 ha tại 3 huyện phía Nam và Đam Rông. Trên cây chè bọ xít muỗi gây hại 2.267 ha tại tp Bảo Lộc, Lâm Hà, Bảo Lâm. Trên cây lúa  ốc bươu vàng gây hại 598 ha; đạo ôn gây hại 165 ha tại Đức Trọng, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Trên cà chua, bệnh xoăn lá virus ít biến động gây hại 254 ha tại Đức Trọng, Đơn Dương. Trên hoa cúc bệnh virus sọc thân gây hại 13 ha tại Đà Lạt.

[2] Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lâm Đồng.

[3] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng

[4] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lâm Đồng

[5]  Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, khung kế hoạch, thời gian năm học 2021-2022 các mốc cụ thể chuẩn bị cho năm học mới 2021-2022: Thời gian tựu trường sớm nhất vào ngày 1/9/2021. Riêng đối với lớp 1, tựu trường sớm nhất từ ngày 23/8/2021. Tổ chức khai giảng vào ngày 5/9/2021. Học kỳ I kết thúc trước ngày 16/1/2022, hoàn thành kế hoạch giáo dục học kỳ II trước ngày 25/5/2022 và kết thúc năm học trước ngày 31/5/2022. Xét công nhận hoàn thành chương trình tiểu học và xét công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở trước ngày 30/6/2022. Hoàn thành tuyển sinh các lớp đầu cấp học trước ngày 31/7/2022.

[6] Thực hiện Quyết định số 1900/QĐ-UBND ngày 20/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo khoản 12 Mục II Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính Phủ, ngày 21/7/2021 Sở Lao động - Thương binh và Xã Hội tỉnh Lâm Đồng đã triển khai Công văn số 714/SLDTBXH-LĐTL  về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 1900/QĐ-UBND ngày 20/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng cho các địa phương trong tỉnh tiến hành rà soát, lập danh sách hỗ trợ kịp thời đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

[7] Định mức hỗ trợ: Đối tượng là cá nhân là 1,5 triệu đồng/người/lần; đối tượng hộ nghèo, hộ     cận nghèo là 1,5 triệu đồng/hộ/lần.

 

[8] Các đợt vào đêm 03/8/2021; đêm 09/8/2021; ngày 20 và 21/7/2021; ngày 05/8/2021 và ngày 15/8/2021.

 


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt