Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 5 năm 2021

             1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

             1.1. Sản xuất nông nghiệp

             * Thu hoạch vụ đông xuân

             Tính đến ngày 10/5/2021 toàn tỉnh thu hoạch được 36.670,7 ha/40.493,7 ha, đạt 90,56% so diện tích gieo trồng, tăng 3,92% (+1.384,8 ha) so với cùng kỳ, trong đó:

         Cây lúa: thu hoạch được 6.667 ha/9.260,6 ha gieo trồng, đạt 71,99% so kế hoạch và tăng 10,24% (+619,44 ha) so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch tập trung một số huyện, trong đó: huyện Cát Tiên 4.411 ha, chiếm 47,63%; huyện Đạ Tẻh 620 ha, chiếm 6,69%; Đức Trọng 565 ha, chiếm 6,05%; Đơn Dương 538 ha, chiếm 5,8% so với tổng diện tích thu hoạch của cả tỉnh; các huyện khác đang tiến hành thu hoạch trên số diện tích lúa đã chín nhưng chưa vào giai đoạn chín rộ do thời gian gieo cấy ở mỗi vùng khác nhau. Ước năng suất bình quân chung trên diện tích đã thu hoạch của tỉnh đạt 55,95 tạ/ha, tăng 2,1% (+1,15 tạ/ha) so với cùng kỳ; năng suất lúa tăng do đủ nước, người dân đầu tư bón phân, chăm sóc nên sinh trưởng tốt, mặt khác sâu bệnh trên cây lúa vụ đông xuân năm nay được phát hiện kịp thời, do đó không bị ảnh hưởng tới năng suất.

           Diện tích ngô thu hoạch 1.697,3 ha/2.025 ha, đạt 95% so kế hoạch và giảm 4,39% (-78 ha) so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 73,28 tạ/ha, giảm 2,37% (-1,88 tạ/ha) so với cùng kỳ.

            Diện tích khoai lang thu hoạch 520,6 ha, giảm 0,75% so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 186,28 tạ/ha, giảm 0,45%.

           Diện tích rau các loại thu hoạch 20.043,6 ha/20.043,6 ha, đạt 100% so kế hoạch và tăng 2,7% (+527 ha) so với cùng kỳ, do từ đầu vụ người dân chủ động tập trung gieo trồng phục vụ nhu cầu tiêu thụ. Ước năng suất bình quân rau các loại đạt 359,98 tạ/ha, tăng 0,1% (+0,36 tạ/ha), sản lượng thu hoạch đến nay ước đạt 721.531,3 tấn, tăng 2,8% (+19.669 tấn) so với cùng kỳ, chủ yếu do tăng diện tích thu hoạch.

           Diện tích hoa các loại thu hoạch 3.200,9 ha/3.200,9 ha, đạt 100% so kế hoạch và tăng 2,97% (+92,2 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng ước đạt 1.041,1 triệu cành/bông, tăng 8,69% (+83,26 triệu cành/bông) so với cùng kỳ.

           Cây hàng năm khác thu hoạch 3.962,8 ha, tăng 5,61% (+210,5 ha) so với cùng kỳ, trong đó: chủ yếu là cỏ làm thức ăn gia súc 3.285,7 ha, chiếm 82,91%, còn lại là diện tích một số cây gia vị, ớt...

Tiến độ thu hoạch vụ đông xuân 2020-2021 đến 10/5/2021

        Đơn vị tính: ha

Chỉ tiêu

Thực hiện
 cùng kỳ năm trước

Thực hiện kỳ báo cáo

So với cùng kỳ (%)

Tổng diện tích thu hoạch

35.285,9

36.670,7

103,92

1. Diện tích thu hoạch lúa đông xuân

6.047,6

6.667,0

110,24

2. Diện tích thu hoạch một số cây khác

29.238,3

30.003,7

102,62

 - Ngô

1.775,2

1.697,3

95,61

 - Rau các loại

19.516,6

20.043,6

102,70

 - Đậu các loại

437,5

409,0

93,49

 - Hoa các loại

3.108,6

3.200,9

102,97

* Sản xuất vụ hè thu:

Tính đến ngày 10/5/2021, toàn tỉnh đã tiến hành xuống giống gieo trồng vụ Hè Thu được 23.476,7 ha, tăng 3,61% (+817,8 ha) so với cùng kỳ, trong đó:

Diện tích lúa gieo cấy là 3.413,3 ha, tăng 0,3% (+10,2 ha) so với cùng kỳ, diện tích gieo cấy chủ yếu ở huyện Cát Tiên 3.320 ha, chiếm 97,26% và một số huyện khác, chiếm 2,74%.

Diện tích ngô gieo trồng 1.790 ha, đạt 39,64% kế hoạch, tăng 2,28% (+39,9 ha) so với cùng kỳ, cây ngô được xác định là cây trồng chính trong vụ, do vậy bà con nông dân tranh thủ gieo trồng, tận dụng diện tích thu hoạch vụ đông xuân có nước tưới để gieo trồng.

Tiến độ gieo trồng vụ hè thu 2021 đến 10/5/2021

        Đơn vị tính: ha

Chỉ tiêu

Thực hiện
 cùng kỳ năm trước

Thực hiện
 kỳ báo cáo

So với cùng kỳ (%)

 
 
 

Tổng diện tích gieo trồng

22.659,0

23.476,7

103,61

 

1. Diện tích gieo trồng lúa hè thu

3.403,1

3.413,3

100,30

 

2. Diện tích gieo trồng một số cây khác

19.255,9

20.063,5

104,19

 

 - Ngô

1.750,1

1.790,0

102,28

 

 - Khoai lang

537,5

563,0

104,75

 

 - Rau các loại

11.570,4

12.125,7

104,80

 

 - Đậu các loại

380,5

396,5

104,21

 

 - Hoa các loại

1.918,1

1.987,2

103,60

 

Diện tích khoai lang gieo trồng 563 ha, tăng 4,75% (+25,5 ha) so với cùng kỳ.

Diện tích rau các loại gieo trồng 12.125,7 ha, đạt 47,1% kế hoạch, tăng 4,8% (+555,4 ha) so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở vùng chuyên canh rau như: Đơn Dương, Đà Lạt, Lạc Dương, Đức Trọng, các địa phương còn lại diện tích gieo trồng không đáng kể.

Diện tích đậu các loại gieo trồng 396,5 ha, tăng 4,21% (+16 ha).

Diện tích hoa các loại gieo trồng 1.987,2 ha, đạt 64,5% kế hoạch, tăng 3,6% (+69,1 ha) so với cùng kỳ.

* Tình hình chăn nuôi

Tổng đàn trâu hiện có 13.121 con, giảm 5,15% (-705 con) so với cùng kỳ; nguyên nhân do hiệu quả chăn nuôi thấp, cơ giới hóa nông nghiệp được đẩy mạnh khiến nhu cầu sử dụng trâu để làm sức kéo giảm. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 423,2 tấn, giảm 18,63% (-96,9 tấn) so với cùng kỳ.

Tổng đàn bò đạt 96.936 con, giảm 6,73% (-6.992 con), sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 2.645 tấn, giảm 8,96 (-260,4 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, đàn bò sữa ước đạt 24.447 con, tăng 10,24% (+2.271 con) so với cùng kỳ; sản lượng sữa bò ước đạt 41.128,8 tấn, tăng 10,45% (+3.892,2 tấn) so với cùng kỳ.

- Tổng đàn lợn 388.220 con, tăng 3,21% (+12.091 con) so với cùng kỳ; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 30.811,1 tấn, giảm 1,4% (-435,9 tấn) so với cùng kỳ.

- Tổng đàn gia cầm ước đạt 10.625 nghìn con, tăng 3,56% (+365 nghìn con). Trong đó, tổng đàn gà 5.201,1 nghìn con, tăng 6,28% (+308 nghìn con) so với cùng kỳ; sản lượng trứng gà ước tính 145.035,7 nghìn quả, tăng 4,1% (+5.712,3 nghìn quả) so với cùng kỳ.

1.2. Lâm nghiệp

Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 5.462,5 m3 (trong đó: gỗ lớn 2.812 m3, gỗ nhỏ 2.650,5 m3). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021 đạt 19.916,5 m3,  tăng 0,03% (+6,74 m3) so với cùng kỳ, sản lượng khai thác phần lớn là khai thác rừng trồng.

Tổng diện tích rừng đã giao khoán quản lý bảo vệ được 438.948,54 ha, giảm 0,12% (-513,16 ha) so với cùng kỳ, trong đó: bằng nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng 382.035,89 ha (với 15.982 hộ và 34 tập thể nhận khoán); nguồn ngân sách tỉnh 56.912,65 ha với 1.336 hộ và 10 tập thể nhận khoán.

Công tác phòng chống cháy rừng: Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy (02 vụ cháy rừng/1,83 ha và 01 vụ cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán rừng/0,9 ha). Các vụ cháy đã được các đơn vị chủ rừng phối hợp với Hạt Kiểm lâm sở tại và các hộ nhận khoán…phát hiện và chữa cháy kịp thời.

Tình hình vi phạm lâm luật: Trong tháng đã phát hiện 40 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, giảm 54,55% (-48 vụ) so với cùng kỳ; trong đó phá rừng 21 vụ, tăng 10 vụ; diện tích thiệt hại do phá rừng 3,36 ha, giảm 4,96 ha so với cùng kỳ. Các cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý 36 vụ vi phạm, trong đó: Xử lý hành chính 36 vụ, xử lý hình sự 4 vụ; tịch thu 43,34 m3 gỗ tròn, xẻ các loại; thu nộp ngân sách  450,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021 (từ ngày11/12/2020 đến 10/5/2021): Tổng số vụ vi phạm trong 5 tháng đầu năm là 232 vụ, giảm 21,89% (-65 vụ) so với cùng kỳ; diện tích thiệt hại do phá rừng 15,52 ha, lâm sản thiệt hại là 1.244,57 m3. Tổng số vụ đã xử lý 195 vụ, trong đó xử lý hành chính 183 vụ; xử lý hình sự 12 vụ; tịch thu 427,56 m3 gỗ tròn, xẻ các loại; thu nộp ngân sách 2,29 tỷ đồng.

Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 326 dự án/311 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê đất để đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.800 ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần). Tổng số dự án đã thu hồi 201 dự án/33.768 ha (gồm 165 dự án thu hồi toàn bộ/29.529 ha và 36 dự án thu hồi một phần/4.239 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý, bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn, công ty tự nguyện trả lại dự án.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Sản xuất công nghiệp ước tháng 5 năm 2021.

Dự tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,93% so với cùng kỳ. Trong đó:

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng: giảm 23,05% so với cùng kỳ, chủ yếu ngành khai khoáng đá cát sỏi, cao lanh (giảm 23,24%).

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Là ngành chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19 song nhờ các biện pháp giảm thiểu tác động của dịch, thúc đẩy sản xuất nên tháng 5 năm 2021 dự ước chỉ số sản xuất tăng 0,83% so với cùng kỳ.

Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng mạnh như: ngành sản xuất hóa dược và dược liệu tăng 109,46% do cùng kỳ năm trước Công ty Cổ phần Dược Lâm Đồng sản xuất dược phẩm mới là thuốc chứa pênixilin dạng lỏng; ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 91,9%; ngành dệt tăng 38,63%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 29,72%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 27,53%.

Một số ngành có chỉ số giảm như: ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 31,17%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,48%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 9,29%; ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa phân vào đâu giảm 7,55%. Một số công ty sản xuất cầm chừng do chưa có kế hoạch sản xuất trong năm 2021, hàng tồn kho còn nhiều, giá nguyên vật liệu tăng cao, không có hợp đồng sản xuất mới...

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí: Tiếp tục duy trì công suất chạy máy phát điện cung cấp nguồn năng lượng điện cho hệ thống điện quốc gia; đồng thời đảm bảo yêu cầu an toàn cho hệ thống hồ, đập thủy điện, duy trì dòng chảy và sản lượng điện sản xuất theo kế hoạch điều động của Trung tâm điều động điện quốc gia, trong tháng 5 năm 2021 dự ước chỉ số sản xuất tăng 4,87% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: giảm 0,75%; trong đó khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,02% và hoạt động thu gom rác thải tăng 0,33% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 so với cùng kỳ (%)

 

 

 

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Toàn ngành công nghiệp

105,44

109,19

105,82

101,93

  1. Khai khoáng

97,48

143,49

97,18

76,95

  1. Chế biến, chế tạo

105,42

106,70

107,97

100,83

  1. Sản xuất, phân phối điện ...

105,81

108,25

104,01

104,87

  1. Cung cấp nước; HĐ quản lý và xử lý rác thải, nước thải

107,43

127,72

107,26

99,25

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn:

Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp khai khoáng: Sản phẩm đá xây dựng đạt 208,5 ngàn m3, tăng 7,53%; cao lanh đạt 5,6 ngàn tấn, giảm 56,35% so với cùng kỳ.

Các sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Sản phẩm sợi len lông cừu đạt 160 tấn, tăng 80,38%; sản phẩm bê tông trộn sẵn đạt 54,1 ngàn m3, tăng 18,88%; trà đạt 1.483 tấn, giảm 51,25%; hạt điều khô đạt 89 tấn, giảm 34,08%; quả và hạt ướp lạnh đạt 782 tấn, giảm 33,84%; sản phẩm phân bón NPK đạt 7,4 ngàn tấn, giảm 31,15%; vải lụa tơ tằm đạt 136 ngàn m2, giảm 17,09%; sản phẩm bia đóng lon đạt 7,4 triệu lít, giảm 4,65%; sản phẩm ôxit nhôm đạt 61 ngàn tấn, giảm 0,39% so với cùng kỳ.

Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh đạt 528 triệu kwh, tăng 2,99%; trong đó, sản phẩm điện sản xuất phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng đạt 344 triệu kwh, tăng 2,98%. sản phẩm nước sạch đạt 2,7 triệu m3, giảm 1,02% so với cùng kỳ.

2.2. Tình hình sản xuất công nghiệp dự ước 5 tháng đầu năm 2021:

Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng 5 tháng đầu năm 2021 tăng 10,12% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 3,25%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,57%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,95%; ngành cung cấp nước tăng 2,99%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ  (%)

 

 

 

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Toàn ngành công nghiệp

107,23

107,88

103,02

110,12

  1. Khai khoáng

98,73

119,93

109,94

103,25

  1. Chế biến, chế tạo

106,63

109,68

103,77

109,57

  1. Sản xuất, phân phối điện ...

108,54

104,59

101,07

111,95

  1. Cung cấp nước; HĐ quản lý và xử lý rác thải, nước thải

108,15

112,05

106,58

102,99

Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 3,25% so với cùng kỳ, trong đó: ngành khai khoáng khác như khai thác cát, sỏi cao lanh… tăng 3,47%.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,57% so với cùng kỳ; chủ yếu tăng ở các ngành: ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 36,37%; ngành sản xuất đồ uống tăng 35,12%; dệt tăng 33,09%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 24,01%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,74%; ngành sản xuất trang phục tăng 10,54%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,36%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,94%; ngành in, sao chép bản ghi các loại tăng 5,32%; ngành sản xuất kim loại tăng 3,93%.

Riêng một số ngành giảm như: Sản xuất ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 27,03%; ngành sản xuất thuốc hóa dược giảm 17,62%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 8,75%. chế biến gỗ giảm 6,92%; chế biến thực phẩm giảm 5,55%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 2,75%.     

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,95% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải  tăng 2,99% so với cùng kỳ; trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 2,96% và hoạt động thu gom rác thải tăng 3,12% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn: Sản phẩm ngành công nghiệp khai khoáng: Cao lanh đạt 61,5 ngàn tấn, tăng 13,98%; đá xây dựng đạt 831,6 ngàn m3, giảm 2,06%. Một số sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản phẩm bia đạt 42,2 triệu lít, tăng 64,32%; bê tông trộn sẵn đạt 214,7 ngàn tấn, tăng 21,84%; oxit nhôm đạt 286,2 ngàn tấn, tăng 3,93%; rau ướp lạnh đạt 4.485 tấn, tăng 3,54%; phân bón NPK đạt 35 ngàn tấn, giảm 2,7%; sản phẩm hạt điều khô đạt 426 tấn, giảm 1,57%. Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh đạt 2.636 triệu kwh, tăng 22,92%; trong đó, sản phẩm điện sản xuất phân bổ cho tỉnh Lâm Đồng đạt 1.633 triệu kwh, tăng 20,35%. Sản phẩm nước uống được đạt 13,9 triệu m3, tăng 2,96% so với cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 5 tháng năm 2021: Chỉ số lao động của doanh nghiệp công nghiệp giảm 2,64% so với cùng kỳ. Ngành khai khoáng giảm 3,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,1% và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải giảm 1,48% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình kinh tế: Chỉ số lao động của doanh nghiệp công nghiệp ở loại hình doanh nghiệp nhà nước giảm 2,69%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 4,75%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,29% so cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp và thu hút đầu tư[1]

Đăng ký kinh doanh: Trong tháng 5 năm 2021 có 63 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 1.331 tỷ đồng. So với cùng kỳ, số lượng tăng 23,5% và tăng 162,2% về vốn. Có 05 doanh nghiệp giải thể; 09 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động kinh doanh, giảm 57,1% và có 12 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Trong 5 tháng đầu năm 2021, có 551 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 7.474,6 tỷ đồng. So với cùng kỳ, số lượng tăng 43,1% và tăng 175,2% về vốn. Có 40 doanh nghiệp giải thể, giảm 74,4%; 243 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động kinh doanh, giảm 2%; có 190 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 86,3% so với cùng kỳ.

Tình hình cấp Quyết định chứng nhận đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Trong 5 tháng đầu năm 2021, toàn tỉnh có 08 dự án (trong đó, 01 dự án vốn FDI) được cấp Quyết định chủ trương đầu tư, vốn đăng ký 647,1 tỷ đồng, quy mô diện tích 84,9 ha. So với cùng kỳ, giảm 07 dự án (giảm 46,7%).

Tình hình thu hồi, chấm dứt hoạt động của các dự án đầu tư: Trong 5 tháng đầu năm 2021, có 35 dự án ngoài khu công nghiệp bị thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư, với vốn đăng ký đầu tư 5.367,9 tỷ đồng.

4. Đầu tư

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị của Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2021. Đồng thời chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương chủ động triển khai sớm kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội toàn tỉnh cũng như từng địa phương; trong đó tập trung đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị hiệu quả kinh doanh của các thành phần kinh tế. Tháng 5 năm 2021, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc giải ngân vốn đầu tư công, tập trung giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020 còn lại; phân bổ kế hoạch, nhập dự toán chi cho các dự án được bố trí kế hoạch.

Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2021 ước đạt 340,4 tỷ đồng, tăng 38,15% so với cùng kỳ. Trong đó, nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 308,8 tỷ đồng, tăng 36,37% so với cùng kỳ; trong nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 113,6 tỷ đồng, vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 117 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 51,1 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 27 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 31,6 tỷ đồng, tăng 58,35% so với cùng kỳ. Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2021 đạt 941,4 tỷ đồng, tăng 17,89%; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 857,5 tỷ đồng, tăng 18,95% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 439 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 187,2 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 184,7 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 46,5 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 83,9 tỷ đồng, tăng 8,02% so với cùng kỳ.

Trong tháng 5/2021, trên địa bàn tỉnh có 395 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: sửa chữa đường cao tốc sân bay Liên khương - Chân đèo Prenn, huyện Đức Trọng; đường cứu hộ cứu nạn từ QL27 vào Trung tâm xã Rô Men, huyện Đam Rông; đường liên xã từ thôn 1 xã Đạ Oai đi Đạ Tồn, đường vành đai thị trấn Madaguoi, huyện Đạ Huoai; nâng cấp đường Đankia và cầu Phước Thành - phường 7, cải tạo nâng cấp Trung tâm hành chính thành phố Đà Lạt, đầu tư xây dựng đưng giao thông nối từ đường Lữ Gia xuống thượng lưu hồ Xuân Hương và xây dựng kè chắn xung quanh hồ Lắng số 1 và dọc theo suối (đoạn từ hồ lắng số 1 đến điểm đường Lữ Gia mở rộng), thành phố Đà Lạt; nâng cấp đường Tiên Hoàng - Đồng Nai Thượng, đường nội bộ thị trấn Cát Tiên, đường 3L,3K, K5,K10 thị trấn Cát Tiên, huyện Cát Tiên.

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính[2]

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn dự ước đến ngày 31/5/2021 đạt 5.027,2 tỷ đồng, tăng 34,72% so với cùng kỳ, trong đó: thuế, phí, lệ phí đạt 2.944,2 tỷ đồng, tăng 36,59% so với cùng kỳ. Nguồn thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 416,1 tỷ, tăng 33,72%; doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 43,8 tỷ,giảm 6,94%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 60,7 tỷ đồng, tăng 20,43%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 1.147,2 tỷ đồng, tăng 31,82% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 1.046,7 tỷ đồng, tăng 48,06% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 162 tỷ đồng, tăng 60,37% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương ước đến ngày 31/5/2021 đạt 8.390 tỷ đồng, giảm 11,02% so với cùng kỳ. Trong đó, thu ngân sách được hưởng theo phân cấp đạt 4.641,6 tỷ đồng, tăng 31,24%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 2.930,3 tỷ đồng, tăng 25,48% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương đến ngày 31/5/2021 ước đạt 6.910,9 tỷ đồng, tăng 12,05% so với cùng kỳ. Trong tổng chi thường xuyên, chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo đạt 1.300 tỷ đồng, giảm 2,6%; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 10 tỷ đồng, tăng 6,69% so với cùng kỳ.

5.2. Hoạt động tín dụng[3]

Ước đến 31/5/2021 vốn huy động đạt 71.000 tỷ đồng, tăng 26,79% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 50.000 tỷ đồng, chiếm 70,42% tổng vốn huy động, tăng 18,34%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 21.000 tỷ đồng, chiếm 29,58% tổng vốn huy động, tăng 52,78% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/5/2021 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 123.000 tỷ đồng, tăng 19,65% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung, dài hạn 36.500 tỷ đồng, chiếm 29,67% tổng dư nợ, tăng 7,35%; dư nợ ngắn hạn 86.500 tỷ đồng, chiếm 70,33% tổng dư nợ, tăng 25,73% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/5/2021 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 550 tỷ đồng, chiếm 0,45% tổng dư nợ, giảm 8,33% so với cùng kỳ.

6. Thương mại, giá cả và vận tải

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Thời gian cuối tháng 4 và đầu tháng 5 đã bùng phát đợt dịch Covid-19 lần thứ 4; do đó số lượng khách đến tham quan, nghỉ dưỡng tại tỉnh Lâm Đồng trong tháng dự tính sẽ giảm sâu, điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các lĩnh vực khác.

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 5/2021 đạt 4.297,7 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ; cộng dồn 5 tháng đầu năm ước đạt 24.990,1 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ.

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5/2021 ước đạt 3.199,6 tỷ đồng, chiếm 74,45% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, tăng 12,04% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng có mức tăng cao như lương thực, thực phẩm doanh thu ước đạt 1.335,8 tỷ đồng, tăng 3,05%; phương tiện đi lại đạt 326,9 tỷ đồng, tăng 77,74%; xăng dầu các loại đạt 304,4 tỷ đồng, tăng 52,84% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2021 đạt 18.205,5 tỷ đồng, tăng 17,24% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 7.633 tỷ đồng, tăng 18,83%; phương tiện đi lại đạt 1.704,3 tỷ đồng, tăng 62,05% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 5/2021 ước đạt 612,9 tỷ đồng, tăng 8,1%. Các ngành có tỷ trọng đóng góp cao như dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 322,7 tỷ đồng, tăng 5,37%; dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 132,8 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) 5 tháng đầu năm 2021 đạt 3.359,7 tỷ đồng, tăng 17,71%; trong đó, dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.682,1 tỷ đồng, tăng 34,58%; dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 853 tỷ đồng, tăng 8,25%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 5/2021 ước đạt 485,2 tỷ đồng, giảm 7,96% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 69,1 tỷ đồng, tăng 0,18%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 416,1 tỷ đồng, giảm 9,19% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt hơn 128,8 nghìn lượt khách, bằng 63,65% so với cùng kỳ (khách trong nước đạt 127,3 nghìn lượt khách, bằng 63,49%; khách quốc tế đạt gần 1,5 nghìn lượt khách, giảm 18,66% so với cùng kỳ). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 5 tháng đầu năm 2021 đạt 3.424,3 tỷ đồng, tăng 7,46% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 534,2 tỷ đồng, tăng 24,01%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 2.890,1 tỷ đồng, tăng 4,87% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt hơn 1.547,5 nghìn lượt khách, tăng 14,99% so với cùng kỳ (khách trong nước đạt 1.533,6  nghìn lượt khách, tăng 21,08%; khách quốc tế đạt 13,9 nghìn lượt khách, bằng 17,58% so với cùng kỳ).

6.2. Giá cả thị trường

6.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2021 tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 3,07% so với cùng kỳ, tăng 0,98% so với tháng 12 năm trước; bình quân 5 tháng đầu năm 2021 tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân CPI tháng này tăng do: Cuối tháng 4, đầu tháng 5 rơi vào kỳ nghỉ Lễ, lượng du khách đến tỉnh Lâm Đồng tham quan, nghỉ dưỡng đông, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng; giá xăng, dầu điều chỉnh tăng ngày 27/4 và ngày 12/5/2021 tác động đến chỉ số giá nhóm giao thông; dầu hỏa, điện, nước, vật liệu xây dựng tăng; đồ uống và một số mặt hàng thiết yếu khác tại các siêu thị, cửa hàng hết chương trình khuyến mãi giá tăng trở lại. Ngược lại, có những yếu tố khác tác động giảm chỉ số giá chung như: Giá gas giảm 19.000 đồng/bình 12kg; giá hoa giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19 dẫn đến mức tiêu thụ tại chợ đầu mối giảm; …

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng so với tháng trước có 06 nhóm tác động tăng; trong đó có 02 nhóm có mức tăng tương đối: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,09%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%. Bên cạnh đó, có 03 nhóm tác động giảm; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,19 %; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,72. Riêng nhóm giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế ổn định so với tháng trước.

6.2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng thế giới tăng nhờ chỉ số đồng USD và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ sụt giảm; nhiều nhà đầu tư tập trung vốn vào thị trường vàng để tìm kiếm cơ hội sinh lời. Vàng trong nước tăng theo đà tăng của vàng thế giới, bình quân giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 5,596 đồng/chỉ, tăng 1,07% so với tháng trước và tăng 15,16% so với cùng kỳ; bình quân 5 tháng đầu năm 2021 tăng 20,85% so với cùng kỳ.

Đồng USD đi xuống do các nhà đầu tư lo lắng về nguy cơ lạm phát. Tỷ giá USD trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 23.115 đồng/USD, giảm 0,07% so với tháng trước và giảm 1,84% so với cùng kỳ. 

6.3. Hoạt động vận tải

Do ảnh hưởng của bùng phát dịch Covid-19 đợt 4 nên hoạt động vận tải hành khách trên địa bàn dự ước trong tháng 5 giảm mạnh; vận tải hàng hóa cũng chịu ảnh hưởng do nhiều cung đường đến các vùng dịch ngưng vận chuyển, tuy nhiên doanh thu của ngành vận tải hàng hóa vẫn duy trì ở mức tăng khá cao. Kết quả đạt được như sau:

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 5/2021 đạt hơn 283,6 tỷ đồng, giảm 1,71% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt hơn 251,9 tỷ đồng, tăng 6%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt gần 31,7 tỷ đồng, bằng 62,28% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải lũy kế 5 tháng đầu năm 2021 đạt hơn 1.619,6 tỷ đồng, tăng 9,85% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt hơn 1.429,8 tỷ đồng, tăng 14,79%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt hơn 189,5 tỷ đồng, bằng 82,95% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 5/2021 ước đạt hơn 83,1 tỷ đồng, giảm 12,07%; khối lượng vận chuyển đạt 1.703,1 nghìn hành khách, giảm 13,28% và luân chuyển đạt 197,4 triệu hành khách.km, giảm 16,12% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hành khách 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt hơn 596,4 tỷ đồng, tăng 20,96%; khối lượng vận chuyển đạt 13.303,2 nghìn hành khách, tăng 17,84% và luân chuyển đạt 1.535,3 triệu hành khách.km, tăng 27,85% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hàng hoá tháng 5/2021 ước đạt hơn 168,7 tỷ đồng, tăng 17,95%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1.609 nghìn tấn, tăng 51,20% và luân chuyển đạt 136,4 triệu tấn.km, tăng 8,06% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải hàng hoá 5 tháng đầu năm 2021 đạt hơn 833,5 tỷ đồng, tăng 10,75%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 8.345 nghìn tấn, tăng 42,79% và luân chuyển đạt 716,2 triệu tấn.km, tăng 11,56% so với cùng kỳ.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền    

Trong tháng, công tác thông tin và tuyên truyền trên địa bàn tỉnh đã tập trung lực lượng từ tỉnh đến cơ sở, tiếp tục tổ chức các hoạt động phục vụ các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền phòng chống dịch Covid-19 và ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân hướng về ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các ngành chức năng đã đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, cổ động trực quan đã treo: 4 pano tấm lớn, 1.140 pano hộp và 260 phướn tuyên truyền trên các tuyến đường trung tâm thành phố Đà Lạt, đường đèo Prenn và tuyến đường cao tốc Liên Khương - Prenn; 3 cụm pano mô hình 3D tại Rạp 3/4 Đà Lạt, Quảng trường Lâm Viên và Trạm thu phí Định An đường cao tốc (H.Đức Trọng). Đã phát hành 18.460 tờ gấp tuyên truyền; thực hiện 15 buổi tuyên truyền lưu động, 15 buổi triển lãm ảnh, 15 buổi xe loa,… tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. 

Toàn tỉnh đã thực hiện 1.446 pano với nhiều kích thước, 195 pano cụm, 1.994 băng rôn, 8.236 phướn, 49.226 cờ các loại,… tuyên truyền bầu cử; tuyên truyền trên 290 đợt xe loa lưu động, thông tin về cuộc bầu cử; đồng thời thường xuyên tuyên truyền về bầu cử thông qua hệ thống loa truyền thanh không dây đến tận các thôn, buôn, tổ dân phố, cụm dân cư. Với nhiều hình thức phù hợp, nội dung phong phú, đa dạng, công tác tuyên truyền cổ động trực quan đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. 

Bảo tàng Lâm Đồng mở cửa thường xuyên vào tất cả các ngày trong tuần phục vụ khách đến tham quan, nghiên cứu học tập tại Bảo tàng Lâm Đồng, gồm nhà trưng bày Bảo Tàng (đón 3.107 lượt khách), Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt (đón 1.286 lượt khách) và Di tích khảo cổ Cát Tiên (đón 899 lượt khách), tổng số 03 đơn vị đã đón được 5.292  lượt khách.

Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp tổ chức cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 33 - năm 2021 “Non sông liền một dải” (các chặng đua trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng); Giải bóng đá U13 tỉnh Lâm Đồng năm 2021. Tổ chức giải cờ tướng các câu lạc bộ tỉnh, giải thể dục thể hình và nữ Fitness các câu lạc bộ tỉnh năm 2021.

Các giải thi đấu thể dục thể thao toàn quốc tạm hoãn vì phòng, chống dịch Covid-19. Các hoạt động thể dục thể thao tháng 5/2021 của tỉnh chủ yếu triển khai công tác tập luyện theo kế hoạch để tham gia các giải thi đấu trong thời gian tới.

7.2. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng tại Công văn số 2840/UBND-VX1 ngày 08/5/2021 về việc tiếp tục tăng cường thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cho các đơn vị trong toàn ngành: Từ ngày 09/5/2021 trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, sinh viên, học viên tại các cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn được nghỉ học.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, UBND tỉnh đã ban hành văn bản số 3104/UBND-VX1 V/v tiếp tục hoàn thành kế hoạch thi học kỳ II năm học 2020 -2021.

Ngày 16 tháng 5 năm 2021, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng đã có Công văn số 821/TTr-SGDĐT gửi UBND tỉnh Lâm Đồng về việc xin chủ trương cho học sinh phổ thông, học viên, sinh viên tiếp tục thi học kỳ II năm học 2020-2021, trong đó đề xuất triển khai các nội dung cụ thể:

(1). Học sinh, học viên, sinh viên đã thi xong học kỳ II năm học 2020-2021 và trẻ em mầm non tiếp tục được nghỉ học để phòng chống dịch.

(2). Học sinh, học viên, sinh viên các khối/lớp chưa thi xong học kỳ II năm học 2020-2021 được tổ chức thi vào các ngày 18,19,20/5/2021(hoàn thành chậm nhất là 17h00 ngày 20/5/2021). Sau ngày 20/5/2021 học sinh, học viên, sinh viên tiếp tục nghỉ học để phòng chống dịch.

(3). Riêng học sinh lớp 12: Các đơn vị tổ chức, hướng dẫn học sinh ôn thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trực tuyến. Những đơn vị thuộc các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, không có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật để học sinh ôn thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trực tuyến thì có thể tổ chức ôn thi bằng hình thức tập trung và phải đảm bảo các yêu cầu: Vệ sinh khuôn viên trường, lớp học, bàn ghế, thiết bị, đồ dùng dạy học bằng nước lau sàn nhà, khử khuẩn để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19 trước khi học sinh đến trường để ôn tập. Không tập trung quá 30 học sinh/1 lớp, bố trí học sinh ngồi khoảng cách an toàn, học sinh và giáo viên phải đeo khẩu trang. Thực hiện nghiêm túc “Thông điệp 5K” và các văn bản chỉ đạo về phòng chống dịch Covid-19 của Chính phủ, Bộ GDĐT, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và ngành Y tế.

Hiện toàn tỉnh Lâm Đồng có 704 trường, từ mầm non đến THPT, với gần 331 ngàn học sinh. Năm học 2020-2021, 12/12 huyện, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, chuẩn phổ cập THCS mức độ 2, các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, thi khoa học kỹ thuật quốc gia, hội khỏe phù đổng đều đạt giải cao… Mặc dù ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng toàn ngành giáo dục vẫn triển khai các nội dung chương trình học, nhiệm vụ công tác trọng tâm đảm bảo đúng kế hoạch.

7.3. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm.       

Công tác phòng bệnh từ đầu tháng đến nay:

Công tác phòng chống sốt rét: Không có dịch sốt rét xảy ra, không có trường hợp mắc và tử vong do sốt rét.

Công tác phòng chống sốt xuất huyết: Có 43 trường hợp mắc, không có trường hợp tử vong.

Công tác phòng chống bệnh phong: Phát hiện 01 bệnh nhân phong mới; toàn tỉnh quản lý 136 bệnh nhân phong, trong đó: chăm sóc tàn phế cho 136 bệnh nhân.

Công tác phòng chống bệnh lao: Khám phát hiện 187 bệnh nhân lao mới; toàn tỉnh quản lý điều trị 360 bệnh nhân lao.

Công tác phòng chống bệnh HIV/AIDS: Trong tháng có 16 trường hợp nhiễm HIV mới vào quản lý (tích luỹ: 1.707 trường hợp); trường hợp chuyển AIDS tích luỹ 288 trường hợp và không có trường hợp tử vong do AIDS (tích luỹ: 595 trường hợp).

Tiêm chủng mở rộng: Từ đầu năm đến nay đã tiêm chủng đầy đủ cho 6.527 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B trước 24 giờ cho 5.768 trẻ sơ sinh. Tiêm phòng uốn ván 2+ cho 5.502 phụ nữ có thai. Tổ chức tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho 6.692 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DTC) mũi 4 cho 6.623 trẻ 18 tháng tuổi. Tiêm vắc xin Viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi; mũi 1 cho 7.288 trẻ; mũi 2 cho 7.171 trẻ và mũi 3 cho 6.174 trẻ.

7.4. Tình hình an toàn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh từ ngày 15/4/2021 đến ngày 14/5/2021 xảy ra 04 vụ, giảm 02 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 01 người, giảm 05 người; số người bị thương là 03 người, giảm 01 người so với cùng kỳ. Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/5/2021 xảy ra 47 vụ, tăng 14 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 33 người, tăng 10 người; số người bị thương là 25 người, tăng 02 người so với cùng kỳ.

Đăng ký mới cho 885 xe ôtô và 5.073 xe môtô. Tổng số phương tiện đến nay đang quản lý là 75.558 xe ôtô, 1.113.519 xe môtô và 103 phương tiện đường thủy. Trong tháng, lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 5.310 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt là 3,8 tỷ đồng; tước 233 giấy phép lái xe; tạm giữ 24 ô tô, 399 mô tô; trong đó có 119 trường hợp vi phạm nồng độ cồn, 01 trường hợp dương tính với chất ma túy.

7.5. Tình hình cháy, nổ và vi phạm môi trường

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy, làm 03 người bị thương, giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 2,6 tỷ đồng. Về vi phạm môi trường cơ quan chức năng chưa phát hiện vụ nào./.



[1] Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lâm Đồng.

[2] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng

[3] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lâm Đồng

 

 

 

 

 


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt