Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ước tháng 3, 03 tháng đầu năm năm 2021

           Năm 2021 là năm tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI. Dự báo tình hình thế giới, trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động tiêu của của đại dịch Covid-19 còn có thể kéo dài, tạo nhiều hệ lụy cho đời sống xã hội; trong đó các hoạt động xuất nhập khẩu nông sản, thiết bị, vật tư nông nghiệp bị ảnh hưởng lớn, giá nông sản tiếp tục có biến động khó dự báo, từ đó đòi hỏi phải cơ cấu lại các hoạt động sản xuất để chủ động ứng phó với các yếu tố rủi ro về thị trường tiêu thụ. Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, đặc biệt là với Hiệp định EVFTA tạo cơ hội cho tiêu thụ các sản phẩm của ngành, tại thị trường EU, nhưng cũng là thách thức cho nền kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.

       Quý I năm 2021, kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì tăng trưởng so với cùng kỳ nhưng thấp nhất trong các năm qua do ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế trong nước và thế giới; tuy các chương trình mục tiêu năm 2021 đã có bước cải thiện đáng kể, nền kinh tế đang hòa nhập sâu rộng trên thị trường quốc tế và khu vực; kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên. Nhưng nền kinh tế vẫn còn những tồn tại, thách thức; các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh Covid -19; đời sống của nhân dân vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn. Các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt, tập trung tổ chức triển khai bằng nhiều biện pháp, giải pháp tích cực, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế -  xã hội trong năm đã đề ra.

         1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

         1.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong những tháng đầu năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Dịch tả lợn châu Phi đã cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên dịch Covid-19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến tiêu thụ nông sản. Trước những khó khăn đó, ngành Nông nghiệp đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, chăn nuôi phát triển tốt, cung ứng đủ sản phẩm, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

* Gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân 2020 - 2021:

Tính từ đầu vụ đến ngày 10/3/2021 toàn tỉnh gieo trồng, xuống giống được 38.788,2 ha cây hàng năm các loại, tăng 2,24% (+848,7 ha) so với cùng kỳ, cụ thể:

Lúa gieo cấy 8.786 ha, chiếm 22,65% tổng diện tích gieo trồng trong vụ, đạt 101,6% kế hoạch, giảm 0,26% (-23 ha) so với cùng kỳ do hiệu quả kinh tế không cao nên một số địa phương chuyển sang trồng dâu tằm, rau màu. Diện tích gieo cấy trong vụ tập trung chủ yếu ở huyện Cát Tiên 3.983 ha, chiếm 45,33%.

Cây ngô gieo trồng 1.895,5 ha, giảm 6,94% (-141,3 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu ở Đạ Tẻh 930 ha, chiếm 49,06%; Cát Tiên 392 ha, chiếm 20,68%.

Diện tích rau các loại gieo trồng 20.885,1 ha, đạt 89,12% kế hoạch, tăng 3,88% (+780,1 ha) so với cùng kỳ, do việc thu hoạch rau ở vụ trước kịp thời, công tác chuẩn bị đất gieo trồng chủ động.

Diện tích hoa các loại gieo trồng 3.041,7 ha, đạt 86,34% kế hoạch, tăng 4,67% (+135,7 ha) so với cùng kỳ.

Tiến độ gieo trồng vụ đông xuân đến ngày 10/3/2021

 

Thực hiện

năm trước

Thực hiện

kỳ báo cáo

% so sánh cùng kỳ

Tổng diện tích gieo trồng

37.939,5

38.788,2

102,24

1. DT gieo trồng lúa Đông Xuân

8.809,0

8.786,0

99,74

2. DTGT một số cây khác

29.130,5

30.002,2

102,99

- Ngô

2.036,8

1.895,5

93,06

- Rau các loại

20.105,0

20.885,1

103,88

- Hoa các loại

2.906,0

3.041,7

104,67

          * Thu hoạch vụ đông xuân 2020 - 2021:

          Tính đến ngày 10/3/2021 toàn tỉnh thu hoạch được 19.104,6 ha cây hàng năm các loại, đạt 49,44% diện tích gieo trồng, tăng 2,31% (+432,2 ha) so với cùng kỳ.

Diện tích lúa thu hoạch được 3.983 ha, đạt 45,33% diện tích gieo trồng, giảm 2,47% (-101 ha) so với cùng kỳ; năng suất bình quân ước đạt 63,9 tạ/ha, tăng 4,09% (+2,51 tạ/ha) so với cùng kỳ, do gieo trồng đúng thời vụ, sử dụng các loại giống lúa có năng suất, chất lượng cao.

Diện tích ngô thu hoạch 185 ha, đạt 9,76% diện tích gieo trồng, giảm 48,5% (-174,2 ha) so với cùng kỳ.

Diện tích rau các loại thu hoạch 12.079,7 ha, đạt 57,84% diện tích gieo trồng, tăng 5,23% (+600,4 ha) so với cùng kỳ; năng suất bình quân chung ước đạt 346,5 tạ/ha, tăng 1,2% (+4,11 tạ/ha); sản lượng ước đạt 418.561,6 tấn, tăng 5,46% (+22.522 tấn) so với cùng kỳ.

Hoa các loại thu hoạch 1.830,6 ha, đạt 60,18% diện tích gieo trồng, tăng 4,16% (+73,1 ha); sản lượng hoa ước đạt 588.525 ngàn cành, tăng 4,35% (+24.560 ngàn bông) so với cùng kỳ, do áp dụng nông nghiệp công nghệ cao, mặt khác dịch bệnh trên cây hoa được khống chế.

Cây lâu năm: Trong quý I, một số cây công nghiệp lâu năm đã cho thu hoạch. Trong đó: Sản lượng điều đạt 5.020 tấn, tăng 3,51%; hồ tiêu đạt 1.476 tấn, tăng 2,5%; cao su đạt 270 tấn, tăng 3,7%; chè đạt 29.062 tấn, giảm 1,7% so với cùng kỳ.

* Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng tháng 3/2021: Tình hình dịch bệnh trên cây trồng cơ bản được kiểm soát chặt chẽ, không bùng phát thành dịch gây thiệt hại lớn đến năng suất, sản lượng cây trồng. Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá nhiễm 51,85 ha; ốc bươu vàng gây hại 85,5 ha; bệnh khô vằn gây hại 57 ha. Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 118 ha. Cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 1.452 ha; bệnh khô cành gây hại 6.050,5 ha. Cây điều: Bệnh thán thư gây hại 4.540,5 ha; bọ xít muỗi gây hại 4.061,7 ha. Cây cà chua: Bệnh xoăn lá gây hại 209,4 ha. Cây rau họ thập tự: Bệnh sưng rễ gây hại 261,5 ha. Cây hoa cúc: Bệnh sọc thân (virus) gây hại 15 ha.

* Tình hình chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi sau tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, người nông dân trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư tái sản xuất phát triển chăn nuôi, nhất là đối với đàn gia cầm, đàn bò sữa phát triển ổn định; tổng đàn lợn giảm do bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn xảy ra tại một số địa phương, bên cạnh đó giá lợn giống quá cao, nên bà con vẫn còn e ngại trong việc tái đàn; đàn trâu giảm do hiệu quả kinh tế không cao.

Ước tính đến 31/3/2021, đàn trâu có 13.165 con giảm 4,84% (-669 con); đàn bò[1] ước đạt 96.634 con, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong quý I/2021 sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 350,7 tấn, giảm 1,49%; thịt bò hơi xuất chuồng đạt 1.909 tấn, tăng 3,47%; sản lượng sữa bò đạt 23.459 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ.

Ước tính tổng đàn lợn đến 31/3/2021 đạt 374.170 con, giảm 0,52% (-1.959 con) so với cùng kỳ. Trong quý I/2021 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 19.292,4 tấn, tăng 6,77% so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm[2] tiếp tục phát triển do các hộ mở rộng quy mô, ước trong tháng 3/2021 đạt 10.392 ngàn con, tăng 3,5% (+351 ngàn con) so với cùng kỳ.

Hiện nay, ngành dâu tằm tơ trên địa bàn tỉnh đang phát triển mạnh, nhất là Bảo Lộc, Lâm Hà, Đạ Tẻh, Đức Trọng, Đam Rông. Giá kén tằm trong năm ổn định hiện dao động ở mức 80-130 ngàn đồng/kg nên các hộ dân tích cực đầu tư mở rộng diện tích trồng dâu và chăn nuôi tằm.

Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch bệnh: Tình hình bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không phát sinh thêm gia súc mắc bệnh, nhất là dịch tả lợn Châu Phi, lở mồm long móng trên đàn vật nuôi tại các huyện Đơn Dương, Đạ Tẻh đã qua 21 ngày không phát sinh thêm gia súc mắc bệnh. Trong quý I/2021 các ngành chức năng cấp phát 6.800 lít hóa chất (RTD-Iodine, Navetcide, Via-Iodine) cho Trung tâm Nông nghiệp huyện để thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc phòng chống dịch bệnh. Tăng cường công tác kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầm vào, ra tỉnh; tổ chức trực tại các trạm kiểm dịch động vật 24 giờ trong ngày.

1.2. Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Trồng và chăm sóc nuôi dưỡng: Tiếp tục triển khai thực hiện công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích 439.461,7 ha. Trong đó, bằng nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng 382.139,2 ha, bằng nguồn vốn ngân sách 57.322,5 ha.

Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3/2021 ước đạt 2.645 m3  (trong đó: gỗ lớn 1.112 m3, gỗ nhỏ 1.533 m3). Ước quý I/2021 đạt 11.304,9 m3,  tăng 9,38% so với cùng kỳ, phần lớn là khai thác trắng và tỉa thưa rừng trồng.

Phòng chống chữa cháy rừng: Trong tháng, trên địa bàn toàn tỉnh không phát sinh cháy rừng; các ngành chức năng, đơn vị chủ rừng tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2020-2021 trên địa bàn tỉnh; đồng thời triển khai các hạng mục phòng cháy chữa cháy rừng theo phương án đã được thẩm định.

Tình hình vi phạm lâm luật: Trong tháng 3/2021 đã phát hiện được 44 vụ vi phạm, tăng 4,76% so với cùng kỳ. Đã tiến hành xử lý 44 vụ vi phạm, trong đó xử lý hành chính 43 vụ, xử lý hình sự 02 vụ, tịch thu 84,5 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Thu nộp ngân sách  0,49 tỷ đồng. Tổng số vụ vi phạm trong quý I/2021 là 162 vụ, tăng 19,12% so với cùng kỳ; diện tích do phá rừng 8,84 ha; lâm sản thiệt hại là 842,4 m3. Tổng số vụ đã xử lý 146 vụ, trong đó xử lý hành chính 137 vụ, xử lý hình sự 09 vụ, tịch thu 164,6 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Thu nộp ngân sách  0,95 tỷ đồng.

Công tác cho thuê rừng, đất lâm nghiệp: Hiện nay có 329 dự án/313 doanh nghiệp, hộ gia đình đang đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.912 ha. Tổng số dự án đã thu hồi 195 dự án/29.834 ha (gồm 160 dự án thu hồi toàn bộ/25.625 ha và 35 dự án thu hồi một phần/4.209 ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ đã được phê duyệt, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng.

1.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản: Trong quý I/2021 (đến 31/3/2021) đạt 2.381,5 ha, giảm 2,62% (-64 ha) so với cùng kỳ, do nguồn nước không ổn định, một số diện tích ao, hồ nuôi kém hiệu quả bị san lấp để chuyển sang trồng dâu nuôi tằm, trồng cây ăn trái hoặc xây nhà cửa. Diện tích nuôi trồng thủy sản phổ biến là nuôi cá có 2.381,4 ha, chiếm 99,99%.

Sản lượng thủy sản: Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng trong tháng 3/2021 ước đạt 825,6 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng 795 tấn, còn lại là khai thác. Lũy kế từ đầu năm đến 31/3/2021 sản lượng  ước đạt 2.533,2 tấn, tăng 3,2% (+78,5 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng thu trong kỳ chủ yếu là cá trắm cỏ, chép, rô phi, diêu hồng, cá tầm.

Sản xuất giống thủy sản: Ước đạt 3,59 triệu con, tăng 2,57% (+0,09 triệu con) so với cùng kỳ, tăng chủ yếu giống cá tầm.

2. Sản xuất công nghiệp

Trong những tháng đầu năm 2021 sản xuất công nghiệp trên địa bàn không bị ảnh hưởng nhiều của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định và tăng trưởng so với cùng kỳ, bám sát theo tinh thần chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, cùng với sự đoàn kết chung tay của người dân và cộng đồng doanh nghiệp.

2.1. Sản xuất công nghiệp ước tháng 3 năm 2021:

Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 1,95% so với cùng kỳ. Trong đó, Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 2,4%; chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,05%; chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,76%; chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: tăng 4,79% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Sản phẩm chủ yếu công nghiệp khai khoáng: Sản phẩm Đá xây dựng đạt 95,4 ngàn m3, giảm 28,04%; cao lanh đạt 19,1 ngàn tấn, tăng 144,67% so với cùng kỳ. Các sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Bia đóng lon đạt 7,3 triệu lít, tăng 46,29%; hạt điều khô đạt 71 tấn, tăng 17,75%; sợi len lông cừu đạt 100 tấn, tăng 8,7%; sản phẩm ôxit nhôm đạt 62 ngàn tấn, tăng 6,84% sản phẩm phân bón NPK đạt 8,2 ngàn tấn, tăng 1,67%; quả và hạt ướp lạnh đạt 730 tấn, giảm 28,9%; sản phẩm trà đạt 1.818 tấn, giảm 13,41%; sản phẩm bê tông trộn sẵn đạt 36,2 ngàn m3, giảm 8,26% so với cùng kỳ. Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đạt 441 triệu kwh, tăng 2,76%; sản phẩm nước sạch đạt 2,9 triệu m3, tăng 4,96% so với cùng kỳ.

2.2. Sản xuất công nghiệp dự tính quý I năm 2021:

Dự tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I năm 2021 tăng 5,17%, so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 1,45%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,23%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,29%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,49% so với cùng kỳ.

Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ số sản xuất từ cao su và plastic tăng 18,52%; ngành sản xuất đồ uống tăng 17,3%, tăng chủ yếu là sản xuất bia đóng lon; ngành dệt tăng 16,29%; sản xuất giừng, tủ, bàn ghế tăng 4,31%; sản xuất trang phục tăng 0,65%; sản xuất thuốc hóa dược giảm 17,45%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 11,63%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 7,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 5,51%; chế biến thực phẩm giảm 2,11% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Sản phẩm ngành công nghiệp khai khoáng: cao lanh đạt 55 ngàn tấn, tăng 66,83%; đá xây dựng đạt 380,7 ngàn m3, giảm 13,14%. Các sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Bia đạt 22,5 ngàn lít, tăng 65,77%; hạt điều khô đạt 199 tấn, tăng 24,56%; rau ướp lạnh đạt 3.901 tấn, tăng 30,57%; bê tông trộn sẵn đạt 102,4 ngàn tấn, tăng 26,6%; phân bón NPK đạt 16,9 ngàn tấn, tăng 6,63%; sản phẩm bôxit nhôm đạt 167,3 ngàn tấn, tăng 0,66%. Sản phẩm điện sản xuất của 33 nhà máy trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đạt 1.283 triệu kwh, tăng 10,29%; sản phẩm nước uống được đạt 8,5 triệu m3, tăng 4,36% so với cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2021: Nhìn chung quý I/2021 tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp có phần khởi sắc, tăng so với cùng kỳ, tăng 7,23% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các ngành: Sản xuất hóa chất tăng 46,54%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,91%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 20,37%; sản xuất kim loại tăng 14,4% so với cùng kỳ.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3 năm 2021: Tăng 13,54% so với cùng kỳ, tập trung ở các nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 274,67%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 60,26%; Sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 58,86%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 40,67%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 29,38%; chế biến thực phẩm tăng 26,51%.  Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số giảm như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 36,24%; sản xuất đồ uống giảm 14,67; ngành dệt giảm 16,12% so với cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3 năm 2021: Giảm 1,17% so với cùng kỳ. Chia theo ngành công nghiệp: Ngành khai khoáng giảm 7,32%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 1,2%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,19% và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải giảm 1,21% so với cùng kỳ.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[3]

Đăng ký kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2021, có 270 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 3.231,8 tỷ đồng, tăng 21,6% về số lượng và tăng 108,9% về vốn so với cùng kỳ; có 34 doanh nghiệp giải thể, giảm 74,4%; 196 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động kinh doanh, tăng 24,1%; có 142 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 91,9% so với cùng kỳ.

Tình hình cấp Quyết định chứng nhận đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Từ đầu năm đến ngày 20/3/2021, toàn tỉnh có 06 dự án (trong đó, 01 dự án vốn FDI) được cấp Quyết định chủ trương đầu tư, vốn đăng ký 326,5 tỷ đồng, quy mô diện tích 11,2 ha. So với cùng kỳ, giảm 03 dự án (giảm 33,3%).

Tình hình thu hồi, chấm dứt hoạt động của các dự án đầu tư: Từ đầu năm đến ngày 20/3/2021, có 33 dự án ngoài khu công nghiệp bị thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư, với vốn đăng ký đầu tư 5.349,9 tỷ đồng.

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Nhận định xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I năm 2021 so quý IV năm 2020 không khả quan thông qua các chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh có chỉ số cân bằng (CSCB) -20,9%; trong đó hầu hết các chỉ tiêu có CSCB <0: Khối lượng sản xuất có CSCB là -26,87%; chỉ tiêu số lượng đơn đặt hàng mới có CSCB là -19,7%; số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có CSCB là -29,41%; khối lượng thành phẩm tồn kho có CSCB là -17,91%; nguyên vật liệu tồn kho có CSCB là -16,42% và chỉ tiêu số lượng lao động bình quân có CSCB là -11,94%.

Nhận định xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2021 so quý I năm 2021 có khả quan hơn thông qua các chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh có chỉ số cân bằng (CSCB) 11,94%, trong đó: khối lượng sản xuất có CSCB là 8,96%; chỉ tiêu số lượng đơn đặt hàng mới có CSCB là 1,52%; tuy nhiên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có CSCB là -5,71%; khối lượng thành phẩm tồn kho có CSCB là -28,36%; nguyên vật liệu tồn kho có CSCB là -25,37% và chỉ tiêu số lượng lao động bình quân có CSCB là -13,43%.

         4. Hoạt động đầu tư

         Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2021 ước đạt 4.603,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 476,6 tỷ đồng, tăng 12,54%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 3.741,1 tỷ đồng, tăng 9,16%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 10,1 tỷ đồng, bằng 12,74% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

Triệu đồng; %

 

Thực hiện

Ước tính

% so sánh quý I năm 2021 so với

 

quý VI

quý I

Quý IV

Quý I

 

năm

năm

năm

năm

 

2020

2021

2020

2020

TỔNG SỐ

8.372.640

4.603.589

54,98

107,70

Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước

1.469.764

476.574

32,43

112,54

Vốn trái phiếu Chính phủ

201.474

     

Vốn tín dụng đầu tư phát triển

3.277

     

Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước)

29.000

31.500

108,62

112,50

Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước (Vốn tự có)

152.567

84.605

55,45

109,02

Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân

6.058.862

3.741.124

61,75

109,16

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

76.696

10.086

13,15

12,74

Vốn huy động khác

381.000

259.700

68,16

109,70

Đối với nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 3/2021 ước đạt 196,9 tỷ đồng, tăng 4,75% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 180,9 tỷ đồng, tăng 4,63% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 89 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 33,6 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 38,8 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 19,5 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 15,9 tỷ đồng, tăng 6,12% so với cùng kỳ. Trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 12,3 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 2,5 tỷ đồng.

Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I năm 2021 đạt 403,3 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ: Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 364,4 tỷ đồng, tăng 15,97% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 244,4 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 33,6 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 66,9 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 19,5 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 38,9 tỷ đồng, giảm 7,47% so với cùng kỳ; trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 35,3 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 2,5 tỷ đồng.

Tính đến tháng 3/2021, trên địa bàn tỉnh có 307 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: Nâng cấp đường Đankia và cầu Phước Thành (phường 7); xây dựng trường bắn, thao trường huấn luyện cho lực lượng vũ trang thành phố Đà Lạt; nâng cấp đường Đống Đa, thành phố Đà Lạt. Xây dựng các tuyến đường đô thị: đường Lê Lai nối Phan Chu Trinh, phường Lộc Tiến; hệ thống thoát nước, vỉa hè Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát; xây dựng đường liên thôn 11,13,14, xã ĐamBri, thành phố Bảo Lộc. Xây dựng hồ chống bồi lắng, nhà máy xử lý nước thải khu vực Đan Kia, Suối Vàng (giai đoạn 1); đường từ xã Lát (huyện Lạc Dương) đi Phi Tô (Lâm Hà). Đường giao thông nông thôn liên xã từ Đan Phượng (Lâm Hà) đi xã Tân Thành (Đức Trọng); đường giao thông liên xã Hoài Đức đi Tân Thanh, đường giao thông nông thôn liên xã Nam Hà- Gia Lâm; trường THCS Lý Tự Trọng, huyện Lâm Hà. Đường liên xã Tu Tra - Ka Đơn, đường ĐH 13 từ Nguyễn Chí Thanh - Phạm  Ngọc Thạch, xây dựng các tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương. Xây dựng đường giao thông nông thôn vào khu sản xuất lớn xã Hòa Bắc - Hòa Nam (huyện Di Linh), xây dựng đường tránh ngập Đinh Lạc, Bảo Thuận, huyện Di Linh. Đường giao thông thôn Hang Ka - thôn 2 xã Lộc Bảo, đường giao thông nông thôn thôn 5 xã Lộc Phú, đường giao thông xóm mới To-Vung thôn 1 xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm. Đường liên xã từ thôn 1 Xã Đạ Oai đi Đạ Tồn, trụ sở làm việc UBND xã Phước Lộc, thay thế một số phòng học, phòng chức năng xuống cấp và bổ sung một số phòng học, phòng chức năng, nhà đa năng còn thiếu của các trường Tiểu học và Mầm non trên địa bàn huyện Đạ Huoai. Đường liên xã Triệu Hải - Đạ Pal, mở rộng đường giao thông nông thôn đi từ ĐT725 vào buôn Đạ Nhar - lên khu sản xuất cao su tập trung xã Quốc Oai, đường từ trung tâm Thị trấn vào nghĩa địa TDP7, Thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh. Hồ chứa nước Đạ Sỵ, sửa chữa nâng cấp các trường học, nâng cấp đường Cát Lợi đi Cát Lâm, TT Phước Cát, nâng cấp hệ thống thoát nước TDP 2, bãi rác TT Phước Cát, Huyện Cát Tiên.

5. Hoạt động tài chính, tín dụng

5.1. Hoạt động tài chính [4]

Ngay từ đầu năm ngành chức năng địa phương đã bám sát các chỉ tiêu, nhiệm vụ, tăng cường truyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về thuế, chú trọng thanh tra, kiểm tra, quản lý người nộp thuế gắn với xử lý nợ tồn đọng.

      Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn dự ước đến ngày 31/3/2021 đạt 3.075,7 tỷ đồng, bằng 33,07% dự toán địa phương, tăng 62,38% so với cùng kỳ, trong đó: thuế, phí, lệ phí đạt 1.786,6 tỷ đồng, bằng 32,25% dự toán, tăng 80,93% so với cùng kỳ. Nguồn thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 29,9 tỷ, tăng 25,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,6 tỷ đồng, giảm 10,43%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 727,6 tỷ đồng, tăng 61,18% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 718,3 tỷ đồng, tăng 45,57% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 45,57% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương ước đến ngày 31/3/2021 đạt 4.547 tỷ đồng, tăng 58,47% so với cùng kỳ. Trong đó, thu ngân sách được hưởng theo phân cấp đạt 2.779,3 tỷ đồng, tăng 57,6%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 1.390,2 tỷ đồng, tăng 51,1% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương đến ngày 31/3/2021 ước đạt 4.514,6 tỷ đồng, bằng 29,36% dự toán địa phương, tăng 6,42% so với cùng kỳ. Trong tổng chi thường xuyên, chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo đạt 750 tỷ đồng, giảm 1,75% so với cùng kỳ; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 0,8 tỷ đồng.

5.2. Hoạt động tín dụng [5]

Hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng trong quý I/2021 tiếp tục thực hiện các giải pháp kiểm soát tín dụng phù hợp với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng; đẩy mạnh thực hiện chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp 2021; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với vốn tín dụng; thực hiện công tác hỗ trợ người dân gặp khó khăn trong dịch Covid-19 theo đúng quy định.

Ước đến 31/3/2021 vốn huy động đạt 68.700 tỷ đồng, tăng 19,48% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 49.200 tỷ đồng, chiếm 71,62% tổng vốn huy động, tăng 13,29%; tiền gửi thanh toán, tiền gửi khác đạt 19.500 tỷ đồng, chiếm 28,38% tổng vốn huy động, tăng 38,59% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/3/2021 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 119.000 tỷ đồng, tăng 16,67% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 35.800 tỷ đồng, chiếm 30,08% tổng dư nợ, tăng 4,37%; dư nợ ngắn hạn 83.200 tỷ đồng, chiếm 69,92% tổng dư nợ, tăng 22,9% so với cùng kỳ.

Ước đến 31/3/2021 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 620 tỷ đồng, chiếm 0,52% tổng dư nợ, tăng 12,73% so với cùng kỳ.

Dư nợ cho vay các chương trình tín dụng có đến 31/3/2021: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 82.200 tỷ đồng; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 13.000 tỷ đồng; cho vay ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao 850 tỷ đồng.

6. Thương mại, dịch vụ

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 3/2021 đạt 4.769,8 tỷ đồng, tăng 19,63% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý I năm 2021 ước đạt 16.113,8 tỷ đồng, tăng 9,09% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2021 ước đạt 3.452,3 tỷ đồng, tăng 23,76% so với cùng kỳ; một số nhóm hàng có doanh thu chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng cao so với cùng kỳ như nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.447,4 tỷ đồng, tăng 21,71%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 464,6 tỷ đồng, tăng 21,94%; xăng, dầu các loại đạt 405,4 tỷ đồng, tăng 29,88%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa quý I năm 2021 đạt 11.852,7 tỷ đồng, tăng 14,55% so với cùng kỳ; một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 4.943,7 tỷ đồng, tăng 22,73%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.502,5 tỷ đồng, giảm 3,4% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) tháng 3/2021 ước đạt 623,6 tỷ đồng, tăng 2,48% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 287,4 tỷ đồng, tăng 2,99%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 151,3 tỷ đồng, giảm 2,51% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu dịch vụ khác (trừ ăn uống, lưu trú và lữ hành) quý I năm 2021 đạt 2.060,7 tỷ đồng, tăng 1,94% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 1.013,6 tỷ đồng, tăng 10,59%; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 535,2 tỷ đồng, giảm 2,67% so với cùng kỳ.

          - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 3/2021 ước đạt 693,9 tỷ đồng, tăng 17,75% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 102,8 tỷ đồng, tăng 90,75%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 591,1 tỷ đồng, tăng 10,40% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 377,9 nghìn lượt khách, tăng 53,62% (khách trong nước đạt 374,9 nghìn lượt khách, tăng 60%; khách quốc tế đạt 3 nghìn lượt khách, bằng 25,69% so với cùng kỳ). Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I năm 2021 đạt 2.200,1 tỷ đồng, giảm 7,98% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 279,9 tỷ đồng, giảm 16,97%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.920,2 tỷ đồng, giảm 6,5% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 1.041 nghìn lượt khách, giảm 1,14% (khách trong nước đạt 1.032 nghìn lượt khách, tăng 5,56%; khách quốc tế đạt gần 9 nghìn lượt khách, bằng 11,87% so với cùng kỳ).

7. Giá c th trường

7.1. Ch s giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2021 giảm 0,13% so với tháng trước, tăng 1,25% so với cùng kỳ. Bình quân 03 tháng đầu năm 2021 tăng 0,36% so với cùng kỳ.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dch v tiêu dùng, so với tháng trước cụ thể có: 06 nhóm tác động tăng CPI, trong đó nhóm có mức tăng cao như nhóm giao thông tăng 1,45%, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,46%; 02 nhóm tác động giảm gồm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,98%, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,05%; 03 nhóm còn lại ổn định so với tháng trước. Sau tết Nguyên đán giá nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm; vé dịch vụ vận chuyển hành khách và một số dịch vụ khác đã giảm trở lại sau khi tăng trong dịp Tết. Bên cạnh đó, giá xăng, dầu chịu tác động tăng của đợt điều chỉnh giá ngày 25/02 và ngày 12/3/2021 của liên Bộ Tài chính – Công thương; giá gas tăng 5.000 đồng/bình 12kg; giá đồ uống và một số mặt hàng thiết yếu khác tại các siêu thị, cửa hàng đã hết chương trình khuyến mãi và tăng trở lại.

7.2. Ch s giá vàng và Đô la M

Bình quân giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 5,588 triệu đồng/chỉ, giảm 1,74% so với tháng trước và tăng 17,85% so với cùng kỳ; bình quân 03 tháng đầu năm 2021 tăng 24,76% so với cùng kỳ.

Lợi suất trái phiếu Mỹ tăng hỗ trợ đồng USD lấy lại đà phục hồi. Tỷ giá USD trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 23.132 đồng/USD, tăng 0,07% so với tháng trước và giảm 1,87% so với cùng kỳ.

7.3. Ch s giá sn xut

Ch s giá bán sn phm ca người sn xut hàng nông, lâm nghip và thy sn quý I năm 2021 tăng 9,61% so vi cùng k và giảm 4,79% so vi quý trước. Trong đó: Ch s giá bán sn phm ca người sn xut nông nghip tăng 9,86% so vi cùng k và giảm 4,9% so vi quý trước. Trong đó, cây hàng năm tăng 14,54% so vi cùng k và gim 14,49% so vi quý trước; cây lâu năm tăng 5,71% so vi cùng k và tăng 1,26% so vi quý trước; sn phm chăn nuôi tăng 12,84% so vi cùng k và tăng 3,39% so vi quý trước. Sn phm lâm nghip giảm 1,26% so vi cùng k và giảm 0,03% so vi quý trước. Sn phm thy sn tăng 0,65% so vi cùng k và tăng 0,58% so vi quý trước.

Ch s giá sn xut hàng công nghip quý I năm 2021 giảm 3% so vi cùng k và gim 0,75% so vi quý trước; trong đó ch s giá sn xut sn phm khai khoáng giảm 6,49% so vi cùng k và giảm 6,07% so vi quý trước; sn phm công nghip chế biến, chế to giảm 4,61% so vi cùng k và giảm 2,75% so vi quý trước; đin và phân phi đin tăng 0,65% so vi cùng k và tăng 4,01% so vi quý trước.

Ch s giá nguyên liu, nhiên liu, vt liu dùng cho sn xut quý I năm 2021 giảm 1,42% so vi cùng k và tăng 2,81% so vi quý trước; trong đó ch s giá nguyên liu, nhiên liu, vt liu s dng cho sn xut nông, lâm nghip và thy sn tăng 4,73% so vi cùng k và giảm 0,1% so vi quý trước; sử dụng cho ngành khai khoáng tăng 4,17% so với cùng kỳ và tăng 1,19% so với quý trước; s dng cho sn xut công nghip chế biến, chế to giảm 5,69% so vi cùng k và tăng 4,82% so vi quý trước; sử dụng cho sản xuất điện, hơi nước tăng 4,13% và tăng 2,42% so vi quý trước; s dng cho xây dng tăng 4,28% so vi cùng k và tăng 0,78% so vi quý trước.

Trong quý I, mặc dù chịu ảnh hưởng của các biện pháp kiểm soát quá trình lưu thông do dịch Covid-19 nhưng tháng 2 trùng vào dịp tết Nguyên đán nên các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận tải điều chỉnh tăng phí phụ thu; ch s giá cước vn ti kho bãi quý I năm 2021 giảm 0,01% so vi cùng k và tăng 1,72% so vi quý trước. Trong đó: giá cước dch v vn ti hành khách giảm 2,32% so vi cùng k và tăng 1,54% so vi quý trước; giá cước dch v vn ti hàng hóa tăng 1,45% so vi cùng k và tăng 2,13% so vi quý trước; dịch vụ vận tải kho bãi và hỗ trợ cho vận tải giảm 1,22% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước; dch v bưu chính, chuyn phát so vi quý trước và cùng kỳ ổn định. Chia theo ngành vn ti thì dch v vn ti đường b tăng 0,95% so vi cùng k và tăng 2,1% so vi quý trước; dch v vn ti hàng không bằng 76,84% so vi cùng k và gim 3,51% so vi quý trước.

Ch s giá dch v quý I năm 2021 tăng 3,37% so vi cùng k và tăng 1,84% so vi quý trước. Một số ngành có chỉ số giá quý I cụ thể như sau: dch v lưu trú và ăn ung giảm 0,92% so vi cùng k và tăng 0,92% so vi quý trước; hot động tài chính ngân hàng và bo him tăng 15,96% so vi cùng k và tăng 6,32% so vi quý trước; hot động giáo dc và đào to tăng 3,06% so vi cùng k và tăng 0,15% so vi quý trước; hot động làm thuê các công vic trong h gia đình đều tăng 2,91% so vi cùng k và so vi quý trước; riêng hot động thông tin truyn thông ổn định so với cùng kỳ và quý trước.

8. Hoạt động vận tải

- Doanh thu hot động vn ti, kho bãi và dch v h tr vn ti ước tháng 3/2021 đạt 316,9 t đồng, tăng 20,57% so vi cùng k; trong đó, doanh thu vn ti đường b đạt 284,1 t đồng, tăng 28,16%; doanh thu kho bãi và các hot động dch v h tr vn ti đạt 32,8 t đồng, bằng 79,73% so vi cùng k. D ước doanh thu hot động vn ti, kho bãi và dch v h tr vn ti quý I năm 2021 đạt 984,7 t đồng, giảm 0,51% so vi cùng k; trong đó, doanh thu vn ti đường b đạt 873,7 t đồng, tăng 2,86%; doanh thu kho bãi và các hot động dch v h tr vn ti đạt 110,9 t đồng, bằng 79,12% so vi cùng k.

- Doanh thu vn ti hành khách tháng 3/2021 ước đạt 123,6 t đồng, tăng 48,32%; khi lượng vn chuyn đạt 2.789 nghìn hành khách, tăng 38,86% và luân chuyn đạt 308,6 triu hành khách.km, tăng 50% so vi cùng k. D ước doanh thu vn ti hành khách quý I năm 2021 đạt 383 t đồng, tăng 2,75%; khi lượng vn chuyn đạt 8.496 nghìn hành khách, giảm 4,61% và luân chuyn đạt 1.016,9 triu hành khách.km, tăng 4,31% so vi cùng k.

- Doanh thu vn ti hàng hoá tháng 3/2021 ước đạt 160,4 t đồng, tăng 16%; khi lượng hàng hoá vn chuyn đạt 1.272 nghìn tn, tăng 11,87% và luân chuyn đạt 137,3 triu tn.km, tăng 16,95% so vi cùng k. D ước doanh thu vn ti hàng hoá quý I năm 2021 đạt 490,8 t đồng, tăng 2,94%; khi lượng hàng hoá vn chuyn đạt 4.248 nghìn tn, tăng 19,55% và luân chuyn đạt 440,3 triu tn.km, tăng 4,85% so vi cùng k.

         9. Các vấn đề xã hội

9.1. Thực trạng đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương

Bước sang quý I/2021, đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương trên địa bàn có cuộc sống ổn định, trong dịp lễ, tết vừa qua cũng được hưởng tăng thêm bình quân mỗi người từ 1 triệu đến 13 triệu đồng. Đời sống cán bộ, công nhân viên chức khu vực nhà nước ổn định so cùng kỳ năm trước. Những người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nông lâm nghiệp có thu nhập và đời sống ổn định so với cùng kỳ năm trước do ít bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Đối với người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phi nông lâm nghiệp, nhất là khu vực thành thị, nhìn chung đều bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, thu nhập và đời sống so với cùng kỳ năm trước không tăng.

9.2. Tình hình chung về việc làm của người lao động

Lao động có việc làm: Dự ước đến thời điểm 31/3/2021 toàn tỉnh có 785.016 người đang làm việc, trong đó tỷ trọng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn là 61,9%, tương đương 85.926 người, cao gấp 1,62 lần so với khu vực thành thị với 299.090 người. Về chuyển dịch cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế thì ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và  ngành dịch vụ có tỷ trọng lao động chiếm chủ yếu trong tổng số lao động của cả nền kinh tế là 66,4% và 25,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 8,3%.

Quy mô và tỷ lệ người thiếu việc làm, thất nghiệp trong độ tuổi lao động:  Dự ước đến thời điểm 31/3/2021 toàn tỉnh 16.058 người thiếu việc làm (tỷ lệ là 2,03%), trong đó khu vực nông thôn có 8.892 người (tỷ lệ là 1,81%), còn khu vực thành thị là 7.166 người (tỷ lệ là 2,39%). Tỷ lệ thất nghiệp là 0,77%, tương đương với 6.126 người thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 1,45%, tương đương với 4.358 người, khu vực nông thôn có 1.768 người, chiếm tỷ lệ 0,36%.

9.3. An sinh xã hội

Thực hiện chính sách người có công, chương trình an sinh xã hội: Thực hiện Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc trợ cấp gia đình người có công với Cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, cận nghèo và hỗ trợ thăm hỏi một số đối tượng trong dịp tết Tân Sửu 2021. Tặng quà, trợ cấp tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 từ 2 nguồn ngân sách Trung ương và địa phương cụ thể: Tổng số tiền tặng quà và trợ cấp Tết bằng tiền mặt và hiện vật trị giá 50,56 tỷ đồng, tương ứng với 111.495 suất quà.

Chính sách giảm nghèo: Đến nay, tổng số hộ nghèo toàn tỉnh còn 4.488 hộ, chiếm tỷ lệ 1,32%; trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 2.793 hộ, chiếm tỷ lệ 3,58%. Hộ cận nghèo còn 11.390 hộ, chiếm tỷ lệ 3,34%; trong đó, tỷ hộ cận nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 6.728 hộ, chiếm tỷ lệ 8,63%.

Độ bao phủ bảo hiểm y tế [6]: Theo kết quả tổng hợp số liệu về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tính đến hết tháng 3 năm 2021 toàn tỉnh Lâm Đồng có 1.127.738 đối tượng tham gia BHYT, tỷ lệ bao phủ BHYT toàn tỉnh đạt 85,37% (dự kiến dân số của tỉnh đàu năm 2021 là 1.321.071 người).

9.4. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền    

Trong quý I/2021, ngành Văn hoá - Thông tin đã chuẩn bị các nội dung chào đón “Mừng Đảng, Mừng Xuân” nhất là công tác thông tin - tuyên truyền mừng sinh nhật Đảng lần thứ 91 (3/02/1930- 03/02/2021), chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII thông qua hình thức treo băng rôn, pa nô được bố trí ở những trung tâm huyện, thành phố cụ thể như sau: Thông qua hình thức treo băng rôn, pa nô được bố trí ở những trung tâm huyện, thành phố tuyên truyền “Mừng Đảng, Mừng Xuân”, mừng sinh nhật Đảng lần thứ 91 (03/02/1930- 03/02/2021). Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Lâm Đồng thực hiện tuyên truyền cổ động trực quan: dựng, treo 04 Pano tấm lớn và 03 cụm Pano mô hình 3D, 233 Pano hộp 2 mặt, 150 Pano 1 mặt, 200 phướn, 600 cờ (200 cờ Đảng, 400 cờ Tổ quốc). Các huyện, thành phố dựng, treo 903 pano, 73 cụm pano, 439 băng rôn, 2.031 phướn, 3.542 cờ các loại tại trục đường chính, khu vực trung tâm các xã, phường, thị trấn. Tổ chức Hội báo Xuân Tân Sửu 2021 từ ngày 08/02/2021 đến ngày 17/02/2021 tại Nhà thông tin triển lãm thành phố Đà Lạt. Tổ chức triển lãm chuyên đề mừng Đảng, mừng Xuân Tân Sửu với chủ đề: “Đảng cho ta mùa xuân” từ ngày 28/01/2021 đến hết tháng 02/2021 tại Bảo tàng Lâm Đồng.

Bảo tàng mở cửa thường xuyên vào tất cả các ngày trong tuần phục vụ khách đến tham quan, nghiên cứu học tập tại Bảo tàng Lâm Đồng, gồm nhà trưng bày Bảo tàng, Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và Di tích khảo cổ Cát Tiên; tính đến hết ngày 10/3/2021 đơn vị đã đón được 5.901 lượt khách.

 9.5. Hoạt động thể dục - thể thao

Thể thao thành tích cao: Trong quý I/2021 tham gia giải việt dã leo núi Bà Rá lần thứ 27 tại tỉnh Bình Phước. Tham gia vòng loại bóng đá U17 quốc gia.

Thể thao phong trào quần chúng: Trong quý I/2021 giúp cơ sở vật chất và công tác tổ chức Giải thể thao học sinh thành phố Đà Lạt năm học 2020-2021, có hơn 1.200 vận động viên đến từ 39 đơn vị trường học cấp Tiểu học, Trung học cơ sở đã tranh tài ở 10 môn thi đấu gồm: điền kinh, bóng bàn, cờ vua, cầu lông, kéo co, bóng đá, karate, vovinam, võ cổ truyền, taekwondo.

9.6. Hoạt động giáo dục - đào tạo năm học 2020-2021

Giáo dục Mầm non: Toàn tỉnh có 231 trường, trong đó 173 trường công lập, ngoài công lập 58 trường. Có 2.393 lớp, trong đó nhà trẻ 497 lớp (công lập: 127 lớp), mẫu giáo 1.896 lớp (công lập: 1.399 lớp). Có 69.967 học sinh, trong đó nhà trẻ 9.217 học sinh (công lập: 2.910 học sinh), mẫu giáo 60.750 học sinh (công lập: 45.755 học sinh). Tổng số giáo viên mầm non là 4.403 người.

Giáo dục Tiểu học: Toàn tỉnh có 245 trường, trong đó 243 trường công lập, ngoài công lập 02 trường. Có 4.156 lớp, trong đó công lập 4.128 lớp, ngoài công lập 28 lớp. Có 129.159 học sinh, trong đó công lập 128.479 học sinh, ngoài công lập 680 học sinh. Tổng số giáo viên tiểu học là 5.907 người.

Giáo dục Trung học cơ sở: Toàn tỉnh có 157 trường. Có 2.540 lớp, trong đó công lập 2.529 lớp, ngoài công lập 11 lớp. Có 92.040 học sinh, trong đó công lập 91.741 học sinh, ngoài công lập 299 học sinh. Xếp loại học lực: tỷ lệ học sinh giỏi đạt 24,45%, học sinh khá đạt 38,17%, học sinh trung bình là 30,38%, học lực yếu chiếm 6,75%, kém chiếm 0,25%. Tổng số giáo viên THCS là 4.703 người.

Giáo dục Trung học phổ thông: Toàn tỉnh có 59 trường, trong đó 56 trường công lập, ngoài công lập 03 trường. Có 1.198 lớp, trong đó công lập 1.166 lớp, ngoài công lập 32 lớp. Có 43.651 học sinh, trong đó công lập 42.322 học sinh, ngoài công lập 1.329 học sinh. Xếp loại học lực: tỷ lệ học sinh giỏi đạt 15,16%, học sinh khá đạt 36,62%, học sinh trung bình là 35,53%, học lực yếu chiếm 12,31%, kém chiếm 0,39%. Tổng số giáo viên THPT là 2.669 người.

9.7. Hoạt động y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm        

Công tác phòng, chống dịch Covid -19: Trong đợt 3 (tính từ 27/01/2021 đến ngày 18/03/2021) tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức theo dõi, cách ly cho 1.197 trường hợp; lấy mẫu xét nghiệm cho 3.009 trường hợp (cộng dồn 3.559 trường hợp), các mẫu xét nghiệm đều cho kết quả âm tính; số liệu khai báo nCoV là 185.756 trường hợp (xếp thứ 29 trong toàn quốc). Phối hợp liên ngành tổ chức kiểm tra việc thực hiện phòng, chống Covid-19 tại các siêu thị, bến xe trên tất cả địa bàn tỉnh, truyền thông thực hiện gần 1.000 tin, bài phát trên hệ thống truyền thanh các xã, phường, thị trấn; gần 100 chuyên mục phát sóng với thời lượng 15 phút/chuyên mục; đã thực hiện được 1.275.000 tin nhắn đến các thuê bao di động về việc thưc hiện 5K theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Công tác phòng bệnh từ đầu năm đến nay: Bệnh lao phát hiện 118 bệnh nhân mới. Bệnh sốt xuất huyết phát hiện 184 trường hợp mắc sốt xuất huyết mới, tăng 63 trường hợp so cùng kỳ. Bệnh sốt rét không có dịch sốt rét xảy ra, có 03 trường hợp mắc sốt rét, giảm 15 trường hợp so với cùng kỳ. Bệnh phong toàn tỉnh quản lý 135 bệnh nhân, giám sát 15 bệnh nhân, chăm sóc tàn phế cho 135 bệnh nhân, duy trì công tác loại trừ bệnh phong cấp huyện, thành phố theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định.

Hoạt động bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng: Đến nay toàn tỉnh quản lý và điều trị cho 1.240 bệnh nhân tâm thần phân liệt. Trong đó, số bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị đều là 1.238, số bệnh nhân tâm thần phân liệt được tái hòa nhập cộng đồng là 1.214 và 1.564 bệnh nhân động kinh.

Công tác phòng chống bệnh HIV/AIDS: Đến nay có 20 trường hợp nhiễm HIV mới (tích lũy: 1.696), có 02 trường hợp chuyển AIDS (tích lũy: 288) và có 03 trường hợp tử vong AIDS (tích lũy: 594). Điều trị bằng thuốc ARV cho 764 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó số trẻ đang điều trị 12; có 716 bệnh nhân nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế. Hiện có 819 bệnh nhân được điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone.

9.8. Tình hình an toàn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh từ ngày 15/02/2021 đến ngày 14/3/2021 xảy ra 11 vụ, tăng 04 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 07 người, tăng 02 người; số người bị thương là 04. Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/3/2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, tăng 14 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 26 người, tăng 11 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 20 người, tăng 04 người so với cùng kỳ.

Trong quý ngành Công an đã cấp đăng ký mới cho 386 ôtô và 4.643 mô tô. Tổng số phương tiện hiện nay đang quản lý là 73.549 xe ôtô; 1.103.031 xe môtô; 103 phương tiện đường thủy. Lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 4.168 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt là 2,8 tỷ đồng; tước 180 giấy phép lái xe; tạm giữ 19 ô tô, 278 mô tô. Trong đó, xử lý vi phạm nồng độ cồn 65 trường hợp, 02 trường hợp dương tính với chất ma túy.

9.9. Tình hình cháy, nổ và vi phạm môi trường

Trong tháng 3/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 1,5 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, số người bị thương 03 người, giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 2,45 tỷ đồng. Về vi phạm môi trường cơ quan chức năng chưa phát hiện vụ nào.

          10. Một số nhiệm vụ chủ yếu cần triển khai trong quý II/2021

Phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, trong đó tập trung vào nhóm động lực có tính nền tảng cho tăng trưởng kinh tế với các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tập trung nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh, toàn diện, bền vững; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh, đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Hai là, thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy nhanh thực hiện các dự án công trình trọng điểm.

Ba là, đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị - nông thôn. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đáp ứng yêu cầu cuộc Cánh mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Bốn là, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Năm là, thực hiện hiêu quả chính sách an sinh xã hội, lao dộng, việc làm. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

 



[1] Trong đó, bò sữa có 24.410 con, tăng 10,07% (+2.234 con) so với cùng kỳ.

[2] Trong đó, đàn gà 5.083,2 ngàn con, tăng 6,5% (+310,2 ngàn con); đàn vịt 385 ngàn con, tăng 9,55% (+33,5 ngàn con) so với cùng kỳ.

 

 

[3] Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lâm Đồng.

[4] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng

[5] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lâm Đồng

[6] Nguồn: Bảo hiểm xã hội tỉnh Lâm Đồng

 

 

 


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt