Tin tức - Sự kiện
Đánh giá tác động dịch covid 19 đến kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng

 

Đại dịch Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu. Đến thời điểm hiện nay đại dịch vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng cũng không nằm ngoài tác động bởi đại dịch covid 19, hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh đều bị ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu hàng hóa, vận tải đến các hoạt động dịch vụ như y tế, giáo dục, … đặc biệt là dịch vụ lưu trú, du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đại dịch Covid -19 ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp; một số ngành, lĩnh vực sản xuất bị ảnh hưởng, lao động phải tạm ngừng hoặc làm việc luân phiên, chuỗi cung ứng nguyên, vật liệu đầu vào bị gián đoạn gây đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn dịch Covid -19 bùng phát trở lại (gọi tắt là lần 2), nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng nghiêm trọng phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trước yêu cầu đòi hỏi cung cấp thông tin kịp thời làm cơ sở để Chính phủ đưa ra những chính sách điều hành phù hợp, ngành Thống kê đã triển khai khảo sát nhanh 2 lần (lần 1 vào tháng 4/2020 và lần 2 vào tháng 9/2020), thu thập thông tin của doanh nghiệp bị tác động bởi dịch Covid -19, đồng thời đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương trong thời gian qua. Toàn bộ thông tin cuộc khảo sát này đánh giá khách quan từ phía doanh nghiệp. Trong đợt khảo sát thứ nhất, cả tỉnh Lâm Đồng có 1.334 doanh nghiệp tham gia trả lời, chiếm gần 23% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Ở lần khảo sát thứ 2 có 1.841 doanh nghiệp tham gia trả lời, chiếm trên 31%. Tỷ lệ doanh nghiệp tại Lâm Đồng bị tác động của dịch Covid -19 qua 02 đợt khảo sát lần lượt là 83,73% và 78,68%.

  Đáng chú ý kết quả khảo sát nhanh lần 2 đã nhận diện rõ hơn các khó khăn của doanh nghiệp khi dịch bùng phát trở lại, đồng thời phản ánh khá đầy đủ về hiệu quả thực thi các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương đối với các doanh nghiệp, thể hiện trên các mặt:

I. Tác động của dịch Covid -19 tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp:          

1. Doanh nghiệp thiệt hại nặng

Tại thời điểm khảo sát lần 2 (từ ngày 10.9.2020 đến 20.9.2020), tác động tiêu cực của dịch Covid-19 đến khu vực DN đã bộc lộ, khu vực doanh nghiệp FDI và DN ngoài nhà nước tiếp tục bị tác động mạnh (trên 77%), trong đó DN FDI 77,27% và DN ngoài nhà nước 78,85%, tăng so khảo sát lần 1 (tháng 4/2020) lần lượt là 6,22% và 9,18%).

Theo khảo sát, khu vực dịch vụ bị tác động nhiều nhất từ dịch Covid-19 (gần 90%), tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng (81,3%); trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng ít hơn 69,49% (quy mô của các DN khu vực này chiếm tỷ lệ rất thấp trong toàn bộ DN). Nhiều ngành tiếp tục chịu tác động tiêu cực từ dịch Covid-19, trong đó một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề như sản xuất đồ uống (100%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (97,39%), vận tải (85%)...

2. Nhiều lao động nghỉ việc

Cuộc khảo sát cũng cho thấy hệ lụy nghiêm trọng của làn sóng dịch lần thứ 2 là hiện tượng cắt giảm lao động đã bắt đầu diễn ra trên diện rộng. Ở đợt dịch lần đầu, phần lớn DN đều cố gắng giữ người lao động, không sa thải lao động nhưng ở đợt dịch thứ 2 đã có sự biến động về lực lượng lao động.   

Cụ thể, có 6,67% lao động trong các DN tạm nghỉ việc không lương, tỷ lệ này cao nhất thuộc về các DN có quy mô siêu nhỏ (8,82%), DN nhỏ (7,29%) và DN ngoài nhà nước (8,27%). Có 11,75% lao động ở các DN đã thực hiện giãn việc/nghỉ luân phiên, chủ yếu DN ngoài nhà nước (gần 14%). Khu vực dịch vụ có tỷ lệ lao động nghỉ việc không lương và giãn việc cao nhất lần lượt là 8,62% và 13,36%, tập trung chủ yếu ở các ngành: dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải, giáo dục, đào tạo, nghệ thuật, vui chơi, giải trí...

Nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ do dịch tái bùng phát. Lâm Đồng có gần 14,71% số lao động hiện có bị giảm lương, trong đó DN có quy mô lớn có tỷ lệ cắt giảm lương cao nhất (17,22%); DN siêu nhỏ: 15,02%; DN nhỏ: 14,28% DN ngoài nhà nước có tỷ lệ lao động bị cắt giảm lương khá cao (17,2%) và DN nhà nước tỷ lệ 7,11%, trong khi khu vực DN FDI tỷ lệ này dưới 3%. Một số ngành có tỷ lệ bị cắt giảm lương cao như: dịch vụ lưu trú (44,82%), sản xuất đồ uống (44,4%), dịch vụ ăn uống (33,86%), vận tải kho bãi (18,09%).

Ước tính bình quân năm 2020 tỷ lệ sử dụng lao động chỉ bằng xấp xỉ 87% so với năm 2019.  DN có quy mô nhỏ và quy mô lớn có tỷ lệ sử dụng lao động thấp nhất với lần lượt là 87,87% và 88,3%. Khu vực DN FDI và DN nhà nước có tỷ lệ sử sụng lao động thấp nhất lần lượt là 80,87% và 97,16%.

3. Thiếu hụt nguồn nguyên liệu

Dịch covid -19 làm nhiều DN trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu thiếu hụt nguồn nguyên liệu, hàng hóa đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất. Kết quả khảo sát có 1,9% số DN thiếu hụt nguyên liệu, hàng hóa đầu vào, trong đó DN quy mô lớn có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất (4,3%) và DN quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ thấp nhất (1,2%). DN ngoài nhà nước có 1,9% bị thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào.

Việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu, hàng hóa đầu vào của DN không chỉ phụ thuộc vào nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu mà còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, hàng hóa trong nước. Có 1,5% DN thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào từ trong nước và 2,1% DN thiếu hụt từ nhập khẩu nguyên liệu, hàng hóa đầu vào.

Với việc cắt giảm lao động đồng nghĩa với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN bị thu hẹp, quy mô nhỏ lại. Bên cạnh đó, hàng hóa sản xuất ra gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ đã làm cho doanh thu bị sụt giảm.

Trong trường hợp dịch bệnh được kiểm soát tốt, dự kiến số DN được khảo sát doanh thu năm 2020 bằng 98,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó DN FDI  thấp nhất bằng 91,5%; tập trung ở doanh nghiệp lớn và siêu nhỏ với tỷ lệ lần lượt là 87,9% và 94%.

Ngược lại, trường hợp dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, ước tính doanh thu năm 2020 chỉ bằng 82,1% so với năm 2019, trong đó DN quy mô lớn doanh thu bằng 77,5% trong khi DN nhỏ chỉ bằng 73,9% doanh thu cùng kỳ.

DN có quy mô càng lớn thì tỷ lệ DN chịu tác động từ dịch Covid-19 càng lớn. Điều này có thể lý giải các DN này thường là những đơn vị hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm DN quy mô nhỏ sẽ chịu tác động lan tỏa nhiều hơn khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu.

II. Hiệu quả thực thi các chính sách của Chính phủ, bộ ngành, địa phương và một số giải pháp áp dụng của DN trước ảnh hưởng của dịch Covid -19.

1. Hiệu quả thực thi các chính sách của Chính phủ, bộ ngành, địa phương đối với doanh nghiệp.

Ngày 04.3.2020, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 11 về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid -19. Theo Chỉ thị 11, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí... đối với khách hàng là DN đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (trước hết là gói hỗ trợ tín dụng khoảng 250 nghìn tỷ đồng).

Các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ ban hành trong thời gian qua được đánh giá là rất phù hợp với kỳ vọng của cộng đồng DN. Trong đó, giải pháp “không điều chỉnh tăng giá trong quý I và quý II năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do Nhà nước kiểm soát giá” và giải pháp “miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng” được nhiều DN ủng hộ nhất. Giải pháp về “cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các khoản nợ” và “cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn” cũng được DN đánh giá tích cực. Kết quả khảo sát lần 2 cho thấy tỷ lệ DN không gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay gần 17% trong tổng số DN; trong đó DN FDI 23,8%, DN nhà nước 18,2% và DN ngoài nhà nước là 16,3%. Tỷ lệ DN đã được nhận hỗ trợ của Nhà nước chiếm 11,7%, trong đó DN nhà nước tỷ lệ 14,3%, DN FDI 11,1% và DN ngoài nhà nước tỷ lệ 10,1%.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát lần thứ 2 trả lời của DN về thực hiện các giải pháp thì quá trình thực thi các giải pháp hỗ trợ còn khá nhiều hạn chế, bất cập. Gần 84% DN được khảo sát đánh giá là gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay, trong đó DN ngoài nhà nước là đối tượng gặp khó khăn lớn nhất (84%). Có gần 72% DN gặp khó khăn do quy trình, thủ tục vay vốn phức tạp; hơn 55% DN không có tài sản thế chấp để vay vốn, đồng thời DN đang có dư nợ nhiều cũng bị hạn chế tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng là 48,3%.

2. Giải pháp chủ động ứng phó trước ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Cuộc khảo sát đã thấy rõ, để ứng phó với tác động Covid-19, DN trên địa bàn Lâm Đồng đã phải áp dụng nhiều giải pháp để có thể tồn tại, vượt qua thời kỳ khó khăn. Hơn 62% DN đã áp dụng ít nhất một giải pháp, từ thay đổi phương thức hoạt động đến chiến lược sản xuất kinh doanh. DN có quy mô càng lớn càng chủ động tìm kiếp giải pháp để khắc phục khó khăn: 63,2% DN quy mô lớn có áp dụng một trong các giải pháp, trong khi đó chỉ có 60,1% DN quy mô siêu nhỏ thực hiện việc này. 

Các giải pháp được DN áp dụng nhiều như: Tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra ngoài thị trường truyền thống có 23,8% DN áp dụng; đẩy mạnh thương mại điện tử có 15,9%; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn/tay nghề cho người lao động có 12,7%; Sản xuất/cung cấp mặt hàng/dịch vụ mới theo nhu cầu của thị trường trong giai đoạn dịch bệnh có 10,5% DN áp dụng.

3. Giải pháp dự kiến áp dụng của DN để vượt qua thời kỳ dịch Covid-19.

Đứng trước những khó khăn, thách thức mà dịch Covid-19 mang đến, nhiều DN đã tìm ra hướng đi mới cho chính mình để tiếp tục ổn định sản xuất kinh doanh trong tương lai.

Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 85% DN sẽ áp dụng đồng bộ các giải pháp để vượt qua thời kỳ dịch Covid -19; trong đó 60% DN tập trung phát triển thị trường tiêu thụ trong nước; 48,6% DN sẽ thay đổi giá sản phẩm, dịch vụ; 47,1% sẽ đẩy mạnh thương mại điện tử; 33,1% chuyển đổi sản phẩm/dịch vụ chủ lực; 31,1% sản xuất sản phẩm mới đối với thị trường; 29,7% tập trung phát triển chuỗi cung ứng trong nước để thay thế nguồn nhập khẩu.

III. Kiến nghị của doanh nghiệp ở Lâm Đồng.

Thực tế các chính sách hỗ trợ DN ở đợt 1 có nguồn lực để thực hiện là không nhỏ, song hiệu quả mà chính sách mang lại chưa thực sự được như kỳ vọng. Theo kết quả khảo sát, ngoài vấn đề gia hạn nộp các loại thuế, phí có thể thực hiện được ngay thì hầu hết DN cho rằng họ chưa “với” tới được các chính sách hỗ trợ vì những quy định cụ thể khá ngặt nghèo, ví dụ như việc vay tiền để trả lương cho người lao động trong lúc khó khăn. Điều đó buộc DN phải tự tìm mọi cách xoay xở trước khi có thể hưởng lợi từ chính sách nếu không muốn bị lâm vào tình trạng đóng cửa, phá sản… Các chính sách, gói hỗ trợ để đối phó với đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 1 dù đã được triển khai từ nhiều tháng qua nhưng theo đánh giá chung là chưa thể hiện được vai trò “cứu trợ” một cách tốt nhất. Nguyên nhân chủ yếu do DN chưa đáp ứng được điều kiện để nhận hỗ trợ (chiếm 46,7%); không biết về chính sách (32,8%); quy trình, thủ tục tiếp cận quá khó khăn (15,8%).

Doanh nghiệp mong muốn khi xây dựng chính sách hỗ trợ, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và các cấp chính quyền cần tính toán chặt chẽ, đầy đủ các yếu tố tác động, dựa trên thực tế khó khăn của DN để xây dựng chính sách, đưa ra được các gói hỗ trợ cần đủ mạnh về liều lượng và kịp thời hơn, hướng đến đúng đối tượng hơn. Phải kết nối các đơn vị xúc tiến thương mại, tìm mọi cách giải quyết đầu vào, đầu ra cho sản phẩm trong nước thông qua các gói kích cầu. Có gần 72% DN tham gia khảo sát kỳ vọng sẽ gia hạn và sửa đổi các giải pháp, chính sách về thuế và tiền thuê đất; 58,6% tiếp tục các chính sách kích cầu tiêu dùng trong nước; có 57,5% DN kỳ vọng gia hạn và sửa đổi các chính sách về tài chính, tín dụng; 64,8% rà soát điều chỉnh giảm phí, lệ phí áp dụng cho năm 2021 và có gần 40% kỳ vọng sẽ có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động chuyển nghề do thay đổi hoặc mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

DN rất cần được hỗ trợ từ Chính phủ, các cấp, ngành nhưng hỗ trợ phải xác định theo ngành, nghề, lĩnh vực và hỗ trợ theo vị trí của từng lĩnh vực, từng DN nằm trong chu trình phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Có những lĩnh vực, DN không tạo ra nguồn thu lớn, không có đóng góp nhiều cho ngân sách tỉnh, nhưng có đóng góp quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống, xã hội thì vẫn cần phải hỗ trợ.

Những DN bị ảnh hưởng nhiều nhưng khả năng phục hồi nhanh và phục hồi phụ thuộc vào sự phục hồi của các lĩnh vực khác thì cần phải cân nhắc. Đặc biệt, cần hỗ trợ mạnh về lãi suất vào những lĩnh vực quan trọng, có tính lan tỏa cho nền kinh tế như chuyển đổi số, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, tự động hóa... Bởi, việc hỗ trợ lần này không chỉ khắc phục khó khăn trước mắt mà còn vực dậy thực lực cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn sau khi đại dịch đi qua.

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, bản thân mỗi DN cần phải không ngừng nỗ lực để vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Tiếp tục chủ động linh hoạt, sáng tạo chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế để hoạt động hiệu quả trong giai đoạn dịch bệnh còn diễn biến phức tạp. Đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, tăng cường liên kết, hợp tác kinh doanh phát triển các chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và toàn cầu.


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt