Tin tức - Sự kiện
Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội năm 2020

 

Đại dịch COVID-19 bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã khiến bức tranh kinh tế thế giới năm 2020 hết sức u ám. Tại thời điểm cuối tháng 6/2020, các tổ chức quốc tế và thể chế tài chính đều đồng loạt nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy thoái sâu trong năm 2020. Tuy nhiên, đến thời điểm giữa tháng 12, khi phần lớn các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch COVID-19, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn.

Năm 2020 là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Chính phủ đã xác định phương châm hành động của năm: “Kỷ cương, liêm chính, hành động, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả”. Một năm đầy khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước như: đại dịch Covid-19 chưa từng có trong nhiều thập kỷ xảy ra trên toàn cầu làm cho các hoạt động kinh tế không triển khai được bình thường và làm đứt gãy chuỗi thương mại toàn cầu, gây hậu quả nghiêm trọng tới nên kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam và tỉnh Lâm Đồng nói riêng; cạnh tranh địa chính trị, địa kinh tế đi đôi với căng thẳng thương mại giữa một số nền kinh tế lớn; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy…

Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự chung sức, đồng lòng, nỗ lực vượt bậc, quyết liệt, kịp thời của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp, nhất là trong năm 2020 vừa tập trung phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta đã vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 tại Đại hội Đảng lần thứ X của tỉnh và đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật.

Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại. Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tới hoạt động sản xuất và xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao. Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng.

 

I. Về kinh tế:

1. Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính năm 2020

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính năm 2020 tăng 2,01% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng thấp nhất so mức tăng của các năm gần đây (2016-2020)[1]. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,38%, đóng góp 1,58 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 1,86 %, đóng góp 0,34 điểm phần trăm; và khu vực dịch vụ chỉ đạt 99,02% so với cùng kỳ, giảm 0,4 điểm phần trăm nên tốc độ tăng trưởng chung đạt thấp do khu vực này chiếm tỷ trọng cao, khoảng 46% trong GRDP; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 10%, đóng góp 0,49% điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội như tăng trưởng kinh tế; đầu tư thương mại; gián đoạn các chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa quan trọng; suy giảm tiêu dùng tác động lớn đến dịch vụ và du lịch.

 

            - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,38% so với cùng kỳ. Hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong khu vực I (gần 97%) tăng 4,39%, hoạt động lâm nghiệp tăng 2,69% và hoạt động thủy sản tăng 5,74%. Hai ngành này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong khu vực nông, lâm, thủy sản.

            + Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng trong năm 2020 ước đạt 387.158,16 ha, tăng 0,83% (+3.199,9 ha) so với cùng kỳ;  chia ra: cây hàng năm đạt 129.820,06 ha, tăng 0,9%, cây lâu năm 257.338.1 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Trong lĩnh vực trồng trọt cũng gặp một số khó khan đó là: do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp, tình hình nắng nóng kéo dài, hiện tượng khô hạn ở một số vùng như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên…; bên cạnh đó, dịch Covid-19 bùng phát mạnh nên các hoạt động lễ hội, hội thảo, hội nghị phải hạn chế nên nhu cầu hoa tươi trang trí cũng giảm mạnh; các chợ đầu mối cũng như những điểm nhập hoa đều không thể tiêu thụ được nhiều nên xảy ra tình trạng hoa đến thời kỳ thu hoạch không bán được, một vài nhà vườn phải đổ bỏ như hoa hồng, cúc…; những đơn vị xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng bởi sau khi ban bố Đại dịch toàn cầu thì tổng cầu trên thế giới cũng giảm sút, do các nước đóng cửa biên giới không nhập hàng nên xuất khẩu chững lại.

            + Chăn nuôi: Tổng đàn trâu ước năm 2020 đạt 13.796 con, giảm 0,27% so với cùng kỳ do hiệu quả chăn nuôi thấp, cơ giới hóa nông nghiệp được đẩy mạnh nhu cầu sử dụng trâu để làm sức kéo giảm. Đàn bò ước đạt 104.022 con, tăng 7,76% so với cùng kỳ. Đàn lợn đạt 379.504 con, tăng 8,17% so với cùng kỳ, nguyên nhân do bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra từ tháng 6/2019 đến tháng 3/2020 công bố hết dịch nên tổng đàn lợn có dấu hiệu phục hồi trở lại. Đàn gà ước đạt 5.024,7 nghìn con, tăng 6,82%.

            + Lâm nghiệp: Ước tính năm 2020 diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh thực hiện 1.741 ha, tăng 2,29%; chăm sóc rừng trồng ước đạt 40.890ha, tăng 1,03%; giao khoán quản lý bảo vệ rừng ước đạt 439.878,1ha, giảm 0,68% so với cùng kỳ.

            + Thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh ước đạt 2.309,7 ha, giảm 5,55% so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 9.020,6 tấn, tăng 5,01% so với cùng kỳ, chủ yếu ở khâu nuôi trồng.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp giảm 2,92% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,31%, là động lực tăng trưởng cho ngành công nghiệp của tỉnh, chiếm tỷ trọng gần 48% trong ngành công nghiệp, với các nhà máy sản xuất các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu nông sản của địa phương như: chè, cà phê, điều, rau quả, atiso, cây dược liệu, tơ tằm và các sản phẩm vật nuôi khác. Tuy nhiên, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2020 giảm 7,88% so với cùng kỳ. Đặc biệt, tình hình hạn hán 6 tháng đầu năm làm mực nước trên các hồ thủy điện xuống thấp, đồng thời trong hơn 02 tháng có 03 nhà máy thủy điện là Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 và ĐamRi tạm ngưng hoạt động đã ảnh hưởng đến sản lượng điện phát ra. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước chiếm tỷ trọng khá cao gần 42% trong ngành công nghiệp nhưng năm 2020 giảm 12,89% so với cùng kỳ; ngoài ra các ngành khác như khai thác quặng kim loại giảm 12,75%, ngành khai khoáng giảm 11,59% nên ảnh hưởng chung đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Ngành xây dựng tăng 8,04%, đóng góp 0,63 điểm phần tram vào mức tăng trưởng chung.

- Khu vực dịch vụ: Trong những tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu, các hoạt động lưu trú, ăn uống, giáo dục đào tạo, vui chơi giải trí; đặc biệt là lượng khách du lịch đến Lâm Đồng giảm, nhiều phòng nghỉ và tour du lịch đã đăng ký bị hủy trước đó, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh lĩnh vực khách sạn, nhà hàng ăn uống, các khu vui chơi giải trí, điểm tham quan du lịch và vận tải trên địa bàn toàn tỉnh bị ảnh hưởng, thiệt hại về doanh thu và kết quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, thực hiện Chỉ thị 15, 16 của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19; để kiểm soát chặt chẽ, triệt để các nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh Covid-19, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho nhân dân và khách du lịch, UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh tạm dừng các hoạt động kinh doanh tại các điểm vui chơi giải trí (Vũ trường, quán bar, karaoke, rạp chiếu phim, massage, trò chơi điện tử) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo quy định nên đã ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng của các hoạt động này.

Khu vực dịch vụ năm 2020 giảm 0,98% so với cùng kỳ, làm giảm 0,4 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP, điều chưa từng xảy ra trong các năm qua. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn làm giảm mức tăng GRDP của năm như: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng gần 20% của khu vực dịch vụ, giảm 5,55% so với cùng kỳ, trong đó bán buôn giảm nhiều vì các doanh nghiệp, cơ sở cá thể kinh doanh mặt hàng cà phê không bán được, lượng tồn kho còn cao, tốc độ tăng trưởng ở mức âm; ngành vận tải kho bãi giảm 12,38% (lượt khách vận chuyển đạt 31,2 triệu lượt khách, giảm 19,91%; hàng hóa vận chuyển đạt 12,7 triệu tấn, giảm 9,37%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 13,06%, làm giảm 0,6 điểm phần trăm trong mức tăng trưởng chung. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 3.615,8 nghìn lượt khách, bằng 74,89% (khách trong nước đạt 3.508,5 nghìn lượt khách, bằng 77,76%; khách quốc tế đạt 107,3 nghìn lượt khách, bằng 33,98% so với cùng kỳ); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm hơn 6%; hoạt động dịch vụ khác giảm 15,08%. Mặc dù các hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, hoạt động giáo dục và đào tạo, hoạt động y tế… đều tăng nhưng không nhiều, đồng thời tỷ trọng đóng góp vào khu vực dịch vụ nhỏ.

            - Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 10% so với cùng kỳ, với mức đóng góp 0,49 điểm phần trăm trong mức tăng GRDP. Sau khi dịch Covid-19 bùng phát, nguồn thu từ dịch vụ du lịch, vận tải, sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng nông sản rau, củ, quả... gặp nhiều khó khăn và giảm sâu so với mọi năm. Tuy nhiên, thu thuế năm 2020 từ doanh nghiệp địa phương (chiếm tỷ trọng gần 10% trong tổng thu ngân sách) tăng gần 10 lần so năm 2019 (thu thuế tiêu thụ đặc biệt từ sản phẩm bia lon); thu từ xổ số kiến thiết tăng 34,29% so cùng kỳ, góp phần vào tăng trưởng chung của thuế sản phẩm.

- Cơ cấu kinh tế năm 2020: Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn năm 2020 theo giá hiện hành đạt 82.357,4 tỷ đồng, tăng 4,94% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực I đạt 31.481,6 tỷ đồng, tăng 11,31%; khu vực II đạt 14.939,6 tỷ đồng, tăng 1,5%; khu vực III đạt 31.604,7 tỷ đồng, giảm 0,16%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 4.331,5 tỷ đồng, tăng 13,32% so với cùng kỳ. Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2020: khu vực I là 40,35%, khu vực II là 19,15% và khu vực III là 40,5%. GRDP bình quân đầu người đạt 62,9 triệu đồng/người/năm, tăng 4,1% so năm 2019([2]).

2. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Dự kiến năm 2020, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 1.250 doanh nghiệp, tăng 13,63 % so cùng kỳ; có 49 doanh nghiệp giải thể, giảm 52,89%, 417 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động kinh doanh, tăng 38%; có 246 doanh nghiệp hoạt động trở lại.

3. Tài chính và ngân hàng

            Năm 2020 dự ước tổng thu ngân sách nhà nước đạt gần 9.241 tỷ đồng, bằng 99,42% dự toán, tăng 6,47% so với cùng kỳ. Trong đó, các khoản thu do ngành thuế quản lý đạt gần 8.997 tỷ đồng, bằng 101,72% kế hoạch dự toán giao. Khoản thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 760,4 tỷ đồng, giảm 23,25%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 919,9 tỷ, tăng 9 lần so với cùng kỳ, nguyên nhân do thu thuế tiêu thụ đặc biệt sản phẩm bia.

            Tổng chi ngân sách địa phương năm 2020 ước đạt 14.344,3 tỷ, tăng 8,77% so với cùng kỳ, giảm 89,2 nghìn tỷ đồng, bằng 99,38% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 2.533,2 tỷ đồng, tăng 5,84%; chi thường xuyên đạt 8.000 tỷ đồng, tăng 2,3%.

Ước năm 2020 vốn huy động đạt 66.000 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 65.300 tỷ đồng, tăng 14,66% so với cùng kỳ; tiền gửi thanh toán, giấy tờ có giá đạt 700 tỷ đồng, tăng 90,22% so với cùng kỳ.

Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 115.000 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 35.500 tỷ đồng, tăng 4,9%; dư nợ ngắn hạn 79.500 tỷ đồng, tăng 16,87% so với cùng kỳ. Các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn dư nợ cho vay 78.700 tỷ đồng, cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 900 tỷ đồng.

                        4. Đầu tư

            Dự ước vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2020 đạt 25.795 tỷ đồng, tăng 9,74% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 3.683,6 tỷ đồng, tăng 33,95%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 19.529,7 tỷ đồng, tăng 7,29%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 357,8 tỷ đồng, giảm 18,51% so với cùng kỳ. Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2020 đạt 3.399,2 tỷ đồng, tăng 37,53% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 3.044,7 tỷ đồng, tăng 36,13% so với cùng kỳ.

5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tình hình giá cả thị trường năm 2020 có xu hướng tăng, nguyên nhân chủ yếu do điều chỉnh giá xăng, dầu các đợt vào ngày 26/11, ngày 11/12, 26/12; nhóm thực phẩm vẫn tăng do giá mặt hàng thịt lợn, một số mặt hàng rau xanh và thịt gia cầm tăng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2020 tăng 0,06% so với tháng trước, tăng 0,61% so với tháng 12 năm trước và bình quân 12 tháng năm 2020 tăng 3,44% so với cùng kỳ.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng so với tháng trước có 5 nhóm tác động tăng: Nhóm giao thông tăng 2,04%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và chất đốt tăng 0,38%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,2%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. Ngược lại, có 4 nhóm tác động giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,61%; nhóm đồ uống, thuốc lá giảm 0,08%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,06%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,06%; riêng nhóm giáo dục nhóm bưu chính viễn thông ổn định so với tháng trước.

Giá vàng trong nước giảm theo đà giảm của giá vàng thế giới, bình quân giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 5,531 triệu đồng/chỉ, giảm 2,02% so với tháng trước và tăng 29,34% so với cùng kỳ. Giá USD bán ra bình quân tháng năm 2020 dao động ở mức 23.229 đồng/USD; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,17% so với tháng trước và giảm 0,69% so với cùng kỳ.

II. Về xã hội:

1. Lao động việc làm: Trong năm 2020, tỉnh Lâm Đồng dự ước 21.117 người được giải quyết việc làm (năm 2019: 28.900 người); Trong đó, lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản là 15.204 người; lao động công nghiệp và xây dựng là 2.112 người; lao động dịch vụ là 3.801 người. Có thể nhận định chung năm nay tình hình giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn và thiếu ổn định, số người thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao.

Đến 31/12/2020 ước toàn tỉnh có 783.090 người đang làm việc, trong đó tỷ trọng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn là 62,47%, tương đương 489.164 người, cao gấp 1,66 lần so với khu vực thành thị với 293.926 người, chiếm 37,53%.

Ước đến thời điểm 31/12/2020 toàn tỉnh Lâm Đồng có 16.420 người thiếu việc làm (tỷ lệ là 2,08%), trong đó khu vực nông thôn có 9.378 người (tỷ lệ là 1,91%), khu vực thành thị là 7.042 người (tỷ lệ là 2,35%); trước diễn biến dịch bệnh Covid-19 công việc làm thiếu ổn định dẫn đến nhu cầu muốn làm thêm việc lên ở mức rất cao, mong muốn làm thêm việc để tăng thu nhập ổn định cuộc sống.

Tỷ lệ thất nghiệp: Ước tại thời điểm 31/12/2020 là 0,96%, tăng 0,22% so với cuối năm 2019, nhưng giảm 0,27% so với thời điểm 30/9/2020. Tại thời điểm 31/12/2020 toàn tỉnh có 7.617 người thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 1,92%, tương đương với 5.752 người; còn khu vực nông thôn có 1.865 người thất nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,38%.

2. Đời sống dân cư: Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương có cuộc sống ổn định. Những người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nông lâm nghiệp ít bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 hơn, nên thu nhập và đời sống ổn định so với cùng kỳ năm trước. Đối với người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phi nông lâm nghiệp, nhất là khu vực thành thị, nhìn chung đều bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên thu nhập và đời sống giảm so với cùng kỳ năm trước.

Hiện hộ nghèo toàn tỉnh còn 6.338 hộ, chiếm tỷ lệ 1,85%, trong đó tỷ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 6,5%; hộ cận nghèo còn 12.575 hộ.

Tham gia bảo hiểm y tế: Đến đầu tháng 12/2020 toàn tỉnh có 1.153.343 đối tượng tham gia BHYT, tỷ lệ 88,2%, so với đầu năm tăng 18.827 đối tượng tham gia.

(*) Hỗ trợ do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn Lâm Đồng

Từ những khó khăn do dịch Covid – 19, được sự quan tâm kịp thời của Nhà nước đã chi hỗ trợ cho các đối tượng thu nhập thấp, đối tượng bị tổn thương nhiều nhất do dịch bệnh Covid-19 và tính đến ngày 13/12/2020 đã chi hỗ trợ cho 126.717 đối tượng trong tổng số đối tượng hỗ trợ 127.073 (đạt 99,72%), với tổng số tiền 126.515,5 triệu đồng cụ thể:

- Đối tượng Người có công: đã chi trả 7581/7581 đối tượng, tổng số tiền là: 11.349 triệu đồng.

- Đối tượng Bảo trợ xã hội: đã chi trả 31.405/31.405 đối tượng, tổng số tiền là: 46.848 triệu đồng.

- Đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo: đã chi trả 78.047/78.240 đối tượng, tổng số tiền là: 58.532 triệu đồng.

- Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương: đã chi trả 110/110 đối tượng, tổng số tiền là: 491 triệu đồng.

- Hộ kinh doanh: đã chi trả 165/165 hộ với số tiền 165 triệu đồng.

- Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: đã hỗ trợ 33/33 người với số tiền 35 triệu đồng.

- Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm: đã chi cho 9.376/9.539 người với số tiền 9.094,5 triệu đồng.

III. Một số giải pháp

            Để tốc độ tăng trưởng cả năm 2021 đạt từ 7 đến 8% theo Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 07/12/2020 của tỉnh ủy, thì yêu cầu trong trong năm 2021 giá trị tăng thêm của từng khu vực, từng ngành phải tăng trưởng vượt bậc. Cụ thể: Khu vực nông, lâm và thủy sản giữ vững tốc độ tăng bằng năm 2020 ( khoảng 4,48%); khu vực công nghiệp và xây dựng tốc độ tăng trên 6%, nhất là ngành công nghiệp cần tăng trưởng vượt bậc (từ tăng trưởng âm năm 2020, năm 2021 tốc độ tăng trên 4%); đặc biệt là khu vực dịch vụ phải đạt tốc độ tăng tối thiểu là 10% .

Phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, trong đó tập trung vào các nhóm động lực có tính nền tảng cho tăng trưởng kinh tế năm 2021 với các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đa ngành, bền vững, hiện đại có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao, trong đó tập trung đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, thông minh. Quy hoạch lại hệ thống nhà kính, nhà lưới gắn với phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, thân thiện môi trường. Đẩy mạnh thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản, đặc biệt là thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” để tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.

Hai là, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành công nghiệp, tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như: công nghiệp chế biến sâu; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp chế biến dược liệu, dược phẩm và thực phẩm chức năng từ sản phẩm nông nghiệp. Tăng cường đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp; tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống và làng nghề mới; khôi phục phát triển công nghiệp ươm tơ, dệt lụa gắn với vùng nguyên liệu, nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, đan lát phục vụ du lịch.

Ba là, phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ; thu hút đầu tư trung tâm thương mại cao cấp và các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn, hiện đại tại các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh. Tăng cường kết nối giữa người sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã, các hiệp hội và cơ quan quản lý để phát triển mạnh thị trường, chú trọng thị trường nội địa.

Bốn là, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng qua chế biến có lợi thế về nguyên liệu của địa phương. Chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Năm là, tiếp tục khai thác, phát huy lợi thế về khí hậu, cảnh quan, môi trường, phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp,nâng cao chất lượng phục vụ. Khuyến khích phát triển các loại hình du lịch mới lạ, hấp dẫn; giữ gìn, tôn tạo kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên.

Sáu là, Phát triển mạnh khu vực dịch vụ theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, nhất là các dịch vụ có lợi thế, giá trị gia tăng cao như du lịch, bán buôn, bán lẻ các mặt hang nông sản, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính – viễn thông.

Bảy là, tiếp tục phát triển khoa học và công nghệ, tập trung phát triển một số ngành khoa học có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với tiềm năng, điều kiện của tỉnh.

Tám là, tập trung giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại người lao động, đẩy mạnh kết nối cung cầu lao động. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, góp phần đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Chín là, tập trung thực hiện “nhiệm vụ kép” là vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh vẫn còn diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19./.


[1] Năm 2016: 6,2%;  năm 2017: 7,47%; năm 2018: 7,69%; năm 2019: 5,83%

[2] Kế hoạch năm 2020: cơ cấu kinh tế, khu vực I: 43,7-43,8%; khu vực II: 18,1-18,2%;khu vực III: 38,6-38,8%; GRDP bình quân đầu người: 73-75%


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt