Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng ước năm 2020

Năm 2020 là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Với mục tiêu chủ yếu là phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở giữ vững, đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược và cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát huy đổi mới, sáng tạo. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đẩy mạnh khởi nghiệp. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng chống tham nhũng. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Kinh tế - xã hội diễn ra trong bối cảnh tình hình thị trường trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi theo hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid - 19 bùng phát mạnh ở các quốc gia và vùng lãnh thổ; cùng với biến đổi khí hậu đã tác động tiêu cực đến kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cũng phải đối mặt không ít khó khăn với việc biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến sản xuất của các ngành kinh tế và đời sống nhân dân.

Năm 2020 do chịu ảnh hưởng chung của đại dịch Covid -19 đã tác động tiêu cực đến các ngành dịch vụ của Lâm Đồng giảm sâu so với cùng kỳ năm trước; đời sống của nhân dân vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt, tập trung tổ chức triển khai bằng nhiều biện pháp, giải pháp tích cực, các chương trình mục tiêu đã có bước cải thiện đáng kể, nền kinh tế đang hòa nhập sâu rộng trên thị trường quốc tế và khu vực; kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên.

      1. Hoạt động tài chính, tín dụng

            1.1. Hoạt động tài chính

Năm 2020 dự ước tổng thu ngân sách nhà nước đạt gần 9.241 tỷ đồng, bằng 99,42% dự toán, tăng 6,47% so với cùng kỳ. Trong đó, các khoản thu do ngành thuế quản lý đạt gần 8.997 tỷ đồng, bằng 101,72% kế hoạch dự toán giao. Khoản thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 760,4 tỷ đồng, giảm 23,25%; thu từ doanh nghiệp địa phương đạt 919,9 tỷ, tăng 9 lần so với cùng kỳ, nguyên nhân do thu thuế tiêu thụ đặc biệt sản phẩm bia; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 106,7 tỷ đồng, tăng 29,73%; thu thuế ngoài quốc doanh đạt 1.418,5 tỷ đồng, giảm 21,7%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 243,6 tỷ đồng, giảm 36,22% so với cùng kỳ.

Tổng thu ngân sách địa phương năm 2020 ước đạt 17.820,6 tỷ đồng, tăng 1,22% so với cùng kỳ. Trong đó, thu ngân sách được hưởng theo phân cấp đạt 8.271,8 tỷ đồng, tăng 7,36%; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 5.828,5 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương năm 2020 ước đạt 14.344,3 tỷ, tăng 8,77% so với cùng kỳ, giảm 89,2 nghìn tỷ đồng, bằng 99,38% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 2.533,2 tỷ đồng, tăng 5,84%; chi thường xuyên đạt 8.000 tỷ đồng, tăng 2,3%.

1.2. Hoạt động tín dụng

Ước năm 2020 vốn huy động đạt 66.000 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi dân cư đạt 65.300 tỷ đồng, tăng 14,66% so với cùng kỳ; tiền gửi thanh toán, giấy tờ có giá đạt 700 tỷ đồng, tăng 90,22% so với cùng kỳ.

Ước năm 2020 tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 115.000 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ trung dài hạn 35.500 tỷ đồng, tăng 4,9%; dư nợ ngắn hạn 79.500 tỷ đồng, tăng 16,87% so với cùng kỳ. Các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn dư nợ cho vay 78.700 tỷ đồng, cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 900 tỷ đồng.

            Ước năm 2020 tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 660 tỷ đồng, chiếm 0,57% tổng dư nợ, tăng 33,06% so với cùng kỳ.

2. Giá cả thị trường

            2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2020 tăng 0,06% so với tháng trước, tăng 0,61% so với tháng 12 năm trước và bình quân 12 tháng năm 2020 tăng 3,44% so với cùng kỳ. Những yếu tố chính tác động tăng chỉ số CPI tháng này là: Giá xăng, dầu điều chỉnh tăng hai đợt vào ngày 26/11 và 11/12/2020; giá gas tăng 6.500 đồng/bình 12kg; bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụ gạo và một số hàng hóa, dịch vụ khác tăng thời điểm cuối năm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng so với tháng trước có 5 nhóm tác động tăng: Nhóm giao thông tăng 2,04%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và chất đốt tăng 0,38%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,2%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. Ngược lại, có 4 nhóm tác động giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,61%; nhóm đồ uống, thuốc lá giảm 0,08%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,06%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,06%; riêng nhóm giáo dục và nhóm bưu chính viễn thông ổn định so với tháng trước.

2.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng thế giới đang dao động giữa sự lạc quan về vắc-xin ngừa Covid-19 và hy vọng gói kích thích kinh tế của Mỹ; đồng thời việc đồng Bitcoin tăng giá mạnh và các Ngân hàng Trung ương mạnh tay bán vàng cũng khiến cho đà phục hồi của vàng bị hạn chế. Mặt khác, do thị trường kim loại quý đang bước vào mùa nghỉ lễ, khiến khối lượng giao dịch bình quân giảm mạnh. Giá vàng trong nước giảm theo đà giảm của giá vàng thế giới, bình quân giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 5,531 triệu đồng/chỉ, giảm 2,02% so với tháng trước.

 Trong nước, giá USD giảm trên cả thị trường ngân hàng và thị trường tự do. Tỷ giá USD trên địa bàn tỉnh dao động quanh mức 23.229 đồng/USD, giảm 0,17% so với tháng trước và giảm 1,26% so với cùng kỳ.     

            2.3. Chỉ số giá sản xuất

                        Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV năm 2020 tăng 12,9% so với cùng kỳ và tăng 5,7% so với quý trước. Trong đó: So với cùng kỳ, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp tăng 13,24% (cụ thể: cây hàng năm tăng 22,05%, cây lâu năm tăng 3,22%, sản phẩm chăn nuôi tăng 26,46%), sản phẩm lâm nghiệp giảm 1,33%, sản phẩm thủy sản tăng 0,63%. So với quý trước, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp tăng 5,83% (cụ thể: cây hàng năm tăng 14,62%, cây lâu năm tăng 1,91%, sản phẩm chăn nuôi giảm 3,01%), sản phẩm lâm nghiệp giảm 0,4%, sản phẩm thủy sản tăng 1,76%.

            Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý IV năm 2020 giảm 4,39% so với cùng kỳ và tăng 1,7% so với quý trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,41% so với cùng kỳ và giảm 0,1% so với quý trước; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,93% so với cùng kỳ và giảm 0,11% so với quý trước; điện và phân phối điện giảm 9,72% so với cùng kỳ và tăng 5,75% so với quý trước; nước tự nhiên khai thác giảm 2,6% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước.

            Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý IV năm 2020 giảm 4,34% so với cùng kỳ và giảm 0,67% so với quý trước. So với cùng kỳ, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,54%; sử dụng cho ngành khai khoáng tăng 3,49%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,28% và sử dụng cho ngành xây dựng tăng 3,69%. So với quý trước, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,5%; sử dụng cho ngành khai khoáng tăng 0,44%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,3% và sử dụng cho ngành xây dựng tăng 2,37%.

            Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý IV năm 2020 giảm 0,48% so với cùng kỳ và giảm 0,08% so với quý trước. Trong đó: Giá cước dịch vụ vận tải hành khách giảm 2,79% so với cùng kỳ và giảm 0,24% so với quý trước; giá cước dịch vụ vận tải hàng hóa tăng 0,88%, dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải giảm 1% so với cùng kỳ và ổn định so với quý trước; dịch vụ bưu chính, chuyển phát ổn định. Chia theo ngành vận tải: dịch vụ vận tải đường bộ tăng 0,68% so với cùng kỳ và tăng 0,22% so với quý trước; dịch vụ vận tải hàng không bằng 70,65% so với cùng kỳ và giảm 8,68 so với quý trước.

Chỉ số giá dịch vụ quý IV năm 2020 tăng 4,01% so với cùng kỳ và tăng 1,61% so với quý trước. Trong đó: so với cùng kỳ, hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 15,92%; hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình tăng 8,06%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 3,12%; hoạt động hành chính và hỗ trợ giảm 0,38%; nghệ thuật vui chơi và giải trí giảm 1,85%. So với quý trước, hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,94%; giáo dục và đào tạo tăng 2,13%; hoạt động hành chính và hỗ trợ tăng 1,74%, dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,45%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 0,21%; nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 0,04%; các ngành dịch vụ còn lại ổn định so với quý trước.

                        3. Đầu tư

                        Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý IV năm 2020 ước đạt 8.354,8 tỷ đồng, tăng 12,14% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 1.471,3 tỷ đồng, tăng 47,5%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 6.111,1 tỷ đồng, tăng 6,9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 62,1 tỷ đồng, giảm 42,4% so với cùng kỳ. Dự ước vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2020 đạt 25.795 tỷ đồng, tăng 9,74% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 3.683,6 tỷ đồng, tăng 33,95%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 19.529,7 tỷ đồng, tăng 7,29%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 357,8 tỷ đồng, giảm 18,51% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

Triệu đồng; %

 

Thực hiện

Ước tính

Cộng dồn

So với cùng kỳ

năm trước (%)

 

quý III

quý IV

12 tháng

Quý IV

12 tháng

 

năm

năm

năm

năm

năm

 

2020

2020

2020

2020

2020

TỔNG SỐ

7.014.991

8.354.815

25.795.042

112,14

109,74

Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước

1.040.339

1.471.270

3.683.636

147,50

133,95

Vốn trái phiếu Chính phủ

104.730

85.680

195.846

133,48

152,59

Vốn tín dụng đầu tư phát triển

294

2.987

9.848

   

Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước)

28.000

29.000

112.500

103,57

102,95

Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước (Vốn tự có)

103.666

191.773

477.718

126,34

98,57

Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân

5.246.834

6.111.055

19.529.722

106,90

107,29

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

101.128

62.050

357.772

57,60

81,49

Vốn huy động khác

390.000

401.000

1.428.000

104,16

103,86

            Đối với nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 12/2020 ước đạt 584,4 tỷ đồng, tăng 48,61% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 515,3 tỷ đồng, tăng 43,44% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 186,5 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 88,6 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 201 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 7,1 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 67,5 tỷ đồng, tăng 107,73% so với cùng kỳ. Trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 30,3 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 18,5 tỷ đồng.

            Nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý IV năm 2020 đạt 1.387,6 tỷ đồng, tăng 51,03% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.215 tỷ đồng, tăng 46,44% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 523,1 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 199,2 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 79 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 403,9 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 9,8 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 171 tỷ đồng, tăng 101,9% so với cùng kỳ; trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 80,6 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 43,2 tỷ đồng.

            Dự ước nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2020 đạt 3.399,2 tỷ đồng, tăng 37,53% so với cùng kỳ; nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 3.044,7 tỷ đồng, tăng 36,13% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 1.378 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đạt 535,6 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) đạt 155,7 tỷ đồng; vốn từ xổ số kiến thiết đạt 884,4 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 91 tỷ đồng. Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 352,9 tỷ đồng, tăng 57,64% so với cùng kỳ; trong đó; vốn cân đối ngân sách huyện đạt 198,7 tỷ đồng; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 87,6 tỷ đồng.

            Tính đến cuối tháng 12/2020, trên địa bàn tỉnh có 797 công trình tiếp tục triển khai; trong đó một số công trình lớn như: Nâng cấp đường Đankia và cầu Phước Thành (phường 7), xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư - tái định cư Phạm Hồng Thái (phường 10), nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật quanh hồ Xuân Hương, nâng cấp cải tạo 2 tuyến đường Nguyên Tử Lực, Phan Đình Phùng, thành phố Đà Lạt; đường Phạm Hồng Thái, đường Nguyễn Thái Bình, xây dựng  trụ sở HĐND - UBND, thành phố Bảo Lộc; đường cứu hộ cứu nạn từ QL27 vào trung tâm xã Rô Men, xây dựng Trường TH Rô Men, huyện Đam Rông; nâng cấp đường và kè chống sạt lở tuyến đường đi Đà Lạt - Lạc Dương, nâng cấp, mở rộng đường 19/5, đường từ xã Lát đi Phi tô, huyện Lạc Dương; đường giao thông nông thôn liên xã Liên Hà đi Đan Phượng, đường liên xã Đạ Đờn - Phi Tô - Nam Ban, đường Võ Thị Sáu, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà; đường ĐH 1 (Liên Nghĩa - N'Thôn Hạ - Tân Hội), xây dựng vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh quốc lộ 20 (đoạn từ cầu Bồng Lai đến chùa Bà Chà, xã Hiệp Thạnh), huyện Đức Trọng; xây dựng trường THCS Tam Bố, trường TH Tân Châu 1, trường TH Bảo Thuận, huyện Di Linh; xây dựng  Đường từ QL 20 vào Trung tâm xã Lộc Thành, đường Lộc Thành đi Đại Lào, huyện Bảo Lâm; đường thôn 3 xã ĐạM'ri, đường liên xã từ thôn 1 xã Đạ Oai đi Đạ Tồn, nâng cấp đường từ ngã ba Đạ Tồn nối đường đi BKẻ, huyện Đạ Huoai; đường liên xã Triệu Hải - Đạ Pal, nâng cấp đường giao thông nông thôn đi từ ĐT725 vào buôn Đạ Nhar - lên khu sản xuất cao su tập trung xã Quốc Oai, đường từ thôn 7 thị trấn Đạ Tẻh đi trung tâm xã An Nhơn (GĐ 2), huyện Đạ Tẻh; đường giao thông Ninh Thủy - Ninh Hạ xã Nam Ninh, nâng cấp đường Cát lợi đi Cát Lâm thị trấn Phước Cát, trung tâm văn hóa thể thao, huyện Cát Tiên.

4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình đăng ký kinh doanh: Dự kiến năm 2020, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 1.250 doanh nghiệp, tăng 13,63% so với cùng kỳ; có 49 doanh nghiệp giải thể, giảm 52,89%; 417 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động kinh doanh, tăng 38%; có 246 doanh nghiệp hoạt động trở lại.

Tình hình thu hút, quản lý các dự án đầu tư: Trong năm 2020, toàn tỉnh có 31 dự án (28 dự án vốn trong nước và 03 dự án FDI) được cấp Quyết định chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 19,2% (tăng 05 dự án); vốn đăng ký 3.028,5 tỷ đồng, tăng 28,3% (tăng 668,1 tỷ đồng); quy mô diện tích 177,6 ha, giảm 29,1% (giảm 72,9 ha).

Điều chỉnh dự án đầu tư: Trong năm 2020, có 50 dự án được điều chỉnh nội dung dự án đầu tư, trong đó: điều chỉnh 20 dự án trong khu công nghiệp (05 dự án FDI, 15 dự án vốn trong nước), 30 dự án ngoài khu công nghiệp (05 dự án FDI, 25 dự án vốn trong nước).

Thu hồi, chấm dứt hoạt động dự án đầu tư: có 10 dự án bị thu hồi, chấm dứt hoạt động đầu tư (07 dự án ngoài khu công nghiệp và 03 dự án trong khu công nghiệp) với số vốn đăng ký đầu tư 1.952,6 tỷ đồng; trong đó, 03 dự án FDI với số vốn đăng ký đầu tư 365,9 tỷ đồng, 07 dự án trong nước với số vốn đăng ký đầu tư 1.586,7 tỷ đồng.

Tình hình hỗ trợ doanh nghiệp: Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã kịp thời triển khai thực hiện các chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, ban hành Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020, Thực hiện hiệu quả "nhiệm vụ kép" vừa đảm bảo chống dịch Covid-19, vừa duy trì phát triển sản xuất kinh doanh. Một số giải pháp được đưa ra như: Tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất, nhập khẩu; hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trả lương ngừng việc và giải quyết chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc liên quan đến dịch bệnh Covid-19; tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi về tiếp cận vốn, tín dụng, tài chính, thuế, thương mại, thanh toán điện tử; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tập trung tháo gỡ các nút thắt, các điểm nghẽn, khai thông nguồn lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

 

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

5.1. Sản xuất nông nghiệp

 * Sản xuất nông nghiệp năm 2020

  Tình hình sản xuất tuy chịu nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu và thị trường tiêu thụ gặp nhiều bất ổn bởi ảnh hưởng của dịch Covid - 19, tuy nhiên về cơ bản tiến độ gieo trồng xuống giống, chăm sóc cây trồng vẫn được đảm bảo theo kế hoạch đề ra; công tác tái canh cải tạo giống cà phê và chuyển đổi các loại cây trồng dài ngày được đẩy mạnh triển khai tại các địa phương, đồng thời việc áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học đã nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các đối tượng cây hàng năm chủ lực như rau, hoa.

Tổng diện tích gieo trồng sơ bộ đạt 387.158,16 ha, tăng 0,83% (+3.199,9 ha) so với năm 2019, trong đó: cây hàng năm đạt 129.820,06 ha, chiếm 33,53%, cây lâu năm 257.338.1 ha, chiếm 66,47%.

Cây lúa: Gieo trồng 27.730,5 ha, giảm 1,5% (-422,4 ha) so với cùng kỳ. Ước năm năng suất bình quân chung đạt 54,01 tạ/ha, tăng 3,22% (+1,69 tạ/ha); sản lượng đạt 149.762,4 tấn, tăng 1,67% (+2.465,5 tấn) so với cùng kỳ, do giảm diện tích gieo trồng.

 Ngô: Gieo trồng 8.036,7 ha, giảm 7,36% (-638,2 ha) so với cùng kỳ. Ước năm năng suất bình quân chung đạt 57,08 tạ/ha, tăng 2,55% (+1,42 tạ/ha); sản lượng đạt 45.846,6 tấn, giảm 4,51% (-2.163 tấn) so với cùng kỳ.

            Rau các loại: Gieo trồng 65.080,4 ha, tăng 1,35% (+869,7 ha); sản lượng rau các loại ước năm đạt 2.273,3 ngàn tấn, tăng 1,9% (+42,4 ngàn tấn) so với cùng kỳ.

           Hoa các loại: Gieo trồng 9.064,3 ha, tăng 3,09% (+272 ha) so với cùng kỳ; sản lượng ước năm đạt 3.116,8 triệu bông/cành, tăng 6,64% (+194,2 triệu bông/cành) do tăng diện tích và năng suất.

   Cây lâu năm: Diện tích hiện có toàn tỉnh là 257.338,1 ha, tăng 0,8% (+2.042,5 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, cây cà phê 175.090,8 ha, giảm 0,29%; cây chè 10.892 ha, giảm 1,6%; cây điều diện tích hiện có 22.038 ha, giảm 3,96% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch: Cà phê đạt 536.701 tấn, tăng 4,02% (+20.756,4 tấn); chè đạt 131.850,5 tấn, giảm 0,06% (-84,8 tấn); điều đạt 16.165,5 tấn (+1.871,7 tấn), tăng 13,09%; tiêu đạt 7.606 tấn (+1.304,4 tấn), tăng 20,7% so với cùng kỳ.

Triển khai thực hiện một số chương trình trong nông nghiệp: Toàn tỉnh hiện có gần 60,23 ngàn ha sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao, chiếm 20,08% diện tích đất canh tác([1]). Diện tích chuyển đổi giống cây trồng, tái canh ghép cải tạo thực hiện 16.716 ha([2]).

          Tình hình dịch bệnh trên cây trồng: Cây lúa rầy nâu gây hại 490 ha; cây ngô sâu keo mùa thu gây hại 273,8 ha; cây cà chua bệnh virut gây hại 404,6 ha; hoa cúc virus gây hại 30 ha, cây cà phê bọ xít muỗi gây hại 432,4 ha, cây điều bọ xít muồi gây hại 788,1 ha.

          * Tình hình chăn nuôi

Tổng đàn vật nuôi chủ yếu và sản lượng chăn nuôi năm 2020

Tổng đàn trâu đạt 13.796 con, giảm 0,27% (-38 con); sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 1.015 tấn, giảm 0,61% (-6 tấn) so với cùng kỳ.

Tổng đàn bò đạt 104.022 con, tăng 7,76% (+7.494 con); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 6.323,9 tấn, tăng 8,02% (+469,5 tấn); sản lượng sữa bò đạt 93.862 tấn, tăng 8,07% (+7.009,2 tấn) so với cùng kỳ.

Tổng đàn lợn 379.504 con, tăng 8,17% (+28.650 con); sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 69.445 tấn, giảm 10,44% (-8.098,4 tấn) so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm đạt 10,39 triệu con, tăng 3,65% (+0,4 triệu con) so với cùng kỳ. Trong đó, tổng đàn gà 5,02 triệu con, chiếm 48,32% tổng đàn gia cầm; sản lượng thịt gà xuất chuồng đạt 16.116 tấn, tăng 18,42%; sản lượng trứng gà đạt 324,4 triệu quả, tăng 8,96% (+26,7 triệu quả) so với cùng kỳ.

 Tình hình dịch bệnh: Trong tháng bệnh lở mồm long móng xảy ra làm 223 con gia súc mắc bệnh (63 con trâu, 117 con bò, 43 con lợn)/83 hộ/15 thôn/04 xã/02 huyện (Đơn Dương, Đạ Tẻh). Lũy kế đến ngày 15/12/2020, đã có 421 con gia súc mắc bệnh (108 con trâu, 279 con bò và 43 con lợn). Số gia súc tiêu hủy là 71 con (08 con trâu, 21 con bò, 42 con lợn) với trọng lượng 8.256 kg (6.517 kg trâu bò, 1.739 kg lợn). Bệnh dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại huyện Đạ Tẻh từ ngày 22/11/2020, đến ngày 15/12/2020 đã có 358 con lợn mắc bệnh/15 hộ/05 thôn/02 xã (An Nhơn, Triệu Hải), tiêu hủy toàn bộ 358 con lợn mắc bệnh với trọng lượng 10.404 kg.

          Công tác phòng chống dịch bệnh: Tuyên truyền về phòng chống bệnh lở mồm long móng và 20.000 tờ rơi tuyên truyền về phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Phân bổ vắc xin cho các địa phương triển khai tiêm phòng năm 2020 và phân bổ hóa chất để thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc định kỳ năm 2020 và đột xuất phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

5.2. Lâm nghiệp

Một số chỉ tiêu lâm nghiệp chủ yếu năm 2020: Trồng mới rừng tập trung đạt 1.741 ha, tăng 2,29%; diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 40.890 ha, tăng 1,03%; tổng diện tích rừng đã giao khoán quản lý bảo vệ được 439.878,1 ha, giảm 0,68% so với cùng kỳ; trồng cây phân tán thực hiện 125 nghìn cây; ươm cây giống lâm nghiệp đạt 5.250 ngàn cây; diện tích rừng đươc khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 130 ha.

Khai thác lâm sản: Khối lượng gỗ tròn các loại khai thác ở các loại hình kinh tế ước đạt 71.035 m3, tăng 3,78%; sản lượng củi khai thác và tận dụng ước đạt 72.600 ster, giảm 4,83% so với cùng kỳ.

Công tác phòng chống cháy rừng: Tính đến ngày 10/12/2020 trên địa bàn xảy ra 24 vụ cháy (18 vụ cháy rừng/51,06 ha và 06 vụ cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán rừng/54,66 ha). Các vụ cháy đã được phát hiện và chữa cháy kịp thời.

5.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng: Ước năm 2020 đạt 2.309,7 ha, giảm 5,55% (-135,8 ha) so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thủy sản phổ biến là nuôi cá, với diện tích 2.309,6 ha, chiếm hơn 99,99%.

Sản lượng: Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác ước năm 2020 đạt 9.020,6 tấn, tăng 5,01% (+430,5 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 8.744,1 tấn, chiếm 96,93%, tăng 5,34% (+443,3 tấn); sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 276,5 tấn, chiếm 3,07%, giảm 4,41% so với cùng kỳ.

           Sản xuất giống thủy sản: Ước năm 2020 đạt 33,34 triệu con, chủ yếu là cá giống các loại, tăng 5,04% (+1,6 triệu con) so với cùng kỳ.

6. Sản xuất công nghiệp

 Chỉ số sản xuất công nghiệp dự tính tháng 12 năm 2020: Tăng 5,68% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng dự tính tăng 6,28%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,48%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,76%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,48% so với cùng kỳ.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tháng 12/2020: Tơ thô đạt 28 tấn, tăng 77,42%; sợi len lông cừu đạt 130 tấn, tăng 54,76%; bia đóng lon đạt 8,9 triệu lít, tăng 42,62%; bê tông trộn sẵn đạt hơn 37,8 ngàn m3, tăng 9,92%; ôxit nhôm đạt 60 ngàn tấn, tăng 7,08%; trà đạt 3.678 tấn, giảm 46,38%; phân bón NPK đạt 7 ngàn tấn, giảm 27,85%; hạt điều khô đạt 161 tấn, giảm 8,64%; rượu vang đạt 355 ngàn lít, giảm 6,82%.

 Sản phẩm điện sản xuất đạt 486 triệu kwh, tăng 0,21%; sản phẩm nước sạch đạt 2,7 triệu m3, tăng 6,16% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp qua các năm

 

Năm 2018

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2019

so với cùng kỳ

(%)

Năm 2020

so với cùng kỳ

(%)

Toàn ngành công nghiệp

107,46

105,29

100,19

Khai khoáng

108,28

114,51

98,39

Chế biến, chế tạo

111,22

113,05

104,75

Sản xuất, phân phối điện

104,73

97,92

94,20

Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

107,16

109,92

106,74

           

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2020: Tăng 0,19% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 1,61%; chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,75%; chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,74% so với cùng kỳ([3]).

Một số sản phẩm chủ yếu năm 2020: Bê tông trộn sẵn đạt 412,7 ngàn tấn, tăng 12,31%; bôxit nhôm đạt hơn 694,1 ngàn tấn, tăng 2,19%; sản phẩm rượu vang đạt 1.984 ngàn lít, giảm 28,69%; chè (trà) đạt 31,4 ngàn tấn, giảm 20,23% do tình hình xuất khẩu của mặt hàng này bị ảnh hưởng; rau ướp lạnh đạt hơn 8.979 tấn, giảm 18,23%; sản phẩm phân bón NPK đạt 113,2 ngàn tấn, giảm 6,23% so với cùng kỳ.

Sản phẩm điện sản xuất phân bổ cho Lâm Đồng đạt 5.566 triệu kwh, giảm 7,5%; sản phẩm nước uống được đạt 32,6 triệu m3, tăng 6,65% so với cùng kỳ.

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2020: Giảm 7,88% so với cùng kỳ năm trước, giảm hầu hết ở tất cả các ngành như: sản xuất đồ uống giảm 49,9%, sản xuất thuốc hóa dược giảm 44,5%, sản xuất giấy giảm 28,9%, dệt giảm 24,52%, chế biến thực phẩm giảm 21,56%, sản xuất hóa chất giảm 18,57%, sản xuất trang phục giảm 10,36%.  

* Chỉ số tồn kho tháng 12/2020: Tăng 18,11% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất thuốc hóa dược tăng 248,5%, sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 98,06%, sản xuất kim loại alumin tăng 52,17%, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 43,46%, sản xuất hóa chất giảm 63,52%, sản xuất đồ uống giảm 36,32%, chế biến gỗ giảm 23,63%, dệt giảm 2,93%.

* Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trong năm 2020: giảm 6,24% so với cùng kỳ. Chia theo ngành công nghiệp: Ngành khai khoáng giảm 2,84%; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 7,05%; sản xuất và phân phối điện giảm 3,87% và cung cấp nước, xử lý rác thải giảm 4,56% so với cùng kỳ. Xu hướng sử dụng lao động giảm ở tất cả các ngành trong giai đoạn ảnh hưởng của dịch Covid - 19, khi mà các ngành hoạt động cầm chừng, chỉ số tồn kho còn khá cao và nguyên liệu đầu vào hạn chế.

* Xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh

Trong quý IV/2020 so với quý III/2020 có xu hướng giảm sút do trong quý IV là thời gian ảnh hưởng của dịch covid-19 đợt 2 cả thị trường trong và ngoài nước. Hầu hết tất cả các chỉ tiêu đều có xu hướng khó khăn hơn là thuận lợi. Cụ thể như sau:

- Tình hình sản xuất kinh doanh có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 13,64%;

- Khối lượng sản xuất có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là: 13,64%;

- Số lượng đơn đặt hàng mới có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 9,23%;

- Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 30,56%;

- Khối lượng thành phẩm tồn kho có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 15,15%;

- Chỉ tiêu số lượng lao động bình quân có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là: 12,12%.

Dự kiến xu hướng sản xuất kinh doanh  quý I/2021 so với quý IV/2020 khả quan hơn. Cụ thể:

- Tình hình sản xuất kinh doanh có chỉ số thuận lợi cao hơn khó khăn là 6,06%;

- Khối lượng sản xuất có chỉ số thuận lợi cao hơn khó khăn là 6,06%;

- Số lượng đơn đặt hàng mới có chỉ số thuận lợi và khó khăn là tương đương nhau;

- Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 5,13%;

- Khối lượng thành phẩm tồn kho chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 21,21%;

- Số lượng lao động bình quân chỉ số khó khăn cao hơn thuận lợi là 10,61%.

7. Thương mại, dịch vụ 

            Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2020 đạt 57.756,5 tỷ đồng, giảm 1,4% so với cùng kỳ. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý IV năm 2020 ước đạt 17.884,1 tỷ đồng, tăng 9,28% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2020 ước đạt 41.492,4 tỷ đồng, tăng 2,91% so với cùng kỳ; một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 17.744,5 tỷ đồng, tăng 16,28%; hàng may mặc đạt 3.520,2 tỷ đồng, tăng 2,02%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 5.373,1 tỷ đồng, giảm 15,15%; xăng, dầu các loại đạt 3.058,4 tỷ đồng, giảm 16,05%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý IV năm 2020 đạt 12.990,9 tỷ đồng, tăng 10,24% so với cùng kỳ; một số nhóm hàng chủ yếu như lương thực, thực phẩm đạt 5.408,3 tỷ đồng, tăng 22,85%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.269,8 tỷ đồng, tăng 15,93% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.614,2 tỷ đồng, giảm 10,31% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác năm 2020 ước đạt 7.511,6 tỷ đồng, tăng 3,51%. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.007,6 tỷ đồng, tăng 19,08%; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 592,1 tỷ đồng, tăng 5,19%; doanh thu dịch vụ khác đạt 667,3 tỷ đồng, giảm 10,81% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác quý IV năm 2020 ước đạt 1.996,7 tỷ đồng, tăng 9,79%; trong đó, doanh thu dịch vụ tất cả các ngành đều tăng, riêng doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí chiếm tỷ trọng cao nhất (46,34%) tăng  9,01% so với cùng kỳ.

            - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2020 ước đạt 8.724,2 tỷ đồng, bằng 80,29% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.197,3 tỷ đồng, bằng 77,64%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 7.526,9 tỷ đồng, bằng 80,73% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách ngủ qua đêm tại các cơ sở lưu trú đạt 3.615,8 nghìn lượt khách, bằng 74,89% (khách trong nước đạt 3.508,5 nghìn lượt khách, bằng 77,76%; khách quốc tế đạt 107,3 nghìn lượt khách, bằng 33,98% so với cùng kỳ). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý IV năm 2020 đạt 2.893,8 tỷ đồng, tăng 6,12% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 407,5 tỷ đồng, tăng 5,28%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 2.486,3 tỷ đồng, tăng 6,26% so với cùng kỳ.

8. Hoạt động vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2020 đạt 3.772,9 tỷ đồng, giảm 11,04% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 3.234,2 tỷ đồng, giảm 12,25%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 538,4 tỷ đồng, giảm 2,98% so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý IV năm 2020 đạt 1.098,4 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận tải đường bộ đạt 962,8 tỷ đồng, tăng 2,59%; doanh thu kho bãi và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 135,5 tỷ đồng, giảm 0,86% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hành khách năm 2020 ước đạt 1.305,6 tỷ đồng, bằng 78,62%; khối lượng vận chuyển đạt 31.219 nghìn hành khách, bằng 80,09% và luân chuyển đạt 3.092,3 triệu hành khách.km, bằng 80,55% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách quý IV năm 2020 ước đạt 450,1 tỷ đồng, tăng 6,17%; khối lượng vận chuyển đạt 10.015 nghìn hành khách, giảm 3,7% và luân chuyển đạt 843,9 triệu hành khách.km, giảm 0,04% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải hàng hoá năm 2020 ước đạt gần 1.929 tỷ đồng, giảm 4,77%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 12.659 nghìn tấn, giảm 9,37% và luân chuyển đạt 1.666,4 triệu tấn.km, giảm 5,33% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải hàng hoá quý IV năm 2020 ước đạt 512,8 tỷ đồng, giảm 0,35%; khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 4.259 nghìn tấn, giảm 1,87% và luân chuyển đạt 469,7 triệu tấn.km, tăng 1,1% so với cùng kỳ.

            9. Các vấn đề xã hội

9.1. Lao động và việc làm

Giải quyết việc làm: Dự ước năm 2020, tỉnh Lâm Đồng có khoảng 21.117 người được giải quyết việc làm. Trong đó, lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản là 15.204 người; lao động công nghiệp và xây dựng là 2.112 người; lao động dịch vụ là 3.801 người. Có thể nhận định chung năm nay tình hình giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn và thiếu ổn định, số người thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao.

Lao động đang làm việc: Dự ước đến 31/12/2020 toàn tỉnh có 783.090 người đang làm việc, trong đó tỷ trọng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn là 62,47%, tương đương 489.164 người, cao gấp 1,66 lần so với khu vực thành thị với 293.926 người, chiếm 37,53%.

Về chuyển dịch cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế: Tại thời điểm 31/12/2019 và 31/12/2020 lao động khu vực I và III chiếm tỷ trọng chủ yếu, khu vực I giải quyết việc làm nhiều nhất, sử dụng gần hai phần ba lao động làm việc của toàn tỉnh, chiếm 66,2%; khu vực II chiếm 8,3% và khu vực III chiếm 25,5%. Trong tổng số lao động thuộc khu vực I của tỉnh Lâm Đồng thì số người làm thuê rất lớn, chủ yếu làm thuê cho hộ nông nghiệp hoặc là công nhân trồng chăm sóc chè, làm thuê trồng chăm sóc rau, hoa, cà phê, dao động theo mùa vụ trong năm và chiếm từ 15 đến 22% trong tổng số lao động thuộc khu vực I.

Thiếu việc làm: Ước đến thời điểm 31/12/2020 toàn tỉnh Lâm Đồng có 16.420 người thiếu việc làm (tỷ lệ là 2,08%), trong đó khu vực nông thôn có 9.378 người (tỷ lệ là 1,91%), khu vực thành thị là 7.042 người (tỷ lệ là 2,35%); trước diễn biến dịch bệnh Covid-19 công việc làm thiếu ổn định dẫn đến nhu cầu muốn làm thêm việc lên ở mức rất cao, mong muốn làm thêm việc để tăng thu nhập ổn định cuộc sống.

Tỷ lệ thất nghiệp: Ước tại thời điểm 31/12/2020 là 0,96%, tăng 0,22% so với cuối năm 2019, nhưng giảm 0,27% so với thời điểm 30/9/2020. Tại thời điểm 31/12/2020 toàn tỉnh có 7.617 người thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 1,92%, tương đương với 5.752 người; còn khu vực nông thôn có 1.865 người thất nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,38%. Qua thực tế cũng cho thấy khu vực nông thôn của Lâm Đồng cũng là nơi giải quyết những vấn đề khó khăn về việc làm.  

9.2. Đời sống dân cư và đảm bảo an toàn xã hội

Đời sống dân cư: Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương có cuộc sống ổn định. Những người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nông lâm nghiệp ít bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 hơn, nên thu nhập và đời sống ổn định so với cùng kỳ năm trước. Đối với người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phi nông lâm nghiệp, nhất là khu vực thành thị, nhìn chung đều bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên thu nhập và đời sống giảm so với cùng kỳ năm trước.

Hộ nghèo: Hiện hộ nghèo toàn tỉnh còn 6.338 hộ, chiếm tỷ lệ 1,85%, trong đó tỷ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 6,5%. Hộ cận nghèo còn 12.575 hộ. Được sự quan tâm hỗ trợ của các chính sách nên nhìn chung đời sống hộ nghèo và hộ cận nghèo ổn định và tiếp tục đi lên thoát nghèo, số lượng và tỷ lệ hàng năm của hộ nghèo và cận nghèo giảm nhanh, số hộ thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu ngày một nhiều hơn.

Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững: Trong năm 2020 tổng số vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Trung ương là 73,7 tỷ đồng. Số kinh phí trên được phân bổ cho huyện Đam Rông trên 44,4 tỷ đồng để thực hiện Chương trình 30a; còn lại trên 29,3 tỷ đồng, phân bổ cho UBND các huyện thực hiện Chương trình 135 tại 11 xã và 110 thôn đặc biệt khó khăn.

An sinh xã hội: Từ đầu năm đến nay không xy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt nên không phải cứu trợ. Trong dịp đón tết Canh Tý 2020, các đối tượng gồm người có công, đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, cận nghèo được tặng quà và trợ cấp tết bằng tiền mặt và hiện vật, trị giá tổng số tiền là 44,17 tđồng (tăng gần 2,5 tỷ so với năm 2019), tương ứng với 115.232 suất quà (năm 2019 131.935 suất). Riêng việc hỗ trợ do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19: Đã chi hỗ trợ cho 126.717 đối tượng, tổng số tiền hỗ trợ 126,5 tỷ đồng.

Tham gia bảo hiểm y tế: Đến đầu tháng 12/2020 toàn tỉnh có 1.153.343 đối tượng tham gia BHYT, tỷ lệ 88,2%, so với đầu năm tăng 18.827 đối tượng tham gia.

9.3. Hoạt động văn hóa - tuyên truyền             

Trong năm 2020, toàn tỉnh đã tập trung lực lượng từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức tuyên truyền dịch bệnh Covid-19 và các hoạt động phục vụ các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ XI và tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Bảo tàng Lâm Đồng đón 21.309 lượt khách, với 640 khách quốc tế. Thư viện tỉnh cấp 1.414 thẻ bạn đọc, phục vụ 938.089 lượt bạn đọc và luân chuyển 276.106 lượt tài liệu.

Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Năm 2020, tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 90%; tỷ lệ thôn, buôn, tổ dân phố văn hóa đạt 95%; tỷ lệ xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới đạt 90%; tỷ lệ phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị đạt 87,5%; cơ quan, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt 98%.

Xã nông thôn mới: Dự kiến cả năm sẽ có 104/111 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, bình quân đạt trên 18,6 tiêu chí/xã; 18 xã NTM nâng cao và 06 xã NTM kiểu mẫu.

Huyện nông thôn mới: Toàn tỉnh đã có 02 huyện đạt chuẩn NTM (Đơn Dương và Đức Trọng). Dự kiến cả năm 2020 có 06 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM([4]).

9.4. Hoạt động thể dục - thể thao

Thể thao thành tích cao: Phối hợp tổ chức 05 giải; từ đầu năm đến nay thể thao Lâm Đồng đạt 173 huy chương (43 HC vàng, 43 HC bạc và 87 HC đồng), đạt 96% kế hoạch năm.

Hoạt động phong trào: Tổ chức và phối hợp tổ chức 25 giải; xây dựng và ban hành điều lệ các giải thể thao theo kế hoạch. Tỷ lệ người tập luyện TDTT thường xuyên đạt 35%.

   9.5. Hoạt động giáo dục - đào tạo

Bước sang năm học 2020-2021, Sở Giáo dục - Đào tạo Lâm Đồng đang quản lý 711 trường, trung tâm (trường mầm non và phổ thông có 697 trường; 11 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và nghề nghiệp; 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh; 01 trường Khuyết tật; 01 Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt).

 Kết quả xây dựng trường công lập đạt chuẩn quốc gia: 510/633 trường (đạt tỷ lệ 80,57%). Toàn tỉnh Lâm Đồng có trên 320 ngàn học sinh từ mầm non đến THPT, trong đó hệ Mầm non 232 trường với 69.884 trẻ; Tiểu học 246 trường với 120.106 học sinh; THCS 157 trường với 89.201 học sinh; THPT có 59 trường với 42.548 học sinh.

9.6. Hoạt động y tế      

Trong năm ngành y tế Lâm Đồng đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh, cách ly điều trị kịp thời.  

Công tác phòng bệnh từ đầu năm đến nay: Bệnh tay chân miệng phát hiện 1.101 trường hợp; sốt xuất huyết phát hiện 1.127 trường hợp; khám phát hiện 85 trường hợp mắc sốt rét; bệnh phong toàn tỉnh quản lý 152 bệnh nhân, trong đó chăm sóc tàn tật cho 144 bệnh nhân; bệnh lao đang quản lý và khám bệnh cho 563 bệnh nhân lao (trong đó có 339 bệnh nhân lao phổi AFB (+)).

Công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng: Toàn tỉnh quản lý và điều trị cho 1.272 bệnh nhân tâm thần phân liệt và điều trị cho 1.575 bệnh nhân động kinh.

Công tác tiêm chủng mở rộng: Từ đầu năm đến nay đã tiêm chủng đầy đủ cho hơn 23 nghìn trẻ, tiêm viêm gan B trước 24 giờ cho hơn 19 nghìn trẻ sơ sinh, tiêm phòng uốn ván 2+ cho 20 nghìn phụ nữ có thai, tiêm vắc xin sởi mũi 2, sởi mũi 4 cho gần 23 nghìn trẻ 18 tháng tuổi, tiêm vắc xin Viêm não Nhật Bản cho trẻ từ 13 tháng tuổi mũi 1 là 23 nghìn trẻ, mũi 2 là 23 nghìn trẻ, mũi 3 là 22 nghìn trẻ.

Công tác phòng chống HIV/AIDS: Toàn tỉnh có 87 trường hợp nhiễm HIV mới đưa vào quản lý (tích luỹ: 1.664 trường hợp); có 07 trường hợp chuyển AIDS mới (tích luỹ: 287 trường hợp) và có 19 trường hợp tử vong do AIDS (tích luỹ: 588 trường hợp).

Tình trạng dinh dưỡng trẻ em: Tổng số trẻ sinh là 20.685; số trẻ sơ sinh sống được cân là 20.474, số trẻ đẻ cân nặng dưới 2.500 gram là 656 (chiếm tỷ lệ 3,2%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi, thể nhẹ cân là 11,76%, thể thấp còi là 19,4%.

An toàn thực phẩm: Có 03 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra, với 251 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong.

9.7. Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại do thiên tai năm 2020 làm 01 người chết; thiệt hại về tài sản khoảng 1,9 tỷ đồng (sét đánh chết 10 con bò sữa, 25 ngôi nhà bị tốc mái và bị sập).

10.8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy, không thiệt hại về người, nhưng giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 2,8 tỷ đồng. Về vi phạm môi trường cơ quan chức năng đã phát hiện có 02 vụ, đã xử phạt tiền 597 triệu đồng.

9.9. Tình hình an toàn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh từ ngày 15/11/2020 đến ngày 14/12/2020 xảy ra 24 vụ, tăng 17 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 17 người, tăng 16 người; số người bị thương là 10, tăng 4 người so với cùng kỳ. Tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/12/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 161 vụ tai nạn giao thông, giảm 20 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 98 người, giảm 36 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 99 người, giảm 15 người so với cùng kỳ.

Đăng ký mới cho 863 ôtô và 4.376 môtô. Tổng số phương tiện đang quản lý: 70.519 xe ôtô; 1.084.289 xe môtô; 103 phương tiện đường thủy. Lực lượng Công an toàn tỉnh phát hiện, xử lý 4.233 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt là 2,6 tỷ đồng; tước 99 giấy phép lái xe; tạm giữ 16 ô tô, 139 mô tô. Trong đó, xử lý vi phạm nồng độ cồn 30 trường hợp, thu phạt 264 triệu đồng, tước 21 giấy phép lái xe, tạm giữ 12 xe ô tô, 18 xe mô tô.

10. Một số nhiệm vụ chủ yếu cần triển khai trong năm 2021

Nhằm triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2021 mà Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra, các ngành, các cấp cần tiếp tục tập trung triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đa ngành, bền vững, hiện đại có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao, trong đó tập trung đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, thông minh. Quy hoạch lại hệ thống nhà kính, nhà lưới gắn với phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, thân thiện môi trường. Đẩy mạnh thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản, đặc biệt là thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” để tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.

Hai là, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành công nghiệp, tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như: công nghiệp chế biến sâu; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp chế biến dược liệu, dược phẩm và thực phẩm chức năng từ sản phẩm nông nghiệp. Tăng cường đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp; tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống và làng nghề mới; khôi phục phát triển công nghiệp ươm tơ, dệt lụa gắn với vùng nguyên liệu, nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, đan lát phục vụ du lịch.

Ba là, phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ; thu hút đầu tư trung tâm thương mại cao cấp và các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn, hiện đại tại các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh. Tăng cường kết nối giữa người sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã, các hiệp hội và cơ quan quản lý để phát triển mạnh thị trường, chú trọng thị trường nội địa.

Bốn là, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng qua chế biến có lợi thế về nguyên liệu của địa phương. Chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Năm là, tiếp tục phát triển khoa học và công nghệ, tập trung phát triển một số ngành khoa học có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với tiềm năng, điều kiện của tỉnh.

Sáu là, tập trung giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại người lao động, đẩy mạnh kết nối cung cầu lao động. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, góp phần đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Bảy là, tập trung thực hiện “nhiệm vụ kép” là vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh vẫn còn diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19./.


([1]) Trong đó, diện tích cây rau khoảng 24,3 ngàn ha, cây hoa khoảng 2,9 ngàn ha ứng dụng công nghệ cao trong nhà kính, nhà lưới, màng phủ và ngoài trời.

([2]) Chuyển đổi đất trồng lúa 2.705 ha, đất trồng điều 1.884 ha; tái canh, ghép cải tạo cà phê 7.689 ha; chuyển đổi cây trồng khác 4.438 ha.

([3]) Chỉ số sản xuất một số ngành kinh tế cấp 2: Sản xuất đồ uống tăng 36,27%; dệt tăng 22,64% (chỉ tăng đối với sợi len lông cừu còn sợi tơ thô, sợi tơ xe và lụa tơ tằm đều giảm); chế biến gỗ tăng 0,28%;  sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,35%; sản xuất hóa chất giảm 6,02%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,65% và hoạt động thu gom rác thải tăng 7,11% so với cùng kỳ.

 

([4]) 03 đơn vị (huyện Đạ Tẻh, thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc) đã được Hội đồng thẩm định Trung ương thống nhất trình Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn NTM và thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; 02 huyện Cát Tiên và Lâm Hà đang lập hồ sơ trình Bộ Nông nghiệp & PTNT theo quy định


Các tin khác
© Copyright 2012 CỤC THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
10 Đường 3 Tháng 4, Phường 3, TP. Đà Lạt