Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội Quý 4 và 12 tháng năm 2019

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại[1]. Căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung và vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu[2]. Sự biến động khó lường trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thị trường. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực trong năm 2018, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng cũng phải đối mặt không ít khó khăn, thách thức với thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng; ngành chăn nuôi gặp khó khăn với dịch tả lợn châu Phi diễn ra tại tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tăng trưởng chậm lại của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; giải ngân vốn đầu tư công không đạt kế hoạch.

Xác định năm 2019 là năm “bứt phá” phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, ngày 01/01/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Ngày 01/4/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về các giải pháp tập trung tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 6 tháng và cả năm 2019. Đồng thời, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức nhiều Hội nghị chuyên đề để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất của các ngành, các địa phương; đẩy mạnh triển khai thực hiện các hiệp định thương mại nhằm tìm kiếm thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước, nỗ lực phấn đấu cao nhất để hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2019 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2019 ước tính tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,62%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,92% và khu vực dịch vụ tăng 8,09%. Trên góc độ sử dụng GDP quý IV/2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,28%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71%.

GDP năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III tăng 7,48%[3]; quý IV tăng 6,97%), vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng nỗ lực thực hiện để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011-2017[4]. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,90%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%, đóng góp 45%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2019 duy trì mức tăng trưởng cao với 8,86%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt nền kinh tế tăng trưởng với mức tăng 11,29%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng nhẹ ở mức 1,29% sau 3 năm sụt giảm liên tiếp, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành xây dựng duy trì đà tăng trưởng tích cực với tốc độ 9,1%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Khu vực dịch vụ năm 2019 tăng 7,3%, chỉ thấp hơn mức tăng 7,47% của năm 2011 và 7,44% của năm 2017 trong giai đoạn 2011-2019[5]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm năm 2019 như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,82% so với năm 2018, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực dịch vụ nhưng đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,96 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,62%, đóng góp 0,56 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 9,12%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,71%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm.

Riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 đạt mức tăng trưởng thấp do hạn hán, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, ngành chăn nuôi chịu thiệt hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi, nông sản gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và giá xuất khẩu. Tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 đạt 2,01%, chỉ cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016 trong giai đoạn 2011-2019[6]. Ngành nông nghiệp đạt mức tăng thấp 0,61%, là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2011-2019[7], đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,98% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản tăng trưởng khá ở mức 6,3%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm do sản lượng nuôi trồng và khai thác đạt khá.

Về cơ cấu kinh tế năm 2019, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch vụ chiếm 41,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91% (Cơ cấu tương ứng của năm 2018 là: 14,68%; 34,23%; 41,12%; 9,97%).

Trên góc độ sử dụng GDP năm 2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,23% so với năm 2018; tích lũy tài sản tăng 7,91%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,35%.

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện: Năm 2019, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 46,11%, bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2019 ước tính đạt 110,4 triệu đồng/lao động (tương đương 4.791 USD/lao động, tăng 272 USD so với năm 2018[8]); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,2% do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2019 tăng cao.

Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017; 5,97 năm 2018; năm 2019 ước tính đạt 6,07. Bình quân giai đoạn 2016-2019 hệ số ICOR đạt 6,14, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 gặp nhiều khó khăn do hạn hán, nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Dịch tả lợn châu Phi lây lan trên tất cả các địa phương gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi và ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Sản xuất lâm nghiệp có mức tăng trưởng ổn định, sản lượng gỗ và lâm sản khai thác đáp ứng yêu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. Ngành thủy sản đạt mức tăng trưởng cao, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đều tăng khá.

a) Nông nghiệp

Diện tích lúa năm 2019 ước tính đạt 7,47 triệu ha, giảm 102,2 nghìn ha so với năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa ước tính đạt 58,2 tạ/ha, tương đương với năng suất của năm 2018, sản lượng lúa ước tính đạt 43,45 triệu tấn, giảm 596,8 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất vụ đông xuân năm nay thấp hơn năm trước do thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Tính chung toàn vụ, cả nước gieo cấy được 3,12 triệu ha lúa, tăng 21,8 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2018, chủ yếu do cơ cấu lại mùa vụ gieo trồng; năng suất lúa đạt 65,5 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 20,47 triệu tấn, giảm 133 nghìn tấn.

Vụ lúa hè thu năm 2019 đạt kết quả sản xuất thấp hơn năm trước cả về diện tích, năng suất và sản lượng do thời tiết không thuận lợi, chi phí sản xuất tăng cao trong khi giá bán lúa lại thấp nên nông dân không đầu tư gieo trồng. Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả nước năm nay đạt 2,01 triệu ha, giảm 43,4 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2018[9]; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 0,1 tạ/ha; sản lượng đạt gần 10,95 triệu tấn, giảm 260,4 nghìn tấn. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức sản lượng đạt 8,68 triệu tấn, giảm 116,6 nghìn tấn so với năm 2018.

Diện tích gieo trồng lúa thu đông đạt 724,2 nghìn ha, giảm 7,9 nghìn ha so với vụ thu đông 2018; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 3,95 triệu tấn, giảm 19,4 nghìn tấn. Do năm nay lũ về chậm, nước sông đầu nguồn thấp so với các năm trước nên có 9,4 nghìn ha lúa thu đông được trồng thêm tại những diện tích bờ bao kiên cố, khép kín nhưng tính chung toàn vụ tổng diện tích gieo trồng thấp hơn cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của giá lúa vụ hè thu thấp nên người dân chủ động không trồng 12,6 nghìn ha lúa, xới đất đón phù sa chuẩn bị cho sản xuất lúa đông xuân chính vụ đạt hiệu quả hơn; một phần diện tích trồng lúa được chuyển sang trồng các loại cây hằng năm khác và cây lâu năm. Một số địa phương có diện tích gieo cấy và sản lượng giảm nhiều: Cần Thơ giảm 9,9 nghìn ha và giảm 40,3 nghìn tấn; Vĩnh Long giảm 4,6 nghìn ha và giảm 19,1 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất lúa mùa năm 2019 tăng về năng suất nhưng do nắng nóng đầu vụ tại các địa phương phía Bắc và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ của Cà Mau làm diện tích gieo trồng giảm mạnh nên sản lượng toàn vụ giảm. Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1,61 triệu ha, giảm 72,3 nghìn ha so với vụ mùa năm 2018; năng suất đạt 50,2 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha; sản lượng đạt 8,08 triệu tấn, giảm 184,4 nghìn tấn. Trong đó, các địa phương phía Bắc gieo cấy được 1.070,8 nghìn ha, giảm 33,4 nghìn ha[10]; năng suất đạt 50,8 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha; sản lượng đạt 5,44 triệu tấn, giảm 20 nghìn tấn. Các địa phương phía Nam gieo cấy được 540,2 nghìn ha, giảm 38,9 nghìn ha; năng suất đạt 48,9 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 2,64 triệu tấn, giảm 164,4 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 4,76 triệu tấn, giảm 117,4 nghìn tấn so với năm 2018 do diện tích gieo trồng giảm 42 nghìn ha; khoai lang đạt 1,4 triệu tấn, tăng 27,2 nghìn tấn (diện tích giảm 1,3 nghìn ha); mía đạt 15,27 triệu tấn, giảm 2,7 triệu tấn (diện tích giảm 35,7 nghìn ha); sắn đạt 10,11 triệu tấn, tăng 259 nghìn tấn (diện tích tăng 6,5 nghìn ha); lạc đạt 438,8 nghìn tấn, giảm 18,5 nghìn tấn (diện tích giảm 8,9 nghìn ha); đậu tương đạt 75,9 nghìn tấn, giảm 4,9 nghìn tấn (diện tích giảm 3,8 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 17,95 triệu tấn, tăng 855,3 nghìn tấn (diện tích tăng 26,1 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 161,9 nghìn tấn, tăng 3,5 nghìn tấn (diện tích giảm 5,3 nghìn ha).

Diện tích trồng cây lâu năm năm 2019 ước tính đạt 3.537,9 nghìn ha, tăng 1,2% so với năm 2018, bao gồm nhóm cây công nghiệp đạt 2.192,4 nghìn ha, giảm 0,9%; nhóm cây ăn quả đạt 1.049,6 nghìn ha, tăng 5,7%; nhóm cây lấy dầu đạt 178 nghìn ha, tăng 1,4%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 49,8 nghìn ha, tăng 3,6%; nhóm cây lâu năm khác đạt 68,1 nghìn ha, tăng 0,9%. Trong nhóm cây công nghiệp, diện tích cao su đạt 946,2 nghìn ha, giảm 1,6% so với năm trước, sản lượng cả năm đạt 1.173,1 nghìn tấn, tăng 3,1%; hồ tiêu diện tích đạt 137,7 nghìn ha, giảm 6,6%, sản lượng đạt 263,5 nghìn tấn, tăng 0,3%; cà phê diện tích đạt 688,3 nghìn ha, tăng 1,1%, sản lượng đạt 1.657 nghìn tấn, tăng 2,5%; điều diện tích đạt 297,2 nghìn ha, giảm 0,8%, sản lượng đạt 286,3 nghìn tấn, tăng 7,5%; chè diện tích đạt 123 nghìn ha, tương đương năm 2018, sản lượng chè búp đạt 1.019,9 nghìn tấn, tăng 2,6%. Nhóm cây ăn quả đạt sản lượng thu hoạch khá chủ yếu ở nhóm cây có múi, xoài và thanh long do có thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng cam đạt 960,9 nghìn tấn, tăng 12,4% so với năm trước; bưởi đạt 779,3 nghìn tấn, tăng 18,2%; xoài đạt 814,8 nghìn tấn, tăng 2,9%; thanh long đạt 1.242,5 nghìn tấn, tăng 15%. Riêng nhãn và vải sản lượng giảm so với năm trước nhưng giá bán tăng do người dân tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để nâng cao giá trị, tăng hiệu quả kinh tế: sản lượng vải đạt 272 nghìn tấn, giảm 30,1%; nhãn đạt 507,9 nghìn tấn, giảm 6,6%.

Chăn nuôi trâu, bò trên cả nước nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tổng đàn trâu cả nước giảm do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp. Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức tốt, người chăn nuôi có lãi. Chăn nuôi bò sữa phát triển tốt. Tính đến tháng 12/2019, đàn trâu cả nước giảm 3,1% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò tăng 2,4%. Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 95,1 nghìn tấn, tăng 3,2% so với năm trước (quý IV đạt 24,5 nghìn tấn, tăng 3,5%); sản lượng thịt bò đạt 349,2 nghìn tấn, tăng 4,4% (quý IV đạt 84,3 nghìn tấn, tăng 5%); sản lượng sữa bò đạt 1.029,6 nghìn tấn, tăng 10% (quý IV đạt 260,9 nghìn tấn, tăng 12,1%).

Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do có thị trường tiêu thụ, không có dịch bệnh lớn xảy ra, người chăn nuôi yên tâm mở rộng quy mô đàn, đặc biệt khi dịch bệnh ở lợn diễn biến phức tạp, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng gia cầm tăng mạnh do người dân chuyển sang sử dụng thay thế thịt lợn. Tổng đàn gia cầm của cả nước tháng Mười Hai tăng 14,2% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng cả năm ước tính đạt 1.278,6 nghìn tấn, tăng 16,5% so với năm 2018 (quý IV đạt 340 nghìn tấn, tăng 19,4%); sản lượng trứng gia cầm cả năm đạt 13,3 tỷ quả, tăng 14% (quý IV ước đạt 3,5 tỷ quả, tăng 16,9%).

Chăn nuôi lợn trong năm 2019 chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi. Lũy kế từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 19/12/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.527 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng số lợn tiêu hủy gần 6 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng 340,8 nghìn tấn, trong đó có 6.082 xã qua 30 ngày không phát hiện ổ dịch mới. Tổng đàn lợn của cả nước tháng 12/2019 giảm 25,5% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cả năm 2019 ước tính đạt 3.289,7 nghìn tấn, giảm 13,8% so với năm 2018 (quý IV ước đạt 731 nghìn tấn, giảm 26,3%).

Tính đến ngày 19/12/2019, cả nước không còn dịch lợn tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở Tuyên Quang, Vĩnh Long và dịch lở mồm long móng còn ở 12 tỉnh[11] chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Trong quý IV/2019, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 95,9 nghìn ha, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 20,4 triệu cây, tăng 1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.594 nghìn m3, tăng 6,3%; sản lượng củi khai thác đạt 5,5 triệu ste, tương đương cùng kỳ năm trước.

Năm 2019, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 273,6 nghìn ha, giảm 4,5% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 81,1 triệu cây, giảm 1,8%; sản lượng củi khai thác đạt 19,5 triệu ste, giảm 1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 16,1 triệu m3, tăng 5,4%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi tăng 28,7%; Nghệ An tăng 14,9%; Quảng Nam tăng 14,1%; Quảng Trị tăng 10,1%; Hòa Bình tăng 8,5%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2019 là 152,7 ha, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 19,7 ha, giảm 28,1%; diện tích rừng bị chặt, phá là 133 ha, tăng 56,8%. Tính chung năm 2019, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.312,6 ha, gấp 2,9 lần năm 2018, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2.716,5 ha, gấp 4,7 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 596,1 ha, tăng 6,6%.

c) Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2019 đạt mức tăng khá. Sản lượng thuỷ sản quý IV/2019 ước tính đạt 2.231,4 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 1.600,9 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 313,2 nghìn tấn, tăng 5,4%, thủy sản khác đạt 317,3 nghìn tấn, tăng 9%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quý IV/2019 ước tính đạt 1.315,5 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 890,9 nghìn tấn, tăng 5,5%; tôm đạt 282,5 nghìn tấn, tăng 6,9%. Sản lượng thuỷ sản khai thác quý IV/2019 ước tính đạt 915,9 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 710 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 30,7 nghìn tấn, giảm 6,5%.

Tính chung cả năm 2019, tổng sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 8.200,8 nghìn tấn, tăng 5,6% so với năm trước, bao gồm cá đạt 5.925,3 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 1.034,8 nghìn tấn, tăng 6,8%; thủy sản khác đạt 1.240,7 nghìn tấn, tăng 6%.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản năm 2019 đạt khá, thời tiết thuận lợi cho nuôi tôm nước lợ và cá tra. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm nay ước tính đạt 1.140,4 nghìn ha, tăng 1,3% so với năm trước; sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 4.432,5 nghìn tấn, tăng 6,5% so với năm 2018, trong đó cá đạt 3.080,4 nghìn tấn, tăng 5,8% và tôm đạt 877,2 nghìn tấn, tăng 8,4%. Mặc dù thị trường thế giới có nhiều biến động, giá cá tra giảm dần qua các quý nhưng sản lượng cá tra vẫn tăng do hiệu ứng giá cá tra tăng cao trong năm 2018 và quý I/2019 nên diện tích nuôi vẫn được mở rộng ở những tháng đầu năm. Tính chung cả năm sản lượng cá tra đạt 1.519,2 nghìn tấn, tăng 6,9% so với năm 2018. Môi trường nuôi tôm ổn định, giá tôm thẻ chân trắng tăng cao nhất là trong những tháng cuối năm, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt cao do người dân chuyển một phần nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Sản lượng tôm sú cả năm ước tính đạt 284,8 nghìn tấn, tăng 3,6% so với năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 547,6 nghìn tấn, tăng 11%.

Sản lượng thủy sản khai thác năm 2019 ước tính đạt 3.768,3 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước (quý IV đạt 915,9 nghìn tấn, tăng 4,2%), trong đó sản lượng cá đạt 2.844,9 nghìn tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 157,6 nghìn tấn, giảm 1%. Sản lượng thủy sản khai thác biển năm nay ước tính đạt 3.559,8 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 2.704,4 nghìn tấn, tăng 4,9%; sản lượng tôm đạt 142,9 nghìn tấn, giảm 0,6%.

3. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp năm 2019 duy trì tăng trưởng khá với tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với năm trước đạt 8,86%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế (tăng 11,29%); sản xuất và phân phối điện bảo đảm cung cấp đủ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; khai khoáng bước đầu có mức tăng nhẹ 1,29% sau ba năm liên tiếp giảm nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2019 ước tính tăng 8,86% so với năm trước (quý I tăng 9%; quý II tăng 9,24%; quý III tăng 10,42%; quý IV tăng 7,29%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng 11,29% (quý I tăng 11,52%; quý II tăng 10,9%; quý III tăng 11,96%; quý IV tăng 10,86%), đóng góp 2,33 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,14%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 1,29% sau 3 năm giảm liên tục[12] do khai thác dầu thô có mức giảm 7,7% so với năm trước và khai thác than, quặng kim loại đều tăng cao, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2019 tăng 7,6% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 10,1% (sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 10,2% và sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 10,1%).

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2019 tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất kim loại tăng 28,6%; khai thác quặng kim loại tăng 25,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 21%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 11,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế cùng tăng 11,6%; khai thác than cứng và than non tăng 11,5%; dệt tăng 11,4%; sản xuất đồ uống tăng 10,5%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 6,6%, là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2015[13]; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 6,5%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 6,1%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 3,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 2,7%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 1,9%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 0,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 2,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,7% (khai thác dầu thô giảm 7,7%, khai thác khí đốt tự nhiên tăng 2%); sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 5,1%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm nay tăng cao so với năm trước: Sắt, thép thô tăng 33,4%; xăng, dầu tăng 22,2%; thép thanh, thép góc tăng 19,2%; ti vi tăng 15,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 13,8%; phân u rê tăng 13%; điện thoại di động tăng 12,3%; than sạch tăng 11,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên và sơn hóa học cùng tăng 11,4%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ: Thuốc lá điếu tăng 2,7%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 2%; sữa bột tăng 0,2%; phân hỗn hợp NPK tăng 0,1%; thức ăn cho gia súc giảm 1,3%; khí hóa lỏng LPG giảm 3,4%; dầu mỏ thô khai thác giảm 7,7%; xe máy giảm 8,1%; đường kính giảm 13,7%; linh kiện điện thoại giảm 13,8%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2019 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5% so với năm trước (năm 2018 tăng 12,4%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 18,4%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 15,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12,4%; sản xuất đồ uống tăng 10,7%; dệt tăng 10,2%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất trang phục tăng 6,2%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 5,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 5,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 5,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 4,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,4%; sản xuất phương tiện vận tải khác (mô tô, xe máy) giảm 7,8% và sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 16%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2019 tăng 13,6% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 14,1%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 52,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 24,6%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 19,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 12,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 8,2%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 21,3%; sản xuất đồ uống tăng 21,9%; dệt tăng 47,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 47,8%; sản xuất kim loại tăng 48,9%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 77,2%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 141,1%.

 Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2019 đạt 68,8%[14] (năm 201864,4%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 99,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 89,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm rơm rạ và vật liệu tết bện 88,1%; sản xuất, chế biến thực phẩm 81,5%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế 75,8%; sản xuất thiết bị điện 67,6%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2019 tăng 1,1% so cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,8% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,3%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện cùng tăng 3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1%.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Năm 2019, doanh nghiệp thành lập mới tăng cả về số lượng, vốn đăng ký và số lao động so với năm 2018. Trong đó, số doanh nghiệp thành lập mới năm nay đạt mức kỷ lục 138,1 nghìn doanh nghiệp, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,5 tỷ đồng, mức cao nhất trong những năm trở lại đây, dự báo sức khỏe tốt hơn của các doanh nghiệp mới ra nhập thị trường. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp tiếp tục lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2020 với 84,9% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[15]

Trong tháng 12/2019, cả nước có 11.418 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 155,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 117,3 nghìn lao động, giảm 6,9% về số doanh nghiệp, tăng 11,3% về vốn đăng ký và tăng 4,2% về số lao động so với tháng 11/2019[16]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 13,6 tỷ đồng, tăng 19,6% so với tháng trước và giảm 43,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước còn có 3.466 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; 2.050 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 3,3% và tăng 8,2%; 6.504 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 53,8% và tăng 60,6%; 1.868 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,7% và tăng 28,6%; 6.026 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 95,6% và tăng 67,4%.

Tính chung năm 2019, cả nước có 138,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.730,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.254,4 nghìn lao động, tăng 5,2% về số doanh nghiệp, tăng 17,1% về vốn đăng ký và tăng 13,3% về số lao động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2019 đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước. Nếu tính cả 2.273 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 40,1 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2019 là 4.003,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 39,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 15,9% so với năm 2018, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2019 lên 177,5 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có gần 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, năm nay có hơn 2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 9,9% so với năm 2018; 36,5 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 5,3%; 99,5 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 5,1%. Lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: sản xuất phân phối điện, nước, gas tăng 50,5% so với năm 2018; vận tải kho bãi tăng 47,6%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 14,1%; kinh doanh bất động sản tăng 11,6%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,2%; giáo dục và đào tạo tăng 7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,2%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 6,1%; xây dựng tăng 1,6%. Bên cạnh đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có số doanh nghiệp thành lập mới giảm 20,8% so với năm 2018; khai khoáng và dịch vụ lưu trú, ăn uống cùng giảm 2,1%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy giảm 0,6%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 0,1%.

Cũng trong năm 2019, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 28,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,9% so với năm trước; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 43,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 41,7%, trong đó có 17,7 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018, 14,5 nghìn doanh nghiệp thông báo giải thể và 11,5 nghìn doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể với cơ quan thuế.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2019 là 16,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,2% so với năm trước, trong đó có 15,2 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 2,4%; 212 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 0,5%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 6,8 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1,8 nghìn doanh nghiệp; xây dựng có 1,6 nghìn doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 686 doanh nghiệp; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 208 doanh nghiệp. Trong năm 2019, trên cả nước còn có 46,8 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 43,4% so với năm trước.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2019 cho thấy: Có 46,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 17% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 36,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[17]. Dự kiến quý I/2020 so với quý IV/2019, có 48,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 15,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan nhất khi có tới 88,6% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2020 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2019; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 81,1% và 83,7%.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý IV/2019, có 60,5% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 46,7% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 31,3% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 31,5% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 27,1% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 26,7% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 22,7% số doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu.

Về khối lượng sản xuất, có 48% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2019 tăng so với quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 34,6% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[18]. Xu hướng quý I/2020 so với quý IV/2019, có 46,9% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 15,2% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định. Xu hướng 6 tháng đầu năm 2020 so với 6 tháng cuối năm 2019, có 89,3% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng và ổn định; 10,7% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.

Về đơn đặt hàng, có 43,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV/2019 cao hơn quý trước; 16,7% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 40,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[19]. Xu hướng quý I/2020 so với quý IV/2019, có 44,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 14,3% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,6% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định. Số lượng đơn đặt hàng mới được dự báo khả quan hơn trong 6 tháng đầu năm 2020 so với 6 tháng cuối năm 2019 khi có tới 90,1% số doanh nghiệp dự báo tăng và giữ ổn định số lượng đơn đặt hàng; chỉ có 9,9% số doanh nghiệp dự báo giảm.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý IV năm nay so với quý trước, có 35,3% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 16,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 48,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý I/2020 so với quý IV/2019, có 37,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 13,4% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,8% số doanh nghiệp dự kiến ổn định. Xu hướng 6 tháng đầu năm 2020 so với 6 tháng cuối năm 2019, có 91,5% số doanh nghiệp dự báo có số đơn đặt hàng xuất khẩu tăng và ổn định; 8,5% số doanh nghiệp dự báo giảm.

5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ của cả nước năm 2019 tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng khá. Lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2019 tăng cao 11,8% so với năm trước, mức tăng cao nhất giai đoạn 2016-2019[20].

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Hai ước tính đạt 433,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.287,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 971,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% và tăng 13,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 152 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% và tăng 10,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 12,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% và tăng 11,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% và tăng 11,3%.

Năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.940,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,2% (năm 2018 tăng 8,4%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2019 đạt 3.751,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 12,7% so với năm trước. Trong đó, ngành hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 14,4%; lương thực, thực phẩm tăng 13,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,3%; may mặc tăng 10,9%; phương tiện đi lại tăng 7,8%. Một số địa phương có mức tăng khá: Đà Nẵng tăng 15,8%; Thanh Hóa tăng 15,3%; Hải Phòng tăng 15,1%; Nghệ An và Hà Nội cùng tăng 13,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,7%; Cần Thơ tăng 13,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm nay ước tính đạt 586,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng mức và tăng 9,8% so với năm trước, trong đó Bình Định tăng 19,9%; Quảng Bình tăng 16,3%; Lâm Đồng tăng 16,1%; Thanh Hóa tăng 15,9%; Quảng Ninh tăng 15,7%; Hải Phòng tăng 14,9%; Khánh Hòa tăng 13,7%; Đà Nẵng tăng 13,6%; Hà Nội tăng 12,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành năm 2019 ước tính đạt 46 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 12,1% so với năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá: Nam Định tăng 18%; Quảng Ninh tăng 17,1%; Bình Định tăng 16,2%; Thanh Hóa tăng 15,4%; Nghệ An tăng 13,6%; Khánh Hòa tăng 13,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,3%; Hải Phòng tăng 7,9%; Hà Nội tăng 7,4%; Đà Nẵng tăng 5,0%.

Doanh thu dịch vụ khác năm 2019 ước tính đạt 556,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3% tổng mức và tăng 8,5% so với năm 2018, trong đó doanh thu của Bình Định tăng 17%; Lâm Đồng tăng 14,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13%; Bình Thuận tăng 12,5%; Hải Phòng tăng 11,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,9%; Hà Nội tăng 8,1%; Đà Nẵng tăng 6,9%.

b) Vận tải và viễn thông

Hoạt động vận tải năm 2019 đạt mức tăng khá so với năm trước, trong đó vận tải đường bộ và hàng không đều tăng trên 10% do được chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, đảm bảo kết nối thuận tiện giữa các địa phương và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Hoạt động viễn thông năm 2019 đạt mức tăng khá về doanh thu nhờ thị trường những tháng cuối năm sôi động trở lại sau thời gian dài ở trạng thái bão hòa.

Vận tải hành khách tháng Mười Hai ước tính đạt 464,8 triệu lượt khách, tăng 4,2% so với tháng trước và 22,3 tỷ lượt khách.km, tăng 3,7%; quý IV năm nay vận tải hành khách đạt 1.342,4 triệu lượt khách, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước và 71,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,9%. Tính chung cả năm 2019, vận tải hành khách đạt 5.143,1 triệu lượt khách, tăng 11,2% so với năm trước và 248,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%, trong đó vận tải trong nước đạt 5.125,6 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 195,6 tỷ lượt khách.km, tăng 11,4%; vận tải ngoài nước đạt 17,5 triệu lượt khách, tăng 8,1% và 52,9 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hành khách đường bộ năm 2019 đạt 4.871,6 triệu lượt khách, tăng 11,5% so với năm trước162,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11,3%; đường thủy nội địa đạt 200,6 triệu lượt khách, tăng 5,6% và 4 tỷ lượt khách.km, tăng 7%; đường hàng không đạt 55,3 triệu lượt khách, tăng 11,3% và 77,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11,4%; đường biển đạt 7,6 triệu lượt khách, tăng 5,6% và 464,9 triệu lượt khách.km, tăng 7%; riêng vận tải đường sắt giảm cả về vận chuyển và luân chuyển, đạt 8 triệu lượt khách, giảm 6,9% 3,2 tỷ lượt khách.km, giảm 9,9%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Hai ước tính đạt 149,9 triệu tấn, tăng 2,4% so với tháng trước và 28,6 tỷ tấn.km, tăng 2%; quý IV năm nay vận tải hàng hóa ước tính đạt 435,2 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và 83,6 tỷ tấn.km, tăng 8,5%. Tính chung năm 2019, vận tải hàng hóa đạt 1.684,1 triệu tấn, tăng 9,7% so với năm trước và 322,2 tỷ tấn.km, tăng 7,8%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.650 triệu tấn, tăng 9,8% và 179,4 tỷ tấn.km, tăng 10,4%; vận tải ngoài nước đạt 34,1 triệu tấn, tăng 4,3% và 142,8 tỷ tấn.km, tăng 4,7%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ năm 2019 đạt 1.293,1 triệu tấn, tăng 11% so với năm 201886,5 tỷ tấn.km, tăng 11,2%; đường thủy nội địa đạt 303,4 triệu tấn, tăng 5,6% và 63,4 tỷ tấn.km, tăng 6,4%; đường biển đạt 82 triệu tấn, tăng 5,9% và 167,3 tỷ tấn.km, tăng 7%; đường sắt đạt 5,2 triệu tấn, giảm 9,1% và 3,8 tỷ tấn.km, giảm 6,8%; đường hàng không đạt 448,5 nghìn tấn, tăng 10,6% và 1.169 triệu tấn.km, tăng 10,2%.

Hoạt động viễn thông duy trì mức tăng khá với doanh thu quý IV/2019 ước tính đạt 104,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,4%); tính chung cả năm 2019 đạt 383,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2018 (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,2%). Tại thời điểm cuối năm 2019, tổng số thuê bao điện thoại ước tính là 133,1 triệu thuê bao, giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 129,5 triệu thuê bao, giảm 0,7% và thuê bao cố định đạt 3,6 triệu thuê bao, giảm 15,2%. Nguyên nhân chủ yếu do các nhà mạng thực hiện quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc xử lý sim rác, quản lý thuê bao điện thoại di động và nhu cầu sử dụng điện thoại cố định ngày càng giảm. Ước tính tại thời điểm cuối năm 2019, số thuê bao truy nhập internet băng rộng cố định đạt 14,8 triệu thuê bao, tăng 13,9% so với cùng thời điểm năm 2018, trong đó thuê bao truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) và qua hệ thống cáp truyền hình (CATV) vẫn tăng nhanh, thuê bao truy nhập qua hình thức xDSL tiếp tục giảm.

c) Khách quốc tế đến Việt Nam

Năm 2019 đánh dấu thành công của du lịch Việt Nam với lượng khách quốc tế đạt trên 18 triệu lượt người, cao nhất từ trước đến nay. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá, chất lượng du lịch đang có những cải thiện tích cực nhằm tạo sức hút đối với khách quốc tế, Việt Nam tiếp tục giữ vững danh hiệu "Điểm đến hàng đầu châu Á" năm thứ hai liên tiếp do Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) 2019 bình chọn.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai ước tính đạt 1.710,2 nghìn lượt người, giảm 5,5% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường bộ tăng 3,4%; bằng đường biển tăng 65,5% và đến bằng đường hàng không giảm 8,2%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai tăng 24,4%, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 26,2%; bằng đường bộ tăng 11,1% và đường biển tăng mạnh 189,9%. Trong tháng, khách đến từ Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất với 82,3% tổng số khách quốc tế đến nước ta (riêng Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 57,5%) và tăng 28,9% so với cùng kỳ năm trước; từ châu Âu chiếm 10,7% và tăng 7,1%; từ châu Mỹ chiếm 4,8% và tăng 12,1%; từ châu Úc chiếm 1,9% và giảm 4,2%; từ châu Phi chiếm 0,3% và tăng 9,6%.

Tính chung năm 2019, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 18.008,6 nghìn lượt người, tăng 16,2% so với năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 14.377,5 nghìn lượt người, chiếm 79,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 15,2%; bằng đường bộ đạt 3.367 nghìn lượt người, chiếm 18,7% và tăng 20,4%; bằng đường biển đạt 264,1 nghìn lượt người, chiếm 1,5% và tăng 22,7%.

Trong năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 14.386,3 nghìn lượt người, chiếm 79,9% tổng số khách quốc tế, tăng 19,1% so với năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Trung Quốc đạt 5.806,4 nghìn lượt người, tăng 16,9%; Hàn Quốc 4.290,8 nghìn lượt người, tăng 23,1%; Nhật Bản 952 nghìn lượt người, tăng 15,2%; Đài Loan 926,7 nghìn lượt người, tăng 29,8%; Ma-lai-xi-a 606,2 nghìn lượt người, tăng 12,2%; Thái Lan 509,8 nghìn lượt người, tăng 45,9%. Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số khách đến nước ta giảm: Lào đạt 98,5 nghìn lượt người, giảm 17,9%; Hồng Công đạt 36,8 nghìn lượt người, giảm 40,8%.

Khách đến từ châu Âu năm 2019 ước tính đạt 2.168,2 nghìn lượt người, tăng 6,4% so với năm trước và tăng ở hầu hết các thị trường, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 646,5 nghìn lượt người, tăng 6,6%; Vương quốc Anh 315,1 nghìn lượt người, tăng 5,7%; Pháp 287,7 nghìn lượt người, tăng 2,9%; Đức 226,8 nghìn lượt người, tăng 6%; riêng Phần Lan giảm 5,7% với lượng khách đến Việt Nam đạt 21,5 nghìn lượt người.

Khách đến từ châu Mỹ năm nay ước tính đạt 973,8 nghìn lượt người, tăng 7,7% so với năm 2018, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 746,2 nghìn lượt người, tăng 8,6%. Khách đến từ châu Úc đạt 432,4 nghìn lượt người, giảm 1,2% so với năm trước, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 383,5 nghìn lượt người, giảm 0,9%. Khách đến từ châu Phi đạt 48 nghìn lượt người, tăng 12,2% so với năm 2018.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Năm 2019, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay cơ bản ổn định; hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển an toàn và bền vững, bảo đảm khả năng chi trả bồi thường và quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm; thị trường chứng khoán huy động vốn cho nền kinh tế với tổng mức vốn đạt 313,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm trước.

Tính đến ngày 20/12/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,1% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 11,3%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,5% (cùng kỳ năm 2018 tăng 11,5%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế tăng 12,1% (cùng kỳ năm 2018 tăng 13,3%).

Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các văn bản điều chỉnh giảm lãi suất có hiệu lực từ ngày 19/11/2019. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm từ 6,5%/năm xuống 6%/năm. Nhiều ngân hàng thương mại đã đồng loạt công bố giảm lãi suất cho vay góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Hiện mặt bằng lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,2%-0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%-5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,6%-7,5%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên; tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2019 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 25%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10%. Ước tính doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2019 đạt 160,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ đạt 107,8 nghìn tỷ đồng, tăng 25,1%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ đạt 52,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6%.

Thị trường chứng khoán năm 2019 có nhiều đóng góp trong việc huy động vốn cho nền kinh tế với tổng mức huy động vốn đạt 313,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm trước. Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 24/12/2019, chỉ số VNIndex đạt 958,88 điểm, tăng 7,4% so với cuối năm 2018; mức vốn hóa thị trường (tính đến 17/12/2019) đạt 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 10,3%; giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2019 đến nay đạt 4.651 tỷ đồng/phiên, giảm 29% so với bình quân năm 2018. Hiện nay, thị trường cổ phiếu có 748 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 862 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt gần 1.384 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cuối năm 2018.

 Trên thị trường trái phiếu, hiện có 509 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.162 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2018. Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân từ đầu năm đến nay đạt 89.266 hợp đồng/phiên, tăng 13% so với bình quân giao dịch năm 2018. Tại thời điểm cuối tháng 11 năm 2019, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh đạt 89.795 tài khoản, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 55,7% so với cuối năm 2018.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2019 đạt mức tăng 10,2% so với năm 2018, trong đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 17,3% với tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư lớn nhất từ trước đến nay (46%). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giữ đà phát triển, số vốn thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây[21]. Riêng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chưa cải thiện nhiều, đạt 89,5% kế hoạch năm, tăng 5,8% so với năm trước, mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2019[22].

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý IV/2019 theo giá hiện hành ước tính đạt 669,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 2,3%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,7%.

Ước tính năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt 2.046,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm trước và bằng 33,9% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 634,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 31% tổng vốn và tăng 2,6% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 942,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 46% và tăng 17,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 469,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 23% và tăng 7,9%.

 

Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

giai đoạn 2016-2019 (Theo giá hiện hành)

%

 

Tổng số

Khu vực
Nhà nước

Khu vực
ngoài Nhà nước

Khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

 

Tốc độ phát triển

Năm 2016

108,9

107,3

109,5

110,4

Năm 2017

112,3

106,9

117,1

112,8

Năm 2018

111,2

103,8

118,5

109,8

Năm 2019

110,2

102,6

117,3

107,9

Cơ cấu

Năm 2016

100,0

37,5

38,9

23,6

Năm 2017

100,0

35,7

40,6

23,7

Năm 2018

100,0

33,3

43,3

23,4

Năm 2019

100,0

31,0

46,0

23,0

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2019 ước tính đạt 342,9 nghìn tỷ đồng, bằng 89,5% kế hoạch năm và tăng 5,8% so với năm trước (năm 2018 bằng 92,1% và tăng 12,2%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 51,9 nghìn tỷ đồng, bằng 85,3% kế hoạch năm và giảm 12% so với năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 291 nghìn tỷ đồng, bằng 90,3% kế hoạch năm và tăng 9,8% so với năm trước, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 196,8 nghìn tỷ đồng, bằng 86,8% kế hoạch năm và tăng 7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 79,3 nghìn tỷ đồng, bằng 97,4% và tăng 15,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 14,9 nghìn tỷ đồng, bằng 105,1% và tăng 20,4%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20/12/2019 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018. Trong đó có 3.883 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 16,7 tỷ USD, tăng 27,5% về số dự án và giảm 6,8% về số vốn đăng ký so với năm trước; 1.381 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5,8 tỷ USD, giảm 23,6%; 9.842 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 15,5 tỷ USD, tăng 56,4%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần có 2.136 lượt làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp gần 9,2 tỷ USD và 7.706 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị vốn góp là 6,3 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2019 ước tính đạt 20,4 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm trước.

Trong năm 2019, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án đạt 12.093,1 triệu USD, chiếm 72,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1.818 triệu USD, chiếm 10,8%; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 880,8 triệu USD, chiếm 5,3%; các ngành còn lại đạt 1.953,7 triệu USD, chiếm 11,7%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm đạt 17.475,1 triệu USD, chiếm 77,5% tổng vốn đăng ký; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1.160,1 triệu USD, chiếm 5,1%; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1.124,2[23] triệu USD, chiếm 5%; các ngành còn lại đạt 2.787,7 triệu USD, chiếm 12,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 7.086,7 triệu USD, chiếm 45,8% tổng giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2.751,8 triệu USD, chiếm 17,8%; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1.428 triệu USD, chiếm 9,2%; các ngành còn lại đạt 4.205,1 triệu USD, chiếm 27,2%.

Trong số 81 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư trực tiếp được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm 2019, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 3.668,8 triệu USD, chiếm 21,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) đạt 2.811,9 triệu USD, chiếm 16,8%; Trung Quốc 2.373,4 triệu USD, chiếm 14,2%; Xin-ga-po 2.100,9 triệu USD, chiếm 12,5%; Nhật Bản 1.820,7 triệu USD, chiếm 10,9%; Đài Loan 860,6 triệu USD, chiếm 5,1%; Thái Lan 562,3 triệu USD, chiếm 3,4%; Xa-moa 543,1 triệu USD, chiếm 3,2%.

Đầu tư của Việt nam ra nước ngoài trong năm nay có 164 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 403,1 triệu USD; có 29 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 105 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) trong năm 2019 đạt 508,1 triệu USD, trong đó lĩnh vực bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 121,6 triệu USD, chiếm 23,9% tổng vốn đầu tư; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 86,1 triệu USD, chiếm 16,9%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 70,1 triệu USD, chiếm 13,8%; hoạt động kinh doanh bất động sản 59,3 triệu USD, chiếm 11,7%. Trong năm 2019 có 32 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Ô-xtrây-li-a là nước dẫn đầu với 154,6 triệu USD, chiếm 30,4%; Hoa Kỳ 93,4 triệu USD, chiếm 18,4%; Cam-pu-chia 73,7 triệu USD, chiếm 14,5%; Tây Ban Nha 59,8 triệu USD, chiếm 11,8%; Xin-ga-po 48,1 triệu USD, chiếm 9,5%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước năm 2019 (tính đến ngày 15/12) đạt dự toán năm, trong đó thu tiền sử dụng đất, thu từ dầu thô và thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu vượt mức dự toán, các khoản thu quan trọng khác như thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, thu thuế thu nhập cá nhân... cũng đạt trên 90% dự toán năm. Chi ngân sách năm 2019 đáp ứng các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2019 ước tính đạt 1.414,3 nghìn tỷ đồng, bằng 100,2% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.146,2 nghìn tỷ đồng, bằng 97,7%; thu từ dầu thô 53,3 nghìn tỷ đồng, bằng 119,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 210,2 nghìn tỷ đồng, bằng 111,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 151,7 nghìn tỷ đồng, bằng 85,4% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 191,4 nghìn tỷ đồng, bằng 89,5%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 218,6 nghìn tỷ đồng, bằng 90,5%; thu thuế thu nhập cá nhân 104,4 nghìn tỷ đồng, bằng 92,2%; thu thuế bảo vệ môi trường 56,6 nghìn tỷ đồng, bằng 82,1%; thu tiền sử dụng đất 130,4 nghìn tỷ đồng, bằng 144,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2019 ước tính đạt 1.316,4 nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 927,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8%; chi đầu tư phát triển 246,7 nghìn tỷ đồng, bằng 57,5%; chi trả nợ lãi 99,3 nghìn tỷ đồng, bằng 79,5%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2019 ước tính đạt 516,96 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước. Năm 2019 ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế trong nước trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng đạt tới 17,7%, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (4,2%). Cán cân thương mại hàng hóa năm 2019 ước tính xuất siêu 9,9 tỷ USD, mức cao nhất trong 4 năm liên tiếp xuất siêu.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 11/2019 đạt 22.793 triệu USD, cao hơn 193 triệu USD so với số ước tính, trong đó sắt thép cao hơn 91 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 73 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 58 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2019 ước tính đạt 21,80 tỷ USD, giảm 4,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,32 tỷ USD, giảm 2,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,48 tỷ USD, giảm 5,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Hai tăng 10,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8,6%.

Trong qIV/2019, kim ngạch xuất khẩu đạt 68,8 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018 và giảm 4,6% so với quý III năm nay. Trong quý IV có 9 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện dẫn đầu với 13 tỷ USD, chiếm 18,9%, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 10 tỷ USD, tăng 28%; hàng dệt may đạt 8 tỷ USD, giảm nhẹ 0,9%.

Tính chung cả năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 82,10 tỷ USD, tăng 17,7%, chiếm 31,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,35 tỷ USD, tăng 4,2%, chiếm 68,8% (tỷ trọng giảm 2,5 điểm phần trăm so với năm trước).

Trong năm 2019 có 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (6 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63,4%), trong đó điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 51,8 tỷ USD, chiếm 19,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 5,3% so với năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 35,6 tỷ USD, tăng 20,4%; hàng dệt may đạt 32,6 tỷ USD, tăng 6,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 18,3 tỷ USD, tăng 11,9%; giày dép đạt 18,3 tỷ USD, tăng 12,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,5 tỷ USD, tăng 18,2%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 95%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 82,3%; giày dép chiếm 76,5%; hàng dệt may chiếm 58,9%. Do giá xuất khẩu bình quân của nhiều mặt hàng nông sản giảm so với năm trước nên kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng nông, thủy sản năm nay đều giảm: Thủy sản đạt 8,6 tỷ USD, giảm 2,4%; rau quả đạt 3,8 tỷ USD, giảm 1,1%; hạt điều đạt 3,3 tỷ USD, giảm 2,6% (lượng tăng 21,5%); cà phê đạt 2,8 tỷ USD, giảm 21,2% (lượng giảm 13,9%); gạo đạt 2,8 tỷ USD, giảm 9,9% (lượng tăng 2,5%); hạt tiêu đạt 722 triệu USD, giảm 4,9% (lượng tăng 23,4%). Riêng cao su đạt 2,3 tỷ USD, tăng 10% (lượng tăng 8,9%); chè đạt 236 triệu USD, tăng 8,8% (lượng tăng 8,1%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2019, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 133 tỷ USD, tăng 8,7% so với năm trước, chiếm 50,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,3 điểm phần trăm so với năm 2018). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 101 tỷ USD, tăng 11,3% và chiếm 38,3% (tăng 1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 20,9 tỷ USD, giảm 4,1% và chiếm 7,9% (giảm 1 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 8,6 tỷ USD, giảm 2,4% và chiếm 3,3% (giảm 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 60,7 tỷ USD, tăng 27,8% so với năm trước; tiếp đến là thị trường EU đạt 41,7 tỷ USD, giảm 0,7%; Trung Quốc đạt 41,5 tỷ USD, tăng 0,2%; thị trường ASEAN đạt 25,3 tỷ USD, tăng 1,9%; Nhật Bản đạt 20,3 tỷ USD, tăng 7,7%; Hàn Quốc đạt 19,8 tỷ USD, tăng 8,3%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 11/2019 đạt 21.339 triệu USD, thấp hơn 1.161 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện thấp hơn 279 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 229 triệu USD; sắt thép thấp hơn 113 triệu USD; dầu thô thấp hơn 107 triệu USD; vải thấp hơn 75 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2019 ước tính đạt 22,80 tỷ USD, tăng 6,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,15 tỷ USD, tăng 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,65 tỷ USD, tăng 7,6%. So với cùng kỳ năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Hai tăng 11%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 16,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,6%.

Trong quý IV/2019, kim ngạch nhập khẩu đạt 66 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước và giảm nhẹ 0,8% so với quý III năm nay. Trong quý IV có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,2% tổng trị giá nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt giá trị cao nhất với 13,3 tỷ USD (chiếm 20,1% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu), tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2018; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,8 tỷ USD, tăng 9,2%; điện thoại và linh kiện đạt 4 tỷ USD, giảm 18%; vải đạt 3,6 tỷ USD, tăng 7,1%.

Tính chung năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 253,51 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 108,01 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 145,50 tỷ USD, tăng 2,5%.

Trong năm 2019 có 37 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm tới 90,6% tổng kim ngạch nhập khẩu (4 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 45,8%), trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 51,6 tỷ USD (chiếm 20,3% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 19,5% so với năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 36,6 tỷ USD, tăng 11,4%; điện thoại và linh kiện đạt 14,7 tỷ USD, giảm 7,9%; vải đạt 13,3 tỷ USD, tăng 4,4%; sắt thép đạt 9,5 tỷ USD, giảm 4,2%; chất dẻo đạt 9 tỷ USD, giảm 0,8%; ô tô đạt 7,4 tỷ USD, tăng 37,3%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2019, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 231,2 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm trước và chiếm 91,2% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,3 điểm phần trăm so với năm 2018), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 111,7 tỷ USD, tăng 9,9% và chiếm 44,1% (tăng 1,2 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 119,5 tỷ USD, tăng 3,8% và chiếm 47,1% (giảm 1,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 22,3 tỷ USD, tăng 10,8% và chiếm 8,8% (tăng 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 75,3 tỷ USD, tăng 14,9% so với năm trước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 47,3 tỷ USD, giảm 0,6%; thị trường ASEAN đạt 32,1 tỷ USD, tăng 0,8%; Nhật Bản đạt 19,6 tỷ USD, tăng 3%; thị trường EU đạt 14,8 tỷ USD, tăng 6,4%; Hoa Kỳ đạt 14,3 tỷ USD, tăng 12,3%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười Một xuất siêu 1,5 tỷ USD[24]; 11 tháng xuất siêu 10,9 tỷ USD; tháng Mười Hai ước tính nhập siêu 1 tỷ USD. Ước tính năm 2019 xuất siêu 9,9 tỷ USD[25], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,9 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 35,8 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý IV/2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2018; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,9 tỷ USD, tăng 2,8%.

Trong năm 2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 16,6 tỷ USD, tăng 12,6% so với năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 11,8 tỷ USD (chiếm 71,1% tổng kim ngạch), tăng 17,4% (do số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong quý IV/2019 tăng mạnh dẫn đến xuất khẩu dịch vụ du lịch tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước); dịch vụ vận tải đạt 2,9 tỷ USD (chiếm 17,7%), tăng 2,2%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm nay ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 2,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,1 tỷ USD (chiếm 47,6% tổng kim ngạch), tăng 3,2%; dịch vụ du lịch đạt 6,2 tỷ USD (chiếm 32,2%), tăng 4,1%. Nhập siêu dịch vụ năm 2019 là 2,5 tỷ USD, bằng 14,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

5. Chỉ số giá

Giá thịt lợn và thực phẩm chế biến từ thịt lợn tăng cao do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2019 tăng 1,4% so với tháng trước, mức tăng cao nhất của chỉ số giá tháng Mười Hai trong 9 năm gần đây. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của Chính phủ trong việc kiên định chính sách tiền tệ linh hoạt, giữ vững mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô nên CPI bình quân năm 2019 chỉ tăng 2,79%, thấp nhất trong 3 năm qua.

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2019 tăng 1,4% so với tháng trước, đây là mức tăng cao nhất trong 9 năm qua[26]. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Mười Hai tăng so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 3,42%, chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng 4,41%[27] (làm CPI chung tăng 1%); lương thực tăng 0,45%[28]; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,44% do ảnh hưởng của nhóm thực phẩm tăng (làm CPI chung tăng 0,22%). Nhóm giao thông tăng 0,61% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 30/11/2019 và điều chỉnh giảm vào thời điểm 16/12/2019 làm giá xăng, dầu tăng 1,27% (tác động làm CPI chung tăng 0,05%). Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,43% do giá gas trong nước tăng 1,03% và giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,37%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; giáo dục và dịch vụ giáo dục đều tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,09% so với tháng trước.

Tính chung quý IV/2019, CPI tăng 2,01% so với quý trước và tăng 3,66% so với quý IV/2018, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,87% so với cùng kỳ năm trước (dịch vụ y tế tăng 8,63%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,78% (thực phẩm tăng 7,72%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,58%; lương thực tăng 0,63%); giáo dục tăng 4,24% (dịch vụ giáo dục tăng 4,28%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,92%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,21%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,66%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,6%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,13%. Hai nhóm có CPI giảm là giao thông giảm 0,64% và bưu chính viễn thông giảm 0,61%.

CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79% so với bình quân năm 2018, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra, đây cũng là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 3 năm qua[29]; CPI tháng 12/2019 tăng 5,23% so với tháng 12/2018. CPI bình quân năm 2019 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá điện sinh hoạt điều chỉnh tăng theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương, cùng với nhu cầu tiêu dùng điện tăng vào dịp Tết và thời tiết nắng nóng trong quý II/2019 và quý III/2019 làm cho giá điện sinh hoạt tăng 8,38%; (ii) Các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư số 13/2019/TT-BYT và Thông tư số 14/2019/TT-BYT làm giá dịch vụ y tế tăng 4,65% (tác động làm CPI chung tăng 0,18%); (iii) Tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2019 tăng 6,11% so với năm 2018 (tác động làm CPI tăng 0,32%); (iv) Việc tăng giá sách giáo khoa năm học 2019-2020 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam làm chỉ số giá nhóm văn phòng phẩm tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước; (v) Ngoài ra còn một số yếu tố về thị trường, như giá nhóm hàng thực phẩm tăng 5,08% (giá thịt lợn bình quân năm 2019 tăng 11,79%); giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng khoảng 1,79%; quần áo may sẵn các loại tăng 1,7%; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,02%; giá du lịch trọn gói tăng 3,04% và một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt, thép…

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI năm 2019, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Giá xăng, dầu trong nước chịu ảnh hưởng của biến động giá nhiên liệu trên thị trường thế giới. Tính từ thời điểm 1/1/2019 đến thời điểm 20/12/2019, giá dầu Brent bình quân năm 2019 trên thị trường thế giới giảm 10,28% so với năm 2018, theo đó giá xăng, dầu trong nước giảm 3,13% (làm CPI chung giảm 0,15%); giá gas sinh hoạt trong nước điều chỉnh giảm 5,98%; giá đường giảm 3,17%; (ii) Các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp đảm bảo cân đối cung cầu, chuẩn bị tốt nguồn hàng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương, điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2019 tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2019 tăng 2,01% so với bình quân năm 2018.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2019 giảm 0,36% so với tháng trước; tăng 16,23% so với cùng kỳ năm 2018; bình quân năm 2019 tăng 7,55% so với năm 2018. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2019 giảm 0,19% so với tháng trước và giảm 0,77% so với cùng kỳ năm 2018; bình quân năm 2019 tăng 0,99% so với năm 2018.

c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2019 tăng 3,91% so với quý trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 5,37% và tăng 2,36%; lâm nghiệp tăng 0,11% và tăng 1,4%; thủy sản giảm 0,02% và tăng 0,51%. Tính chung cả năm 2019, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,31% so với năm 2018, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 1,18%; lâm nghiệp tăng 2,83%; thủy sản tăng 1,56%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý IV giảm 0,07% so với quý trước và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 0,29% và giảm 2,18%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,03% và tăng 0,08%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,4% và tăng 6,41%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74% và tăng 2,78%. Tính chung cả năm, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,25% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 1,86%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,86%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,7%.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý IV tăng 0,31% so với quý trước và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ vận tải, kho bãi giảm 0,87% và tăng 1,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,47% và tăng 2,89%; giáo dục và đào tạo tăng 1,71% và tăng 3,91%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,61% và tăng 5,43%. Tính chung cả năm 2019, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,94% so với năm 2018, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,69%; vận tải, kho bãi tăng 2,92%; giáo dục và đào tạo tăng 6,13%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 3,10%.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý IV năm nay tăng 0,28% so với quý trước và tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 1,36% và giảm 1,81%; nhóm nhiên liệu giảm 4,67% và giảm 10,91%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,71% và tăng 5,46%. Chỉ số giá xuất khẩu quý IV so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Rau quả tăng 3,26% và tăng 9,27%; dệt may tăng 2,68% và tăng 2,86%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,71% và tăng 0,27%; điện thoại và thiết bị di động tăng 0,09% và tăng 17,46%; dầu thô giảm 6,27% và giảm 13,74%; sản phẩm chất dẻo giảm 4,95% và giảm 4,44%; hạt điều giảm 3,48% và giảm 6,4%. Tính chung cả năm 2019, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 3,01% so với năm 2018, trong đó nông sản, thực phẩm giảm 0,44%; nhiên liệu giảm 1,85%; hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 3,7%. Chỉ số giá xuất khẩu năm 2019 của một số mặt hàng: Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 10,7%; điện thoại và thiết bị di động tăng 9,81%; rau quả tăng 8,8%; hạt tiêu giảm 9,66%; gạo giảm 7,94%; hạt điều giảm 3,98%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý IV năm nay giảm 0,09% so với quý trước và tăng 0,05% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,55% và tăng 1,06%; nhóm nhiên liệu tăng 0,54% và giảm 8,61%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,09% và tăng 0,43%. Chỉ số giá nhập khẩu quý IV của một số mặt hàng như sau: Khí đốt hóa lỏng tăng 5,13% so với quý trước và giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước; vải may mặc các loại tăng 2,22% và tăng 4,13%; hóa chất giảm 1,92% và giảm 3,06%; cao su giảm 1,67% và giảm 6,95%. Tính chung cả năm 2019, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,59% so với năm 2018, trong đó nông sản, thực phẩm tăng 1,37%; nhiên liệu giảm 4,99%; hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,82%. Chỉ số giá nhập khẩu năm 2019 của một số mặt hàng: Rau quả tăng 8,46%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 6,99%; khí đốt hóa lỏng giảm 18,75%; cao su giảm 7,61%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[30] quý IV năm nay tăng 0,36% so với quý trước và tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2019, tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 2,41% so với năm 2018, trong đó tỷ giá thương mại mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 9,54%; cao su tăng 7,97%; xăng, dầu các loại tăng 6,35%; sắt, thép tăng 3,08%; thủy sản giảm 4,31%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 2,38%; hóa chất giảm 0,83%.

 

 

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2019 là 96,48 triệu người, trong đó tỷ trọng dân số sống ở khu vực thành thị tiếp tục xu hướng tăng lên. Chất lượng dân số được cải thiện, tuổi thọ trung bình tăng, tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong mẹ và trẻ em giảm mạnh. Tình hình lao động, việc làm năm 2019 của cả nước có sự chuyển biến tích cực, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm, số người có việc làm tăng, thu nhập của người lao động làm công hưởng lương có xu hướng tăng. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm nhanh, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số lao động của nền kinh tế.

Dân số trung bình năm 2019[31] của cả nước ước tính 96,48 triệu người, tăng 1.098,8 nghìn người, tương đương tăng 1,15% so với năm 2018. Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2016-2019 là 1,13%. Trong tổng dân số, dân số thành thị 33,46 triệu người, chiếm 34,7%; dân số nông thôn 63,02 triệu người, chiếm 65,3%; dân số nam 48,02 triệu người, chiếm 49,8%; dân số nữ 48,46 triệu người, chiếm 50,2%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2019 là 99,1 nam/100 nữ.

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tổng tỷ suất sinh năm 2019 đạt 2,09 con/phụ nữ và ở dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 111,5 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 16,3‰; tỷ suất chết thô là 6,3‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 21‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2019 là 73,6 năm, trong đó nam là 71 năm và nữ là 76,3 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2019 ước tính là 56,1 triệu người, tăng 472,2 nghìn người so với quý trước và tăng 501,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 29,1 triệu người, chiếm 51,9% tổng số và lao động nữ 27 triệu người, chiếm 48,1%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 18,9 triệu người, chiếm 33,6%; khu vực nông thôn là 37,2 triệu người, chiếm 66,4%. Tính chung cả năm 2019, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,8 triệu người, tăng 417,1 nghìn người so với năm 2018. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2019 ước tính đạt 76,5%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với năm trước.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý IV/2019 ước tính là 49,4 triệu người, tăng 278,7 nghìn người so với quý trước và tăng 442,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 26,8 triệu người, chiếm 54,2% tổng số và lao động nữ 22,6 triệu người, chiếm 45,8%; lao động khu vực thành thị là 17,4 triệu người, chiếm 35,3% và khu vực nông thôn là 32 triệu người, chiếm 64,7%. Tính chung cả năm 2019, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 49,1 triệu người, tăng 527,7 nghìn người so với năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV/2019 ước tính 55 triệu người, bao gồm 18,6 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 33,8% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,4 triệu người, chiếm 29,9%; khu vực dịch vụ 20 triệu người, chiếm 36,3%. Tính chung cả năm 2019, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 54,7 triệu người, bao gồm 19 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 34,7% tổng số (giảm 3 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 16,1 triệu người, chiếm 29,4% (tăng 2,7 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,6 triệu người, chiếm 35,9% (tăng 0,3 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý IV/2019 ước tính là 1,98% (quý I là 2,00%; quý II là 1,98%; quý III là 1,99%). Tính chung năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp chung ước tính là 1,98%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,93%; khu vực nông thôn là 1,51%[32]. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý IV là 2,15% (quý I là 2,17%; quý II là 2,16%; quý III là 2,17%). Tính chung cả năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,16%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,65%